Giáo Phận Bà Rịa

 

Ṭa Giám Mục Giáo phận Bà Rịa

 

Địa chỉ : Thị Xă Bà Rịa, Bà Rịa Vũng Tàu  ( Bản đồ )

Tel         : (064) 825-705

 

E-mail    :

 

Web site :

 
Năm thành lập : 2005 Diện tích    : 1,975 Km2
Số Giáo dân    : 246,534 1.027.226
Số Giáo hạt     :  5 Số Giáo xứ : 78
Số Linh mục    : 164 (1/2013)  
Số Nam Tu sĩ  : 215 (1/2013) Số Nữ Tu sĩ : 568 (1/2013)

Tư liệu :  Lược sử Giáo phận Bà Rịa
                H́nh ảnh Giáo phận Bà Rịa - Album sinh hoạt
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Bà Rịa
                Danh sách Linh mục Giáo phận Bà Rịa
                Kỷ Yếu GP Bài Rịa - 5 năm thành lập

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh Giáng Sinh 2013 tại vàii Giáo xứ trong Giáo Phận Bà Rịa
* Giáo phận Bà Rịa: Đại lễ cung hiến Nhà thờ Chánh toà, (10/4/2010)

 

Lược sử Giáo phận Bà Rịa

A. Lược Sử Giáo Phận Bà Rịa

1. Địa Danh Bà Rịa

Bà Rịa xa xưa là đất Chiêm Thành gồm cả một vùng rộng lớn từ Biên Ḥa đến B́nh Thuận. Năm 650 – 655, vùng này bị Thủy Chân Lạp thôn tính và đặt tên là nước Lịa, Lục Địa Thiết; về sau người địa phương đọc trại ra là Bà Rịa theo thổ âm.

2. Địa Hạt Bà Rịa

Linh mục JB. Errard, thuộc Hội Thừa sai Paris, là cha xứ Bà Rịa từ năm 1874 đến 1887, đă tường tŕnh về địa hạt Bà Rịa có trước năm 1862. Địa hạt này gồm có năm họ đạo: Đất Đỏ là họ đạo chính có khoảng 1.100 giáo dân; Thôn bây giờ gọi là họ Long Tân có 500 giáo dân; Dinh bây giờ gọi là Phước Lễ (Bà Rịa) có 400 giáo dân; Thành bây giờ gọi là họ Long Điền có 200 giáo dân và G̣ Sầm có 100 giáo dân. Như thế, địa hạt Bà Rịa lúc đó chỉ có tổng cộng 2.300 giáo dân.

3. Đôi ḍng tóm lược sự h́nh thành giáo phận Bà Rịa

Giáo phận Bà Rịa được tách từ giáo phận Xuân Lộc năm 2005, là một trong các giáo phận đàn em, nhưng việc sống Tin Mừng đă phát triển tại đây rất sớm (khoảng năm 1698). Trên 300 năm h́nh thành và phát triển, nhờ ơn Chúa và sự góp sức chung ḷng của các thừa sai: ḍng Tên, Hội Thừa Sai Paris, thừa sai thuộc Thánh Bộ, ḍng Phanxicô, các linh mục, tu sĩ và giáo dân vùng Vũng Tàu – Bà Rịa đă viết nên trang sử của ḿnh và góp phần vào trang sử Giáo hội Việt Nam.

Từ sắc chỉ cấm đạo của nhà Nguyễn năm 1630-1665, và cuộc khai phá đất Phương Nam (1698), các Kitô hữu đến vùng đất Bar-Ya hay Ba-ria (Bà Rịa), Dou-nai (Đồng Nai), Ben-go (Bến Gỗ), Dat-do (Đất Đỏ)… để yên bề sinh sống và giữ đạo. Họ được các thừa sai ḍng Tên đi theo phục vụ. Năm 1670, ở Xích Lam (Đất Đỏ), gần Bà Rịa đă có gần 300 gia đ́nh Công giáo. Năm 1692, Đức cha F. Pérez kinh lư các họ đạo tại vùng Bến Gỗ. Theo Đức cha M. Labbé, năm 1670, “miền Đồng Nai có ít nhất trên 2.000 giáo dân”. Sự việc các cha ḍng Tên ở Đồng Nai, được cha Juan Antonio nhắc tới từ năm 1700, cụ thể năm 1738, cha Johann Grueber phục vụ 8.000 giáo hữu. Ngày 2-7-1740, Đức cha E.F. de la Baume (khâm sai Ṭa Thánh) ra nghị định phân chia địa sở cho các thừa sai hoạt động, trong đó Đồng Nai được trao cho các cha ḍng Tên coi sóc (trừ Bến Gỗ thuộc Hội Thừa Sai Paris). Theo cha Adrien Launay, năm 1747, vùng Đồng Nai có số giáo hữu như: Ben-go (Bến Gỗ) 200 giáo hữu thuộc Hội Thừa Sai Paris. Các cha ḍng Tên coi sóc: R. Dou-nai (Đồng Nai) 400, Ben-go (Bến Gỗ) 250, Da-lua 500, Ke-tat 70, Dou-mon 40, R. Moxoai (Mô Xoài) 400, Ba-ria (Bà Rịa) 140, Nui-nua (Núi Nứa) 50 và Đất Đỏ 380.

Năm 1844, giáo phận Đàng Trong được chia thành hai: Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Tây Đàng Trong (Saig̣n). Tây Đàng Trong gồm 6 tỉnh Nam Kỳ, xứ Cao Miên (Khơ Me) và các tỉnh phía Nam Ai Lao. Vùng đất Bà Rịa, Vũng Tàu, có đông giáo hữu thuộc giáo phận Tây Đàng Trong do Đức cha D. Lefèbvre Ngăi coi sóc.

Năm 1850, Ṭa Thánh tách trọn phần đất Khơ Me để thành lập giáo phận mới gọi là Nam Vang, trao cho Đức cha J.C. Miche Mịch coi sóc. Từ ngày phân chia giáo phận đến hết năm 1862, các thừa sai, linh mục, tu sĩ và giáo dân thuộc giáo phận Bà Rịa ngày nay đă phải gánh chịu cơn bách hại cách tàn khốc. Ngoài các bản án được triều đ́nh phê chuẩn cụ thể như vụ thiêu sinh 4 ngục: ngục Dinh (Phước Lễ), ngục Thơm (Long Kiên), ngục Thành (Long Điền) và ngục Đất Đỏ (Phước Thọ) gồm 700 người. Đêm 7-1-1862), nhà cầm quyền cho đốt bốn ngục thiêu sinh 444 giáo hữu thuộc 5 họ lẻ: Đất Đỏ, Thơm, Dinh, Thành, G̣ Sâm (Thạnh Mỹ) hạt Bà Rịa, các vị tử đạo được thừa sai Croc Ḥa và cha Trí mai táng trong ba ngôi mộ thập thể ngày 8-1-1862.

Năm 1924, giáo phận Tây Đàng Trong được đổi tên thành giáo phận Sàig̣n. Năm 1954, gần 800.000 người công giáo từ Bắc Việt di cư vào Nam và ở rải rác khắp các tỉnh từ miền Trung trở vào, một số rất đông đă tụ về miền Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tàu tạo nên các xứ đạo mới như Hố Nai, Gia Kiệm, Phương Lâm, Vũng Tàu… Năm 1960, Ṭa Thánh chia giáo phận Saig̣n thành 3 giáo phận: một giữ tên cũ giáo phận Saig̣n, giáo phận Đà Lạt và giáo phận Mỹ Tho. Vùng đất giáo phận Xuân Lộc thuộc giáo phận Saig̣n.

Ngày 14-10-1965, Đức Phaolô VI ban sắc chỉ tách giáo phận Saig̣n thành 3 giáo phận: giáo phận Saig̣n vẫn giữ tên cũ, giáo phận Phú Cường và giáo phận Xuân Lộc. Giáo phận Xuân Lộc gồm 3 tỉnh: Long Khánh, Biên Ḥa và Phước Tuy (Bà Rịa). Ṭa Thánh bổ nhiệm Đức cha Giuse Lê Văn Ấn làm giám mục tiên khởi. Khi thành lập, giáo phận Xuân Lộc gồm: 164.144 giáo dân trong tổng số dân 521.595 người với 133 giáo xứ, 135 linh mục triều, 19 linh mục ḍng, 50 tu sĩ (La San, Gioan Thiên Chúa, Xitô, Đa Minh), 200 nữ tu (Thánh Phaolô, Mến Thánh Giá, Đa Minh). Năm 1974, có 374.560 giáo hữu trên tổng số 1.048.164 dân cư với 155 giáo xứ, 218 linh mục triều, 25 linh mục ḍng, 97 đại chủng sinh, 215 tiểu chủng sinh, 109 tu sĩ, 949 nữ tu, 168 trường trung – tiểu học.

Đức cha Giuse Lê Văn Ấn đă mở mang giáo phận Xuân Lộc về mọi phương diện. Ngài đă xây dựng những cơ sở cần thiết cho giáo phận như ṭa Giám mục Xuân Lộc, chủng viện, Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Băi Dâu. Ngày 17-6-1974, ngài đă qua đời sau một cơn bạo bệnh.

Đức cha Đa Minh Nguyễn Văn Lăng được Ṭa Thánh chỉ định làm Giám mục Chính Ṭa Giáo phận Xuân Lộc ngày 11-8-1974. Từ giữa năm 1975, t́nh h́nh chính trị Việt Nam thay đổi, Đức cha Đa Minh đă sáng suốt lèo lái con thuyền giáo phận Xuân Lộc trong những khó khăn thử thách lớn lao.

V́ nhu cầu mục vụ của giáo phận Xuân Lộc ngày càng tăng, Đức cha Đa Minh, với sự chấp thuận của Ṭa Thánh, đă làm lễ tấn phong giám mục cho cha Phaolô Nguyễn Minh Nhật và đặt ngài làm Giám Mục phó Giáo phận Xuân Lộc ngày 16-7-1975.

Ngày 22-2-1988, Đức cha Đa Minh Nguyễn Văn Lăng đột ngột qua đời, Đức cha Nguyễn Minh Nhật lên làm giám mục chính ṭa Giáo phận Xuân Lộc trong thời kỳ đất nước đang đổi mới. Ngài đă tích cực xây dựng giáo phận, nhất là thúc đẩy phong trào học hỏi giáo lư trong toàn giáo phận, đào tạo Hội Đồng Giáo Xứ và đặc biệt đào tạo các ơn gọi linh mục.

Năm 1992, cha Tôma Nguyễn Văn Trâm được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc. Ngài được tấn phong ngày 7-5-1992.

Ngày 30-9-2004, Ṭa Thánh bổ nhiệm linh mục Đa Minh Nguyễn Chu Trinh làm giám mục chính ṭa Giáo phận Xuân Lộc. Ngày 11-11-2004, lễ tấn phong giám mục được tổ chức tại nhà thờ Chính ṭa Giáo phận Xuân Lộc, cũng ngày này Đức cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật chính thức nghỉ hưu.

Ngày 22 tháng 11 năm 2005, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đă thiết lập Tân Giáo Phận Bà Rịa, tách ra từ Giáo phận Xuân Lộc, thuộc Giáo Tỉnh Sài G̣n, vừa đồng thời bổ nhiệm Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm, làm Giám mục Chính toà tiên khởi của tân Giáo phận Bà Rịa. Nhà thờ giáo xứ Bà Rịa, được dâng kính hai thánh tông đồ Giacôbê và Philipphê, trở thành Nhà Thờ Chánh Toà.

Giáo phận Bà Rịa nằm trọn trong địa giới hành chính của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với diện tích 1.975 km2, dân cư 1.027.226 người, trong đó, số tín hữu công giáo chiếm khoảng 24,2% ( thống kê năm 2011). Số linh mục giáo phận là 106; số linh mục ḍng: 58, nam tu: 215, nữ tu: 568, chủng sinh: 50 và tu sinh: 102 ( thống kê tháng 01 năm 2013 ).

4. Kư Ức Hào Hùng của Giáo phận Bà Rịa

Khi quân đội Pháp, năm 1861, thôn tính Sài G̣n – Gia Định và sẵn sàng tấn công Vũng Tàu Bà Rịa, quan quân triều Nguyễn đă bắt giam các tín hữu cư ngụ tại địa hạt Bà Rịa vào bốn trại giam:

a. Trại giam chính ở Bà Rịa giam cầm 300 đàn ông. Ngày nay c̣n di tích là Nhà Mồ các vị tử đạo Bà Rịa.

b. Trại giam thứ hai ở Long Điền, giam cầm 135 người. C̣n vết tích là cây Thánh giá ở đất thánh họ Long Điền bây giờ.

c. Trại giam thứ ba ở họ Long Tân giam cầm 140 người.

d. Trại giam thứ tư là ở Đất Đỏ giam cầm 125 phụ nữ và trẻ em. Bây giờ c̣n mộ bia tại công viên Đất Đỏ.

Ngày 07 tháng 01 năm 1862, từ Vũng Tàu quân đội Pháp tiến công về Bà Rịa, quan quân triều Nguyễn trước khi rút lui đă thiêu sống các tín hữu ở cả bốn trại giam trên. Tổng số giáo dân bị chết thiêu là 444 người gồm có 288 đàn ông và 156 phụ nữ và trẻ em. Linh mục JB. Errard đă ghi bia đá danh sách 300 người và an táng chung tại huyệt mộ Bà Rịa. Ngôi Nhà thờ Mồ các vị tử đạo Bà Rịa vẫn tồn tại với năm tháng nơi quê hương này và đă trở thành chứng tích hào hùng của các chiến sĩ đức tin lấy máu ḿnh làm nảy sinh các tín hữu, lấy mạng sống ḿnh để vun đắp sự sống cho con cháu, là đức tin sống động đang lưu thông trong huyết quản từng tín hữu Bà Rịa hôm qua, hôm nay và măi về sau.

B. Địa Lư

1. Ranh giới:

Giáo Phận Bà Rịa nằm trọn trong địa giới hành chính của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với diện tích 1.975 km2. Phía Đông giáp giáo phận Phan Thiết. Phía Tây giáp giáo phận Saig̣n. Phía Nam giáp Biển Đông. Phía Bắc giáp giáo phận Xuân Lộc.

2. Sông Núi:

Thành phố Bà Rịa, tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, gồm núi thấp và đồng bằng nhỏ ở ven biển. Như núi Dinh 125m; núi Lé 265m… Trong tỉnh có sông Cỏ Chi, sông Ray, sông Cá…

Thành phố Vũng Tàu là một thành phố du lịch và dầu khí, có 4 ngọn núi chính là núi Ḥn Sụp cao 250m, núi Tương Kỳ 249m, núi Vũng Mây 240m và núi Tao Phùng 170m.

Sông lớn nhất là sông Dinh dài 11km, rạch Cây Khế dài 6km; rạch Bà dài 8km.

 

Nguồn : Website GP Bà Rịa

......................................

Đôi ḍng giới thiệu về tân giáo phận Bà Rịa

VietCatholic News (06/12/2005)  -  Tài liệu tham khảo

Vào tuần đầu tháng 9 năm 2005, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă họp Khóa Họp thường niên tại Trung Tâm Đức Mẹ Băi Dâu, Vũng Tầu. Trong khóa họp này Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chính thức đồng ư xin Ṭa Thánh thành lập một giáo phận mới tại Việt Nam có tên là Bà Rịa. Giáo phận này được chia đôi từ giáo phận Xuân Lộc.

Ngày 22 tháng 11 năm 2005, Đức Thánh Cha Beneđitô XVI chính thức phê chuẩn cho thành lập giáo phận mới Bà Rịa và Ngài bổ nhiệm Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm làm Giám Mục Chính Ṭa tiên khởi của tân Giáo Phận Bà Rịa. Nhà thờ Thánh Tông Đồ Giacôbê và Philipê ở Bà Rịa được chỉ định làm nhà thờ chánh ṭa của giáo phận mới.

Hôm qua ngày 5/12/2005, Đức Hồng Y Crescenzio đă đến Bà Rịa và cùng với Đức Cha Trâm và các đức cha Việt Nam khai trương giáo phận mới trong bầu khí trang trọng và sốt sắng. Nhân dịp này, ĐHY Sepe nói như sau:

“Việc thành lập một giáo phận nhắm thỏa măn những nhu cầu mục vụ của các tín hữu, đồng thời cũng nhắm đến việc xếp đặt các năng lực, ngơ hầu sinh họat truyền giáo được hữu hiệu hơn. Anh chị em có bổn phận thực hiện mục tiêu này. Xin anh chị em hăy nhớ lại niềm hăng say truyền giáo của những cộng đoàn kitô đầu tiên: "Mặc cho sự nghèo thiếu những phương tiện di chuyển và thông tin lúc đó, công việc rao giảng Tin Mừng trong thời gian ngắn đă đạt đến cùng khắp thế giới. Và đây là tôn giáo của một Người chịu chết trên thập giá, "gương mù đối với người do thái và là sự ngu dại đối với dân ngọai" (1 Co 1,23). Nơi nền tảng của sức sống truyền giáo này, có sự thánh thiện của những người kitô đầu tiên và sự thánh thiện của những cộng đoàn kitô đầu tiên".

Tân Giáo Phận Bà Rịa bao gồm lănh thổ của hai tỉnh Bà Rịa và Vũng Tàu, tổng cộng rộng 1,975 cây số vuông. Giáo phận mới có trung tâm Hành Hương Đức Mẹ Băi Dâu rất nổi tiếng và Tượng Đài Chúa Giêsu làm Vua trên Núi Vũng Tầu nh́n ra biển.

Tổng số dân quăng chừng là 910,000 người, trong đó có 225,000 người Công giáo (tức 25% tổng số) sinh hoạt trong 78 giáo xứ. Tân giáo phận có 67 linh mục triều và 35 linh mục ḍng. Có 192 nam tu sĩ và 406 nữ tu, và 61 đại chủng sinh đang học để lănh chức linh mục. (Trích từ tài liệu Giáo phận Xuân Lộc).

Vài nét về Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm:

Đức cha Tôma Trâm sinh ngày 09-01-1942 tại Phước Tuy, Bà Rịa, trong một gia đ́nh lễ giáo. Sau khi theo học tại Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài G̣n, ngài được thụ phong linh mục ngày 01-05-1969 tại Nhà Thờ Phước Lễ (Bàrịa), và được bổ nhiệm làm cha phó xứ Biên Ḥa. Một năm sau đó, ngài được gởi đi du học tại Rôma. Năm 1974 ngài tốt nghiệp tại Đại học Giáo Hoàng Urbaniana của Bộ Truyền Giáo với học vị Tiến sĩ Giáo Luật.

Trở về Việt Nam, ngài được Đức Cố Giám Mục Đaminh Nguyễn văn Lăng chọn làm Bí thư và được bổ nhiệm làm Cha Sở Giáo xứ Thánh Mẫu (nay là Giáo xứ Xuân Khánh), cạnh Ṭa Giám Mục, đồng thời kiêm các chức vụ Chánh án Ṭa án Hôn Phối và Quản lư Giáo phận. Ngài cũng là Giáo sư môn Giáo luật tại Đại chủng Viện Thánh Giuse Sàig̣n.

Ngày 06/03/1992, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc và ngày 07-05-1992, Đức Cha Phaolô-Maria Nguyễn Minh Nhật tấn phong giám mục cho ngài tại khuôn viên Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô. Khẩu hiệu giám mục: " Hiền lành và Khiêm nhường".

Lịch Sử vùng đất Bà Rịa Vũng Tầu và di sản Anh Hùng Tử Đạo:

Thế kỷ 13, Vũng Tầu là rừng rậm, có rải rác vài bản người Chàm và Khơme sống bằng nghề trồng lúa, săn bắn và đánh cá.

Vào thế kỷ thứ 15, khi vua Lê Thánh Tông thu phục đất Bồn Man, Lăo Qua và Chiêm Thành th́ các thương thuyền Bồ Đào Nha đă cập neo ở Vũng Tàu, người Bồ gọi nơi này là Cinco Chagas Verdareiras.

Thế kỷ 15-16 nơi đây đă trở thành chỗ tránh băo, cung cấp nước ngọt và đồ gỗ tốt cho các đoàn tàu Tây Phương trên đường đi qua Biển Đông.

Thế kỷ 17, thời Trịnh-Nguyễn phân tranh những cư dân miền Trung vào Bà Riạ sinh sống và cư dân Miền Bắc đi đường biển vào Vũng Tàu lập nghiệp ngày càng đông.

Tới thế kỷ 18, các chúa Nguyễn lấy đất Nam Ban, Thủy Chân Lạp, nhận đất dâng của Mạc Cửu (1714) mở rộng đất đai đến Châu Đốc, Hà Tiên. Đời Gia Long, hải tặc Măi Lai và Tàu Ô thường khuấy phá những thuyền buôn người Việt lưu thông giữa bờ biển Trung phần với Sài G̣n. Triều đ́nh cử ba đạo quân đến đóng ở mũi Vũng Tàu và đặt tên cho dinh trại đầu tiên là Phước Thắng. Vào đời Minh Mạng đổi các trấn thành tỉnh và Vũng Tàu thuộc huyện Phước An, phủ Phước Tuy, tỉnh Biên Ḥa.

Đầu thế kỷ 19, dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiêu Trị, Tự Đức, tất cả các bổn đạo đều gặp khó khăn thử thách của cuộc cấm đạo, giáo hưũ phải lén lút giữ đạo và khó khăn cực nhọc khi đưa dẫn các linh mục thừa sai hoặc bản xứ đi thăm giáo dân và cử hành bí tích.

Cho đến năm 1822, giặc cướp biển không c̣n dám héo lánh vùng này nữa. Để thưởng công, triều đ́nh cho ba vị Đội trưởng giải ngũ và cai quản ba vùng đất để khai phá, lập nghiệp. Ông Phạm Văn Đinh coi làng Thắng Nhứt, ông Lê Văn Lộc giữ làng Thắng Nh́ và ông Ngô Văn Huyền điều hành làng Thắng Tam. Tuy nhiên, dân chúng trong ba làng cũng lập thành lũy để ngăn ngừa giặc cướp trở lại. Ba làng này thuộc trấn Biên Ḥa.

Ngày 04-11-1847 sau khi vua Thiệu Trị qua đời, con thứ của vua Thiệu Trị là Hồng Nhậm Dục Tông lên ngôi, niên hiệu là Tự Đức. Vua Tự Đức đă ra chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa trên cả nước (đây là Chỉ dụ thứ 8, kể từ khi Minh Mạng ra chỉ dụ đầu tiên 11-1832) và chỉ dụ cuối cùng14-11-1861 của Tự Đức là khốc liệt nhất, v́ đặt ra biện pháp cấm đạo rất nặng là thắt cổ và tống giam tất cả các giáo hữu công giáo.

Phước Tuy là địa điểm tập trung gồm bốn ngục giam: Dinh Phước Lễ, Thành Long Điền-Đất Đỏ tại làng Phước Thọ và Thơm tại Long Kiên. Các tín hữu kitô bị tập trung giam giữ từ tháng 9-1861. Theo ("Phước Tuy máu lửa, Họ đạo Bà Rịa"- xb. 1962).

Ngày 07-01-1862, những người công giáo bị giam tại các ngục thất trên đă bị thiêu sống. (Theo sách "Quốc triều chính biên" Sử Địa- xbSG 1971).

Theo bản "Phúc tŕnh của Cha Errard", số giáo dân bị thiêu sống trong 4 nhà giam như sau: "Ngục Phước Lễ: giam 300 người, thiêu sống 288 người. Long Kiên: 135 người, chết thiêu 86 người. Long Điền: 140 người, chết thiêu 48. Phước Thọ: 125 người, chết thiêu 22 người. Tổng số chết thiêu là 444 người trong 4 nhà giam, đàn ông là 288 và đàn bà trẻ em là 156 người".

Qua ḥa ước Nhâm Tuất 1862, triều đ́nh Tự Đức giao ba tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường cho quân Pháp. Tỉnh Biên Ḥa chia thành ba tỉnh là Bà Rịa, Biên Ḥa và Thủ Dầu Một; trong đó, Vũng Tàu thuộc Bà Rịa.

Ngày 1.5.1895, Pháp tách Vũng Tàu khỏi Bà Rịa để lập tỉnh thứ 21, gồm các xă: Thắng Nhứt, Thắng Nh́, Thắng Tam và Sơn Long. Riêng quận Cần Giờ có các xă: Cần Thạnh, Long Thạnh, Đồng Ḥa, Thạnh An và Tân Thạnh (nằm trên cù lao Phú Lợi, cạnh khu Rừng Sác) cũng thuộc tỉnh Vũng Tàu.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có nói về địa danh Vũng Tàu, dịch từ chữ Thuyền Úc. “Thuyền” có nghĩa là ghe tàu, “Úc” là nơi nước ăn thông vào đất liền. Đây là vùng cho ghe thuyền lánh băo. Trước đây, một số người thường gọi Ô Cấp là Vũng Tàu. Về địa lư th́ không đúng. Trong thời Thời Pháp thuộc, nơi này đổi tên cũ Cinco Chagas của Bồ Đào Nha thành Saint Jacques, rồi đặt tên là "mũi đất Saint Jacques", tiếng Pháp là "Cap Saint Jacques". Tây hay nói "au Cap" nên có chữ "Ô Cấp" là vậy. Mũi đất này chính là mũi Nghinh Phong (Pháp dịch là Au Vent).

Ngày 9/2/1859, hạm đội quân Pháp và Tây Ban Nha đến Vũng Tàu. Sáng hôm sau, quan thống chế triều đ́nh là Trần Đồng ra lệnh thủy lục quân chuẩn bị nghinh chiến đoàn tàu của Pháp tiến vào đất liền. Khi đến cửa Vũng Tàu, quân Pháp tấn công bằng đại pháo như mưa vào các công sự của ta. Thống chế Trần Đồng đưa hàng trăm chiếc thuyền và hàng ngàn quân sĩ ra chống cự rất mănh liệt. Đến chiều, v́ hỏa lực của quân Pháp quá mạnh và v́ Trần Đồng tử trận, cửa Vũng Tàu bị xuyên thủng. Ngày 11/2, chiến thuyền Pháp tiến vào cửa Cần Giờ, bắt đầu kế hoạch đánh chiếm tỉnh Gia Định. Khi Pháp đặt chân lên đất Vũng Tàu, đồng bào làng xă đă theo nhà cách mạng Lê Tấn Thông kháng Pháp.

Năm 1888, khi Đồng Khánh mất, con Dục Đức là Bửu Lân bị Pháp ép lên ngôi là vua Thành Thái, lúc ông 18 tuổi. Vua tỏ ư kiên cường làm Pháp rất khó chịu và thường bí mật liên lạc với các nhà cách mạng trong Phong Trào Đông Du, khuyến khích việc đưa thanh niên ra nước ngoài học hỏi để dùng vào việc đại sự về sau.

Năm 1907, quân Pháp ḍ biết được việc này bèn ép vua thoái vị và đưa vào Vũng Tàu giam giữ ở Bạch Dinh (dinh Ông Thượng) đến 1915 th́ kín đáo đưa vua đi an trí tại đảo Réunion, Phi Châu. Đến tháng 5/1947, Pháp thả ông về nước và lại giam ông tại Vũng Tàu, măi tháng 3 năm 1953 mới được về thăm Huế và trở vào Sài G̣n, đến tháng 3 năm 1954 th́ mất.

Địa h́nh và tiềm năng phát triển kinh tế ở giáo phận mới

Khí hậu thuộc miền khí hậu gió mùa. Hai mùa chính gió mùa Đông Bắc: từ tháng 11 đến tháng 3, là mùa khô nắng. Mùa gió Tây Nam: từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa mưa. Giữa hai thời kỳ gió mùa này là hai thời kỳ chuyển tiếp: gió yếu và ngoài khơi có sóng nhỏ vào khoảng tháng 4 và tháng 10.

Vùng đất Bà Riạ Vũng Tàu là một vịnh biển lớn trông ra Biển Đông.Bà Riạ Vũng Tàu xưa kia là biển, dần dần do biển bồi đắp trở thành những băi lầy, trải qua bao ngày tháng đă trở thành đất liền. Bà Riạ Vũng Tàu có bờ biển trải dài thích hợp cho ngư nghiệp và ngành du lịch. Vũng Tàu có bờ biển dài 156 Km (nếu tính cả Côn Đảo là 300 Km), trong đó gần 80 Km là băi cát đẹp có thể sử dụng làm băi tắm. Tại Bà Rịa-Vũng Tàu, nhiệt độ trung b́nh 27oC, nhiều nắng gió nhưng hầu như không có băo.

Vùng Bà Rịa Vũng Tàu phần lớn là đất cát: có thể cấy lúa, trồng cây và hoa màu. Có nhiều đồi núi thấp. Núí Ḥn Sụp cao 250m. Núi Lớn cao 249m, núi Vũng Mây 240m, núi Nhỏ (c̣n gọi là núi Tao Phùng) cao 179m, núi Dung 125m, núi Le 265m, núi Mía 186m, núi Thị Vải 466m, núi Chóp Mao 338m, núi Hồ Linh 164m. Có nhiều đồi cát nhỏ chạy ṿng theo bờ biển.

Nhiều rạch như: rạch Bà 7,9 Km, rạch Cây Khế 6 Km, rạch Bến Đinh 5,5 Km, rạch Ông Nhu, rạch Sông Cái… con sông chính là sông Đinh dài 11Km. Ngoài ra c̣n có các sông khác như: sông Cỏ Chi, sông Ray, sông Tầu Bé, sông Cá, suối Lồ Ô…

Vũng Tầu có hải sản là nguồn lợi đáng kể của địa phương. Ngư trường hơn 100.000 Km2, kéo dài từ B́nh Thuận đến Cà Mau, cho phép khai thác từ 150.000 - 170.000 tấn hải sản/năm.

Ngoài những người Công giáo trong vùng Bà Rịa có một truyền thống đạo hạnh và được di truyền từ ḍng máu anh hùng tử đạo, đa số người Công Giáo trong miền chạy dài suốt bờ biển là những ngư phủ di cư từ Bắc hoặc miền Trung vào Nam năm 1954, họ sinh sống bằng nghề trồng trọt, làm muốn, đánh cá và chế biến hải sản. Người Công giáo tại đây có thể nói có cuộc sống tuy vất vả nhưng sung túc và rất nhiệt thành đạo đức.

Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay cũng phải đối mặt với những thách thức to lớn về mặt môi trường: ô nhiễm nước sông, cửa biển, ô nhiễm đất, rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp, diện tích rừng ngập mặn ngày một thu hẹp, xói lở bờ biển.

Thị xă Bà Rịa có những sắc thái đặc biệt ǵ?

Thị xă Bà Rịa là đơn vị hành chính được tách ra từ huyện Châu Thành từ năm 1994. Phía Bắc thị xă giáp huyện Châu Đức và một phần huyện Tân Thành; phía Nam giáp thành phố Vũng Tàu; phía Đông giáp huyện Long Điền; phía Tây giáp huyện Tân Thành. Tổng diện tích tự nhiên là 90,57 km2, mật độ dân số là 883 người/km2, có 8 đơn vị hành chính gồm 5 phường và 3 xă.

Theo thống kê trên trang Web Bà Rịa th́ Thị xă Bà Rịa có 738 cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp. Ngành nông nghiệp trồng trọt đă cơ bản h́nh thành được 3 vùng chuyên canh (vùng lúa, vùng cây ăn quả và cây công nghiệp, vùng rau).

Bà Rịa có khu Trung tâm thương mại và các phố chợ, đủ đáp ứng nhu cầu giao lưu buôn bán trước mắt và trong tương lai. Dịch vụ bưu chính viễn thông được mở rộng, hiện nay trên địa bàn thị xă trên 7.000 máy điện thoại. Trong 10 năm qua, thị xă đă làm mới, nâng cấp, cải tạo được hơn 90 km đường giao thông, xây 12 công tŕnh dịch vụ thương mại, 100 công tŕnh y tế, văn hóa, xă hội.

Thị xă Bà Rịa c̣n là một đầu mối giao thông buôn bán, có điều kiện phát triển thương mại và những ngành công nghiệp sử dụng khí đốt làm nguyên liệu và nhiên liệu. Hầu hết các tuyến giao thông đến tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đều chạy qua Thị xă Bà Rịa như QL 51, QL55, QL56 hiện nay và sau này là tuyến đường cao tốc Vũng Tàu-Saig̣n, tuyến đường sắt Vũng Tàu-Biên Ḥa, do vậy thị xă có thể phát triển dịch vụ vận tải, bến xe, buôn bán.

Tại đây cũng có Nhà máy điện Bà Rịa chạy bằng khí đốt công suất khoảng 327,8 MW. Cùng với Phú Mỹ, Bà Rịa sẽ là một trung tâm điện năng lớn. Hệ thống sản xuất nước sạch lớn nhất tỉnh nằm ở Bà Rịa với hai nhà máy nước ngầm và nước mặt công suất 43.000 m3/ngày đêm.

Bà Rịa c̣n sản xuất được gạch không nung, khai thác đá, sản xuất bê tông, bê tông nhựa đường, cơ khí xây dựng. Về hàng xuất khẩu, trên địa bàn thị xă có một nhà máy may giày, một nhà máy may túi xách, 2 nhà máy đông lạnh hải sản và một xí nghiệp may xuất khẩu.

Hiện nay Bà Rịa cũng đang có chương tŕnh hiện đại hóa nhà máy chế biến hải sản xuất khẩu, tiếp tục phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng, da giày, cơ khí, may mặc, chế biến thực phẩm, phát triển thương mại, khai thác tối đa hiệu quả của Trung tâm thương mại Bà Rịa.

Vài nét về Thị Xă Vũng Tầu

Theo tài liệu của ṭa thị chính Vũng Tầu th́ Vũng Tàu là một trung tâm dầu khí lớn nhất của Việt Nam, có Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro của ngành dầu khí Việt Nam Việt-Nga. Công nghiệp dầu khí chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp và có tính quyết định đối với tốc độ phát triển kinh tế trên địa bàn. Hiện nay, tuyệt đại đa số sản phẩm dầu mỏ và khí đốt của PetroVietnam cũng được khai thác tại vùng biển Vũng Tàu.

Vũng Tàu có Khu công nghiệp tập trung Đông Xuyên, nằm không xa trung tâm thành phố, rộng 160 ha đă được đầu tư chủ yếu các dự án dịch vụ dầu khí, dịch vụ hàng hải, sửa chữa tàu biển và các ngành công nghiệp không độc hại. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có hơn 40 công ty có vốn đầu tư nước ngoài, về các ngành dịch vụ dầu khí, du lịch và công nghiệp.

Ngoài ra, thành phố c̣n phát triển các ngành công nghiệp chế biến hải sản, may mặc- giày da xuất khẩu, thu hút hàng ngàn công nhân.

Với khí hậu mát mẻ, băi biển quanh năm có ánh mặt trời, nhiệt độ trung b́nh khoảng 27oC, Vũng Tàu là nơi nghỉ mát lư tưởng. Những băi cát dài, phẳng mịn, độ dốc thoai thoải, những con đường ṿng quanh chân Núi Lớn và Núi Nhỏ, nối liền các di tích và danh thắng nổi tiếng như ngọn Hải Đăng, tượng Chúa giang tay, Trung Tâm Đức Mẹ Băi Dâu, Niết bàn Tịnh xá, Bạch Dinh, Thích Ca Phật đài… là những yếu tố tạo ra lợi thế thu hút khách du lịch. Mỗi năm, Vũng Tàu đón b́nh quân ba triệu lượt du khách.

Vũng Tàu hiện có khoảng 4.500 nhà hàng-khách sạn, trong đó có 18 khách sạn đă được xếp hạng từ 1 đến 3 sao, với gần 1.300 pḥng đạt tiêu chuẩn đón khách quốc tế.

Nghề đánh cá và chế biến hải sản là một nghề truyền thống của Vũng Tàu. Với khoảng 1.400 phương tiện, tổng công hàng năm Vũng Tàu khai thác từ 42-45 ngàn tấn hải sản các loại.

Với vị trí là cửa ngơ của các tỉnh miền Đông Nam bộ hướng ra biển Đông, Vũng Tàu có tiềm năng lớn trong việc lưu thông hàng hóa bằng các tuyến đường bộ và đường thủy. Khối lượng hàng hóa do dịch vụ trên địa bàn vận chuyển số lượng khách luân chuyển khoảng 660.000 người/năm. Hệ thống cảng sông, cảng biển đă và đang tiếp tục được xây dựng. Trên sông Dinh hiện đă có 7 cảng lớn, có thể tiếp nhận được tàu từ 5-10 ngàn tấn. Hệ thống đường giao thông nội thành có tất cả khoảng 120 km.

Vũng Tàu có bệnh viện Lê Lợi với 250 giường bệnh, thành phố Cũng Tầu cũng có nhà thi đấu đa năng 3000 chỗ ngồi vừa khánh thành.

Hệ thống trường học bao gồm gần 30 nhà trẻ, hơn 20 trường tiểu học, 13 trường cấp II và III (trong đó có một trường chuyên cấp tỉnh). Tại Vũng Tàu, Trường Cao đẳng Cộng đồng do Hà Lan tài trợ đă chính thức hoạt động. Ngoài ra, trên địa bàn thành phố c̣n có phân hiệu của một số trường đại học như Đại học Mỏ Địa chất, Đại học Thủy sản Nha Trang, Đại học Ngoại ngữ Hà Nội, Đại học Hàng hải, Đại học Tài chính-Kế toán, Đại học Công nghệ TP Saig̣n. Trường đại học Kỹ thuật Swinburne Vabis (Australia) đang được triển khai tại Vũng Tàu.

LM Trần Công Nghị

.............................................

Vài nét về giáo phận mới Bà Rịa chia ra từ giáo phận Xuân Lộc

VietCatholic News (23/11/2005)   -  -  Tài liệu tham khảo

VŨNG TẦU -- Vào tuần đầu tháng 9 năm 2005, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đă họp Khoá Họp thường niên tại Trung Tâm Đức Mẹ Băi Dâu, Vũng Tầu. Khoá họp sẽ kết thức vào ngày 10/9/2005. Trong khoá họp này Hội Đồng Giám Mục Việt Nam chính thức đồng ư thành lập một giáo phận mới tại Việt Nam có tên là Bà Rịa. Giáo phận này được chia đôi từ giáo phận Xuân Lộc, và sẽ do Đức Cha Nguyễn văn Trâm làm giám mục tiên khởi. Giáo phận mới có trung tâm Hành Hương Đức Mẹ Băi Dâu rất nổi tiếng và Tượng Đài Chúa Giêsu làm Vua trên Núi Vũng Tầu nh́n ra biển.

Đức Cha Tôma Nguyễn văn Trâm

Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm sinh ngày 09-01-1942 tại Phước Tuy, Bà Rịa, trong một gia đ́nh lễ giáo.

Sau khi theo học tại Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài G̣n, ngài được thụ phong linh mục ngày 01-05-1969 tại Nhà Thờ Phước Lễ (Bàrịa), và được bổ nhiệm làm cha phó xứ Biên Hoà.

Một năm sau đó, ngài được gởi đi du học tại Rôma.

Năm 1974 ngài tốt nghiệp tại Đại học Giáo Hoàng Urbaniana của Bộ Truyền Giáo với học vị Tiến sĩ Giáo Luật.

Trở về Việt Nam, ngài được Đức Cố Giám Mục Đaminh Nguyễn văn Lăng chọn làm Bí thư và được bổ nhiệm làm Cha Sở Giáo xứ Thánh Mẫu (nay là Giáo xứ Xuân Khánh), cạnh Toà Giám Mục, đồng thời kiêm các chức vụ Chánh án Toà án Hôn Phối và Quản lư Giáo phận. Ngài cũng là Giáo sư môn Giáo luật tại Đại chủng Viện Thánh Giuse Sàig̣n.

Ngày 06/03/1992, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II bổ nhiệm ngài làm Giám mục phụ tá Giáo phận Xuân Lộc và ngày 07-05-1992, Đức Cha Phaolô-Maria tấn phong giám mục cho ngài tại khuôn viên Tiểu Chủng Viện Thánh Phaolô. Khẩu hiệu giám mục: " Hiền lành và Khiêm nhường".

T́m hiểu qua về Giáo phận Xuân Lộc với quá tŕnh h́nh thành Địa Dư: Khi mới thành lập (1965), Giáo Phận Xuân Lộc bao gồm 3 tỉnh: Long Khánh-Biên Hoà-Phước Tuy. Toà Giám Mục đặt tại Xuân Lộc, tỉnh lỵ Long Khánh. Ngày 01-08-1976, hành chánh được phân phối lại. Toàn giáo phận nằm trong tỉnh mới là Đồng Nai, trừ 3 giáo xứ: An B́nh 1, Đông Hoa, Nghĩa Sơn, thuộc tỉnh Sông Bé (B́nh Dương). Năm1979, Thành phố Vũng Tàu thuộc tỉnh Đồng Nai, được tách thành một đơn vị hành chánh biệt lập trực thuộc trung ương, mang tên Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo. Như thế, giáo phận Xuân lộc gồm: Tỉnh Đồng Nai, - Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo và - một phần huyện Thuân An, tỉnh Sông Bé. Năm1992, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu được thành lập gồm: Đặc Khu Vũng Tàu Côn Đảo và một số huyện vùng duyên haỉ của tỉnh Đồng nai.

1. VỊ TRÍ

* Giáo phận Xuân Lộc có h́nh ngũ giác không đều cạnh
* Đông giáp giáo phận Phan Thiết (tỉnh B́nh Thuận).
* Đông Bắc giáp giáo phận Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng).
* Tây Bắc giáp giáo phận Phú Cường (tỉnh B́nh Dương).
* Tây Nam giáp giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh.
* Nam giáp với Biển Đông.

Tổng diện tích là 8.414 Km2.

Bao gồm trọn vẹn 2 tỉnh: Đồng Nai: 5.886,4 Km2; Bà Riạ Vũng Tàu: 2. 012,65 Km2; và một phần tỉnh B́nh Dương: 529,95 Km2.

2. ĐẤT ĐAI VÀ KHÍ HẬU.

a. Đồng Nai: có 23,3% là đất đỏ Bazan (phe-ra-lit). 10% là đất ma-ga-lit. 12,3% là đất pheralit trên phiến sa thạch; phù hợp cho các loại cây công nghiệp và lương thực. Ngoài ra c̣n có nhiều loại đất khác như: phù sa cổ, đất cát vàng, có độ chịu lực cao, thích hợp cho việc xây dựng các khu công nghiệp. Nhiều đồi núi nhưng không cao lắm. Cao nhất la núi Chứa Chan (dân địa phương gọi là núi Giá Ray) cao 839m. núi Cam Tiên 441m, núi Bé Bạc 319m, núi Đồng Bác 236m, núi Bửu Long, núi Thuỳ Vân…Sông ng̣i cũng khá nhiều như sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Đồng Tranh, sông Xoài. Sông Đồng Nai dài 460 Km, đoạn chảy qua Đồng Nai dài 290 Km

Khí hậu của Đồng Nai thuộc miền nhiệt đới nóng ẩm đươc chia ra làm hai mùa khá rơ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến hết tháng 4. Nắng đủ, mưa nhiều, ít bị ảnh hưởng bởi thiên tai, băo lụt. Lượng mưa trung b́nh hàng năm từ 1800-2000 mm.

b. Bà Rịa Vũng Tàu: Phần lớn là đất cát: có thể cấy lúa, trồng cây và hoa màu. Có nhiều đồi núi thấp. Nuí Ḥn Sụp cao 250m. Núi Lớn cao 249m, núi Vũng Mây 240m, núi Nhỏ (c̣n gọi là núi Tao Phùng) cao 179m, núi Dung 125m, núi Le 265m, núi Mía 186m, núi Thị Vải 466m, núi Chóp Mao 338m, núi Hồ Linh 164m. Có nhiều đồi cát nhỏ chạy ṿng theo bờ biển. Nhiều rạch như: rạch Bà 7,9 Km, rạch Cây Khế 6 Km, rạch Bến Đinh 5,5 Km, rạch Ông Nhu, rạch Sông Cái… con sông chính là sông Đinh dài 11Km. Ngoài ra c̣n có các sông khác như: sông Cỏ Chi, sông Ray, sông Tầu Bé, sông Cá, suối Lồ Ô…

Bà Riạ Vũng Tàu có bờ biển trải dài thích hợp cho ngư nghiệp và ngành du lịch Khí hậu thuộc miền khí hậu gió mùa. Hai mùa chính gió mùa Đông Bắc: từ tháng 11 đến tháng 3, là mùa khô nắng. Mùa gió Tây Nam: từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa mưa. Giữa hai thời kỳ gió mùa này là hai thời kỳ chuyển tiếp: gió yếu và ngoài khơi có sóng nhỏ vào khoảng tháng 4 và tháng 10.

1. Trong bối cảnh Giáo Hội Việt Nam

Sau hơn một thế kỷ (1533-1659), hạt giống Tin Mừng được các nhà truyền giáo Ḍng Đaminh Bồ đào Nha và Ḍng Tên gieo vải trên quê hương đất Việt, Đức Thánh Cha Alexandrô VII đă công bố Sắc lệnh Super Cathedram Principis đề ngày 9/9/1959 thành lập hai giáo phận tông toà đầu tiên là Giáo phận Đàng Ngoài (Bắc Hà) vơí khoảng 80.000 tín hữu và bổ nhiệm Tân Giám mục Francois Pallu làm đại diện tông toà và Giáo phận Đàng Trong (Nam Hà) vơí khoảng 20.000 giáo dân được trao cho Tân Giám mục Đại diện tông toà Pierre Lambert de la Motte cai quản.

Hai mươi năm sau (1679), Giáo phận Đàng Ngoài được chia làm hai thành Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hànôị) và Đông Đàng Ngoài (Hải Pḥng). Và măi gần 200 năm sau (1844), Toà Thánh mới chia Giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận: Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) giao cho Đức Cha Cuenot Thể đảm trách và Tây Đàng Trong (Sàig̣n) được trao cho Đức Cha Miche Mịch cai quản. Lúc bấy giờ Giáo phận Sàig̣n gồm Nam Kỳ Lục tỉnh, xứ Cao Miên và các tỉnh phía nam Lào. Năm 1850, Toà Thánh thành lập giáo phận mới là Nam Vang, tách ra từ Giáo phận Tây Đàng Trong (Sàig̣n), và trao cho Đức Cha Mich Mịch.

Năm 1924, khi tên các giáo phận không c̣n gọi theo miền hay xứ nhưng theo tên hành chính, nơi vị Giám mục có cư sở, th́ lúc bấy giờ Giáo phận Tây Đàng Trong mới chính thức đựợc gọi là Giáo phận Sàig̣n. Năm 1954, hiệp định Genève phân chia hai miền Nam-Bắc dựa theo vĩ tuyến 17 và gần 800.000 người công giáo di cư từ Bắc vào Nam. Phần rất đông đă tập họp về vùng đất mầu mỡ của Đồng Nai và Bàrịa-Vũng Tàu tạo nên các xứ đạo toàn ṭng công giáo như các khu vực Hố nai, Tam Hiệp, Gia Kiệm, Phương Lâm, B́nh Giả, Long Hương, Bàrịa, Vũng Tàu. Số giáo dân tăng từ 8000 đến 160.000 người.

Ngày 24/11/1960 là điểm mốc quan trọng nhất của lịch sử Giáo hội Việt Nam khẳng định sự tiến triển và trưởng thành của Giáo Hội công giáo Việt Nam: Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam phân chia thành ba giáo tỉnh: Hànội, Huế và Sài g̣n; đồng thời phia chia Giáo phận Sàig̣n thành ba: Sàig̣n, ĐàLạt và Mỹ Tho.

Và ngày 14/10/1965, Đức Phaolô VI đă thành lập hai giáo phận mới tách ra từ Giáo phận Sàig̣n; đó là Phú Cường và Xuân Lộc. Giáo phận Xuân Lộc lúc bấy giờ bao gồm ba tỉnh Biên Hoà, Long Khánh và Phước Tuy. Toà Giám mục được đặt tại Xuân Lộc.

2. Xuân Lộc và các nét sinh hoạt tôn giáo trước khi được thành lập

Trước khi chính thức trở thành một giáo phận, tại địa bàn của Giáo phận Xuân Lộc đă hiện diện nhiều xứ đạo cổ xưa như: Đất Đỏ, Bà Rịa, Vũng Tàu (thuộc tỉnh Bà Riạ Vũng Tàu ngày nay) và sáu giáo xứ chung quanh Biên Hoà như: Biên Hoà, Mỹ hội, Phước Lư, Phước Khánh, Bến Gỗ, Dầu Giây (thuộc tỉnh Đồng Nai ngày nay) với 8.033 giáo hữu.Kể từ khi chính thức trở thành giáo phận, Xuân Lộc có số giáo dân tăng 160.000. Giáo phận Xuân lộc co nguồn gốc lịch sử khá lâu đời và đă trải qua một quá tŕnh h́nh thành lâu dài hơn trăm năm.

* Vùng đất Đồng Nai

Từ Mô Xoài-Bà Rịa, các thế hệ người Việt di dân với phương tiện chủ yếu là thuyền xuồng ngược ḍng Đồng Nai và cả đi bộ dọc theo sông tiến dần vào Đồng Nai. Các điểm định cư sớm nhất của họ là Nhơn Trạch-Long Thành-An Hoà-Bến Gỗ-Bầu Lâm-Cù Lao Phố-Cù Lao Tân Chánh-Cù Lao Ngô-Cù Lao Kinh- Cù lao Tân Triều. Các vùng ven núi cũng là nơi lưu dân Việt chọn làm nơi ở, bởi các nơi đó có điều kiện khai thác các nguồn lợi lâm sản như săn bắn, khai thác gỗ... Tiến tŕnh nhập cư của lưu dân người Việt vào đất Đồng Nai đă diễn ra liên tục trong suốt gần một thế kỷ. Năm1698 dưới sự bảo trợ của Chúa Nguyễn số người Việt từ miền Trung di dân vào Đồng Nai ngày càng đông. Năm1790, Nguyễn Ánh ra lệnh lập đồn điền, mộ dân khẩn hoang lập ấp và sử dụng binh lính khai phá đất đai, canh tác ở khu vực trú quân. Chính việc mở rộng khai phá bằng nhiều h́nh thức (đồn điền, dinh điền) đă tạo điều kiện để dân cư phát triển ở vùng Biên Hoà. Đầu thế kỷ XX, các công ty đồn điền cao su Đồng nai được thành lập. Họ đă chiêu mộ công nhân từ các làng quê miền Bắc và miền Trung,khiến vùng đất này cũng ngày càng đông dân.

* Vùng đất Bà Riạ Vũng Tàu

Đây là một vịnh biển lớn trông ra Biển Đông.Bà Riạ Vũng Tàu xưa kia là biển, dần dần do biển bồi đắp trở thành những băi lầy, trải qua bao ngày tháng đă trở thành đất liền. Thế kỷ XIII, nơi đây là rừng rậm, có rải rác vài bản người Chàm và Khơme sống bằng nghề trồng lúa, săn bắn và đánh cá. Thế kỷ XV-XVI nơi đây đă trở thành chỗ tránh băo, cung cấp nước ngọt và đồ gỗ tốt cho các đoàn tàu Tây Phương trên đường đi qua Biển Đông. Thế kỷ XVII, thời Trịnh-Nguyễn phân tranh những cư dân miền Trung vào Bà Riạ sinh sống và cư dân Miền Bắc đi đường biển vào Vũng Tàu lập nghiệp ngày càng đông. Đầu thế kỷ XIX, dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Thiêu Trị, Tự Đức, tất cả các bổn đạo đều gặp khó khăn thử thách của cuộc cấm đạo, giáo hưũ phải lén lút giữ đạo và khó khăn cực nhọc khi đưa dẫn các linh mục thừa sai hoặc bản xứ đi thăm giáo dân và cử hành bí tích. Ngày 04-11-1847 sau khi vua Thiệu Trị qua đời, con thứ của vua Thiệu Trị là Hồng Nhậm Dục Tông lên ngôi, niên hiệu là Tự Đức. Vua Tự Đức đă ra chỉ dụ cấm đạo Thiên Chúa trên cả nước (đây là Chỉ dụ thứ 8, kể từ khi Minh Mạng ra chỉ dụ đầu tiên 11-1832) và chỉ dụ cuối cùng14-11-1861 của Tự Đức là khốc liệt nhất, v́ đặt ra biện pháp cấm đạo rất nặng là thắt cổ và tống giam tất cả các giáo hữu công giáo. Phước Tuy là địa điểm tập trung gồm bốn ngục giam: Dinh Phước Lễ, Thành Long Điền-Đất Đỏ tại làng Phước Thọ và Thơm tại Long Kiên. Các tín hữu kitô bị tập trung giam giữ từ tháng 9-1861 (Phước Tuy máu lửa, Họ đạo Bà Rịa- xb. 1962). Ngày 07-01-1862, những người công giáo bị giam tại các ngục thất trên đă bị thiêu sống. ("Quốc triều chính biên" Sử Địa- xbSG 1971). Theo bản "Phúc tŕnh của Cha Errard", số giáo dân bị thiêu sống trong 4 nhà giam như sau: Ngục Phước Lễ: giam 300 người, thiêu sống 288 người. Long Kiên: 135 người, chết thiêu 86 người. Long Điền: 140 người, chết thiêu 48. Phước Thọ: 125 người, chết thiêu 22. Tổng số chết thiêu là 444 người trong 4 nhà giam, đàn ông là 288 và đàn bà trẻ em là 156 người. * (Tham khảo tài liệu của Giáo Phận Xuân Lộc)

VietCatholic News (23/11/2005)

..............................................

Lược Sử

Giáo Phận Bà Rịa

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

A. Lược Sử Giáo Phận Bà Rịa

 

1. Địa Danh Bà Rịa

 

Bà Rịa xa xưa là đất Chiêm Thành gồm cả một vùng rộng lớn từ Biên Ḥa đến B́nh Thuận. Năm 650 - 655, vùng này bị Thủy Chân Lạp thôn tính và đặt tên là nước Lịa, Lục Địa Thiết; về sau người địa phương đọc trại ra là Bà Rịa theo thổ âm.

 

2. Địa Hạt Bà Rịa

 

Linh mục JB. Errard, thuộc Hội Thừa sai Paris, là cha xứ Bà Rịa từ năm 1874 đến 1887, đă tường tŕnh về địa hạt Bà Rịa có trước năm 1862. Địa hạt này gồm có năm họ đạo: Đất Đỏ là họ đạo chính có khoảng 1,100 giáo dân; Thôn bây giờ gọi là họ Long Tân có 500 giáo dân; Dinh bây giờ gọi là Phước Lễ (Bà Rịa) có 400 giáo dân; Thành bây giờ gọi là họ Long Điền có 200 giáo dân và G̣ Sầm có 100 giáo dân. Như thế, địa hạt Bà Rịa lúc đó chỉ có tổng cộng 2,300 giáo dân.

 

3. Đôi ḍng tóm lược sự h́nh thành giáo phận Bà Rịa

 

Giáo phận Bà Rịa được tách từ giáo phận Xuân Lộc năm 2005, là một trong các giáo phận đàn em, nhưng việc sống Tin Mừng đă phát triển tại đây rất sớm (khoảng năm 1698). Trên 300 năm h́nh thành và phát triển, nhờ ơn Chúa và sự góp sức chung ḷng của các thừa sai: ḍng Tên, Hội Thừa Sai Paris, thừa sai thuộc Thánh Bộ, ḍng Phanxicô, các linh mục, tu sĩ và giáo dân vùng Vũntàu Bà Rịa đă viết nên trang sử của ḿnh và góp phần vào trang sử Giáo hội Việt Nam.

Từ sắc chỉ cấm đạo của nhà Nguyễn năm 1630-1665, và cuộc khai phá đất Phương Nam (1698), các Kitô hữu đến vùng đất Bar-Ya hay Ba-ria (Bà Rịa), Dou-nai (Đồng Nai), Ben-go (Bến Gỗ), Dat-do (Đất Đỏ)... để yên bề sinh sống và giữ đạo. Họ được các thừa sai ḍng Tên đi theo phục vụ. Năm 1670, ở Xích Lam (Đất Đỏ), gần Bà Rịa đă có gần 300 gia đ́nh Công giáo. Năm 1692, Đức cha F. Pérez kinh lư các họ đạo tại vùng Bến Gỗ. Theo Đức cha M. Labbé, năm 1670, "miền Đồng Nai có ít nhất trên 2,000 giáo dân". Sự việc các cha ḍng Tên ở Đồng Nai, được cha Juan Antonio nhắc tới từ năm 1700, cụ thể năm 1738, cha Johann Grueber phục vụ 8,000 giáo hữu. Ngày 2-7-1740, Đức cha E.F. de la Baume (khâm sai Ṭa Thánh) ra nghị định phân chia địa sở cho các thừa sai hoạt động, trong đó Đồng Nai được trao cho các cha ḍng Tên coi sóc (trừ Bến Gỗ thuộc Hội Thừa Sai Paris). Theo cha Adrien Launay, năm 1747, vùng Đồng Nai có số giáo hữu như: Ben-go (Bến Gỗ) 200 giáo hữu thuộc Hội Thừa Sai Paris. Các cha ḍng Tên coi sóc: R. Dou-nai (Đồng Nai) 400, Ben-go (Bến Gỗ) 250, Da-lua 500, Ke-tat 70, Dou-mon 40, R. Moxoai (Mô Xoài) 400, Ba-ria (Bà Rịa) 140, Nui-nua (Núi Nứa) 50 và Đất Đỏ 380.

Năm 1844, giáo phận Đàng Trong được chia thành hai: Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Tây Đàng Trong (Saig̣n). Tây Đàng Trong gồm 6 tỉnh Nam Kỳ, xứ Cao Miên (Khơ Me) và các tỉnh phía Nam Ai Lao. Vùng đất Bà Rịa, Vũng Tàu, có đông giáo hữu thuộc giáo phận Tây Đàng Trong do Đức cha D. Lefèbvre Ngăi coi sóc.

Năm 1850, Ṭa Thánh tách trọn phần đất Khơ Me để thành lập giáo phận mới gọi là Nam Vang, trao cho Đức cha J.C. Miche Mịch coi sóc. Từ ngày phân chia giáo phận đến hết năm 1862, các thừa sai, linh mục, tu sĩ và giáo dân thuộc giáo phận Bà Rịa ngày nay đă phải gánh chịu cơn bách hại cách tàn khốc. Ngoài các bản án được triều đ́nh phê chuẩn cụ thể như vụ thiêu sinh 4 ngục: ngục Dinh (Phước Lễ), ngục Thơm (Long Kiên), ngục Thành (Long Điền) và ngục Đất Đỏ (Phước Thọ) gồm 700 người. Đêm 7-1-1862), nhà cầm quyền cho đốt bốn ngục thiêu sinh 444 giáo hữu thuộc 5 họ lẻ: Đất Đỏ, Thơm, Dinh, Thành, G̣ Sâm (Thạnh Mỹ) hạt Bà Rịa, các vị tử đạo được thừa sai Croc Ḥa và cha Trí mai táng trong ba ngôi mộ thập thể ngày 8-1-1862.

Năm 1924, giáo phận Tây Đàng Trong được đổi tên thành giáo phận Saig̣n. Năm 1954, gần 800,000 người Công Giáo từ Bắc Việt di cư vào Nam và ở rải rác khắp các tỉnh từ miền Trung trở vào, một số rất đông đă tụ về miền Xuân Lộc Bà Rịa Vũng Tàu tạo nên các xứ đạo mới như Hố Nai, Gia Kiệm, Phương Lâm, Vũng Tàu... Năm 1960, Ṭa Thánh chia giáo phận Saig̣n thành 3 giáo phận: một giữ tên cũ giáo phận Saig̣n, giáo phận Đà Lạt và giáo phận Mỹ Tho. Vùng đất giáo phận Xuân Lộc thuộc giáo phận Saig̣n.

Ngày 14-10-1965, Đức Phaolô VI ban sắc chỉ tách giáo phận Saig̣n thành 3 giáo phận: giáo phận Saig̣n vẫn giữ tên cũ, giáo phận Phú Cường và giáo phận Xuân Lộc. Giáo phận Xuân Lộc gồm 3 tỉnh: Long Khánh, Biên Ḥa và Phước Tuy (Bà Rịa). Ṭa Thánh bổ nhiệm Đức cha Giuse Lê Văn Ấn làm giám mục tiên khởi. Khi thành lập, giáo phận Xuân Lộc gồm: 164,144 giáo dân trong tổng số dân 521,595 người với 133 giáo xứ, 135 linh mục triều, 19 linh mục ḍng, 50 tu sĩ (La San, Gioan Thiên Chúa, Xitô, Đa Minh), 200 nữ tu (Thánh Phaolô, Mến Thánh Giá, Đa Minh). Năm 1974, có 374,560 giáo hữu trên tổng số 1,048,164 dân với 155 giáo xứ, 218 linh mục triều, 25 linh mục ḍng, 97 đại chủng sinh, 215 tiểu chủng sinh, 109 tu sĩ, 949 nữ tu, 168 trường trung - tiểu học.

Đức cha Giuse Lê Văn Ấn đă mở mang giáo phận Xuân Lộc về mọi phương diện. Ngài đă xây dựng những cơ sở cần thiết cho giáo phận như ṭa giám mục Xuân Lộc, chủng viện, Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Băi Dâu. Ngày 17-6-1974, ngài đă qua đời sau một cơn bạo bệnh.

Đức cha Đa Minh Nguyễn Văn Lăng được Ṭa Thánh chỉ định làm giám mục Chính Ṭa Giáo phận Xuân Lộc ngày 11-8-1974. Từ giữa năm 1975, t́nh h́nh chính trị Việt Nam thay đổi, Đức cha Đa Minh đă sáng suốt lèo lái con thuyền giáo phận Xuân Lộc trong những khó khăn thử thách lớn lao.

V́ nhu cầu mục vụ của giáo phận Xuân Lộc ngày càng tăng, Đức cha Đa Minh, với sự chấp thuận của Ṭa Thánh, đă làm lễ tấn phong giám mục cho cha Phaolô Nguyễn Minh Nhật và đặt ngài làm giám mục phó giáo phận Xuân Lộc ngày 16-7-1975.

Ngày 22-2-1988, Đức cha Đa Minh Nguyễn Văn Lăng đột ngột qua đời, Đức cha Nguyễn Minh Nhật lên làm giám mục chính ṭa giáo phận Xuân Lộc trong thời kỳ đất nước đang đổi mới. Ngài đă tích cực xây dựng giáo phận, nhất là thúc đẩy phong trào học hỏi giáo lư trong toàn giáo phận, đào tạo Hội Đồng Giáo Xứ và đặc biệt đào tạo các ơn gọi linh mục.

Năm 1992, cha Tôma Nguyễn Văn Trâm được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm giám mục phụ tá giáo phận Xuân Lộc. Ngài được tấn phong ngày 7-5-1992.

Ngày 30-9-2004, Ṭa Thánh bổ nhiệm linh mục Đa Minh Nguyễn Chu Trinh làm giám mục chính ṭa giáo phận Xuân Lộc. Ngày 11-11-2004, lễ tấn phong giám mục được tổ chức tại nhà thờ chính ṭa giáo phận Xuân Lộc, cũng ngày này Đức cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật chính thức nghỉ hưu.

Ngày 22 tháng 11 năm 2005, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đă thiết lập Tân Giáo Phận Bà Rịa, tách ra từ giáo phận Xuân Lộc, vừa đồng thời bổ nhiệm Đức Cha Tomas Nguyễn Văn Trâm, làm giám mục chính toà tiên khởi của tân giáo phận Bà Rịa.

Giáo Phận Mới Bà Rịa nằm trọn trong địa giới hành chính của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với diện tích 1,975 km2, dân số công giáo là 224,474 người giữa tổng dân cư 908,622 người, tức khoảng 24.7%. Số linh mục giáo phận là 67; số linh mục ḍng là 35, nam tu 192 và nữ tu 406. Nhà Thờ Giáo Xứ Bà Rịa, được dâng kính hai thánh tông đồ Giacôbê và Philipphê, trở thành Nhà Thờ Chánh Toà của Tân Giáo Phận Bà Rịa. Tân Giáo Phận Bà Rịa thuộc về Giáo Tỉnh Sài G̣n.

Là một giáo phận mới thành lập được tách ra từ giáo phận Xuân Lộc, Giáo phận Bà Rịa đang cố gắng bước đi vững vàng trong sự hiệp thông trọn vẹn với Đức Thánh Cha và Giáo Hội hoàn vũ, với Giáo Hội Việt Nam và giáo phận mẹ Xuân Lộc. Toàn thể giáo hữu cố gắng xây dựng sự hiệp nhất và yêu thương và trong năm mục vụ 2006, chú tâm học hỏi và thực hành việc Tân Phúc Âm hóa, nhằm thường huấn và đào tạo nhân sự cho việc loan báo Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô tại giáo phận.

Những bước chập chững vào đời, Giáo phận Bà Rịa rất cần được hướng dẫn, bảo vệ, củng cố bởi ơn Chúa, lời cầu nguyện của Đức Thánh Cha, của Đức Hồng Y Bộ Trưởng Bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc và của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam. Giáo phận Bà Rịa chân thành dâng hiến giáo phận cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, là Quan Thầy bảo trợ của giáo phận.

 

4. Kư Ức Hào Hùng của Giáo phận Bà Rịa

 

Khi quân đội Pháp, năm 1861, thôn tính Sài G̣n - Gia Định và sẵn sàng tấn công Vũng Tàu Bà Rịa, quan quân triều Nguyễn đă bắt giam các tín hữu cư ngụ tại địa hạt Bà Rịa vào bốn trại giam:

a. Trại giam chính ở Bà Rịa giam cầm 300 đàn ông. Ngày nay c̣n di tích là Nhà Mồ các vị tử đạo Bà Rịa.

b. Trại giam thứ hai ở Long Điền, giam cầm 135 người. C̣n vết tích là cây Thánh giá ở đất thánh họ Long Điền bây giờ.

c. Trại giam thứ ba ở họ Long Tân giam cầm 140 người.

d. Trại giam thứ tư là ở Đất Đỏ giam cầm 125 phụ nữ và trẻ em. Bây giờ c̣n mộ bia tại công viên Đất Đỏ.

Ngày 07 tháng 01 năm 1862, từ Vũng Tàu quân đội Pháp tiến công về Bà Rịa, quan quân triều Nguyễn trước khi rút lui đă thiêu sống các tín hữu ở cả bốn trại giam trên. Tổng số giáo dân bị chết thiêu là 444 người gồm có 288 đàn ông và 156 phụ nữ và trẻ em. Linh mục JB. Errard đă ghi bia đá danh sách 300 người và an táng chung tại huyệt mộ Bà Rịa. Ngôi Nhà thờ Mồ các vị tử đạo Bà Rịa vẫn tồn tại với năm tháng nơi quê hương này và đă trở thành chứng tích hào hùng của các chiến sĩ đức tin lấy máu ḿnh làm nảy sinh các tín hữu, lấy mạng sống ḿnh để vun đắp sự sống cho con cháu, là đức tin sống động đang lưu thông trong huyết quản từng tín hữu Bà Rịa hôm qua, hôm nay và măi về sau.

 

B. Địa Lư và Dân Số

 

1. Ranh giới:

 

Giáo Phận Bà Rịa nằm trọn trong địa giới hành chính của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu với diện tích 1,975 km2, dân số công giáo là 224,474 người giữa tổng dân cư 908,622 người, tức khoảng 24.7%. Phía Đông giáp giáo phận Phan Thiết. Phía Tây giáp giáo phận Saig̣n. Phía Nam giáp Biển Đông. Phía Bắc giáp giáo phận Xuân Lộc.

 

2. Sông Núi:

 

Thị xă Bà Rịa trong tương lai sẽ là tỉnh lỵ của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, gồm núi thấp và đồng bằng nhỏ ở ven biển. Như núi Dinh 125m; núi Lé 265m... Trong tỉnh có sông Cỏ Chi, sông Ray, sông Cá...

Thành phố Vũng Tàu là một thành phố du lịch và dầu khí, có 4 ngọn núi chính là núi Ḥn Sụp cao 250m, n1ui Tương Kỳ 249m, núi Vũng Mây 240m và núi Tao Phùng 170m.

Sông lớn nhất là sông Dinh dài 11km, rạch Cây Khế dài 6km; rạch Bà dài 8km

 

C. Một số điểm đặc sắc của giáo phận:

 

1. Tôn giáo:

 

- Tượng đài Chúa Giêsu ở núi Tao Phùng:

Đối diện với mũi Nghinh Phong là con đường đi lên tượng đài Chúa Giêsu. Đường dài trên 500m, lên cao gần 200m với gần 1,000 bậc.

Lên gần tượng đài là tượng Đức Mẹ Pietà (Sầu Bi). Tượng Chúa Giêsu cao 32m, hai tay dài hơn 18.4m, bên trong có thể đứng hàng ngàn người, v́ có 133 bậc để khách đi lên hai cánh tay ngắm cảnh biền cả, núi đồi, tận hưởng gió biển và ca tụng những kỳ công của Thiên Chúa.

- Trung tâm Đức Mẹ Băi Dâu:

Từ tượng đài Chúa Giêsu không xa, chúng ta có thể tới Đền Thánh Đức Mẹ Băi Dâu. Từ cổng đi vào, bên phải là tượng đài Thánh Giuse, bên trái là tượng đài quần thể các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Giữa công viên là lối vào "Nhà Tổ", nơi đây có đặt 60 hài cốt các Thánh Tử Đạo. Tại Nhà Tổ này, hàng ngày có đặt Ḿnh Thánh Chúa để du khách và giáo hữu có thể đến cầu nguyện.

Đường Thánh Giá dài 260m, gồm 14 bộ tượng men theo vách núi. Mỗi tượng cao 3m, cuối chặng thứ 14 là đường dẫn sang tượng đài Đức Mẹ. Tượng Đức Mẹ cao 25m, ẵm Chúa Giêsu cao 4.7m như thể giới thiệu cho toàn thể nhân loại Đấng Cứu Thế duy nhất.

Cánh phải là Đường Mân Côi dài 210m, gồm 113 bậc đi xuống theo triền dốc của núi. Cuối đường Mân Côi là đường dẫn vào đại thánh đường Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Đền Thánh được thánh hiến ngày 22-7-1995, nhân dịp kỷ niệm 20 năm giám mục của Đức cha Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật.

2. Đền Chùa:

Ở Bà Rịa Vũng Tàu có Thích Ca Phật Đài; Linh Sơn Cổ Tự; chùa Quan Thế Âm Bồ Tát, đ́nh Thần Thắng Tam; chùa cổ Long Bàn. Ngoài ra c̣n có các thắng cảnh khác như Dinh Cô, suối nước nóng B́nh Châu, Suối Tiên và các băi tắm nổi tiếng.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

 


H́nh ảnh sinh hoạt Giáo phận Bà Rịa

< Sẽ bổ sung sau >

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com