TRÊN QUÊ HƯƠNG CỦA CHÚA

Cosma Hoàng Văn Đạt

Centre Sèvres

2005

« Đi một ngày đàng học một sàng khôn » Một sàng khôn là điều tôi rất cần và rất mong. Đặc biệt quê hương của Chúa chắc sẽ giúp tôi hiểu và gặp Chúa dễ dàng hơn và thâm sâu hơn. Ngoài ra, tôi cũng mong có được đôi chút cảm nghiệm của thánh I-nhă khi ngài hành hương Đất Thánh năm 1523. Tuy nhiên, phải đi một ngày đàng th́ tôi rất ngại. Bao nhiêu công việc đang xếp hàng chờ đợi. Việc đi lại vừa mệt nhọc vừa tốn kém. Hơn nữa, nghe nói đến đi Giêrusalem vào dịp Giáng Sinh năm 2004, nhiều người can ngăn : t́nh trạng chiến tranh, tệ nạn khủng bố, công an xét hỏi… Tôi thực sự băn khoăn và lo lắng. Dầu vậy, tôi nghĩ bao nhiêu người ước mong mà hoàn cảnh không cho phép, trong khi tôi có cơ hội, tại sao lại do dự hay nhụt chí ? Nghĩ đến thánh I-nhă vượt qua bao trở ngại trong cuộc hành hương, và nhất là nghĩ đến Chúa Giêsu « trơ mặt » lên Giêrusalem, tôi dứt khoát : Đi !

Một người Việt Nam không phải hễ muốn là đi Giêrusalem là được ngay. Đầu tháng 10, tôi làm đơn đem đến nộp ở Ṭa Lănh Sự Israel tại Paris th́ được biết là trước hết phải có ai cư trú tại Israel làm đơn gởi bộ trưởng Nội Vụ xin cho tôi, chỉ khi có giấy phép ấy, Ṭa Lănh Sự mới cấp visa cho tôi được. Khốn nỗi tôi có quen ai ở Israel đâu ! Có cha trong cộng đoàn Sèvres khuyên tôi nhờ cha Nguyễn Công Đoan xin Đức Hồng Y Martini ở Giêrusalem giúp. Tôi không dám cậy dựa vào những nhân vật vĩ đại, chỉ xin bề trên cộng đoàn Sèvres giới thiệu tôi với bề trên cộng đoàn Giêrusalem. Vài hôm sau, tôi nhận được thư của thầy Agnelo, quản lư Viện Kinh Thánh, chỉ dẫn những điều phải làm. Thầy cho biết là phải nộp lệ phí 70 shekels, tương đương 17 đôla Mỹ, và nói đùa : Chúa Giêsu ngày xưa bị bán với giá 30 shekels thôi ! Tôi cũng đùa lại : Thời Chúa Giêsu, 30 shekels là tiền công thợ một tháng, tương đương 1500 đôla Mỹ ở Paris hiện nay. Dầu sao tôi cũng rẻ hơn Chúa ! Chờ đợi… đến gần như thất vọng. Thầy Agnelo đề nghị tôi nhờ sứ thần Ṭa Thánh ở Paris can thiệp, v́ có lẽ phải nhờ vậy mới được. Tôi không dám khuấy động trời đất. Trong đơn, tôi xin đi ngày 16.12, đến trưa hôm 15, tôi tự an ủi : « Chúa không muốn. » Nhưng chiều hôm ấy, tôi được thầy Agnelo cho biết bộ trưởng Nội Vụ đă cho phép, tôi có thể đến làm visa tại Ṭa Đại Sứ Israel ở Paris. Thế là sáng hôm sau tôi được cấp visa và chiều đi mua vé máy bay. Thực ra, trước khi được cấp visa, tôi đă phải trả lời hai cuộc thẩm vấn. Một cha trẻ người Bỉ trong cộng đoàn mới đi Israel năm ngoái cho biết tôi sẽ c̣n bị thẩm vấn và khám xét nhiều lần nữa, và rất kỹ. Các cha ở Giêrusalem cũng xác nhận như vậy, và nhắc tôi trả lời càng ngắn càng tốt, nhất là đừng đả động ǵ đến những nơi thuộc Palestine, chẳng hạn Bêlem. Nhưng tôi có biết nơi nào thuộc Israel, nơi nào thuộc Palestine đâu : chỉ biết là đến quê hương của Chúa thôi ! Chẳng sao, cây ngay không sợ chết đứng.

6 giờ sáng ngày 22.12.2004, đặt chân xuống Giêrusalem, tôi cảm thấy mọi khó khăn trong hơn 2 tháng trôi qua thật mau. Lên sân thượng Viện Kinh Thánh nh́n mặt trời mọc, tôi chụp bức ảnh đầu tiên. Sau này tôi mới biết h́nh ảnh đầu tiên tôi ghi nhận ấy là Núi Sion. Ở đó có nhà bà Maria, mẹ thánh Marcô, nơi Chúa Giêsu ăn bữa Tiệc Vượt Qua, rửa chân cho các môn đệ, ban mệnh lệnh yêu thương. Tại đó, Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các tông đồ nói chung và với thánh Tôma nói riêng. Đó là nơi các tông đồ lần đầu tiên đón nhận Chúa Thánh Thần và Hội Thánh bắt đầu thực sự lên đường. Đó cũng là nơi các tín hữu đầu tiên thường xuyên hội họp, cầu nguyện và cử hành bí tích Thánh Thể. Cuối cùng, đó lại chính là nơi thánh I-nhă trọ ở ḍng Phanxicô trong thời gian hành hương Đất Thánh. Tôi cảm thấy ḿnh ở sát ngay mầu nhiệm Vượt Qua. Nhưng ở sát vẫn chưa đủ, phải đi vào cuộc Vượt Qua với Chúa nữa.

 

Người đi trước chúng ta tới Galilê

Tôi theo xe của gia đ́nh Pillonca, người Pháp, đi Galilê. Họ có 3 người con, hai người con trai đă lập gia đ́nh, riêng cô gái út Déborah sau khi tốt nghiệp văn chương đại học Paris đă quyết định đến ở đan viện Đức Mẹ Lên Trời tại Bêlem. Do đó hai ông bà đến thăm. Đây là lần đầu họ đến Israel, và tất cả chúng tôi lần đầu tiên đi Galilê. Trên xe tôi hát cho họ nghe một bài thánh ca :

Il nous précède en Galilée
Christ au milieu du monde
Il nous précède en Galilée
Christ ressuscité.

(Người đi trước chúng ta đến Galilê
Đức Kitô giữa ḷng thế giới
Người đi trước chúng ta đến Galilê
Đức Kitô phục sinh)

Vừa ra khỏi Giêrusalem, cảnh khô cằn hiện lên ngay trước mắt chúng tôi : sa mạc Giuđê. Không được đi qua Giêricô, thật đáng tiếc : đó là thành phố được coi là cổ nhất thế giới và ở vào địa điểm thấp nhất thế giới, gần 400 mét dưới mực nước biển. Đó là thành phố đầu tiên người Israel chiếm được trong Đất Hứa. Đó là nơi Chúa Giêsu gặp ông Dakêu và chữa hai người mù. Đó là nơi khách hành hương thời Chúa Giêsu thực sự « lên Giêrusalem » : lên cao 1200 mét trên quăng đường 40 km. Chúng tôi phải theo đường ṿng, v́ đó là đất Palestine. Thung lũng sông Giođan xanh tươi khá vui mắt. Có cả những vườn chuối khá lớn. Đến xứ Samari, chúng tôi thấy những hàng rào kẽm gai ngăn cách đường xe với các làng xóm. Những cây chà là xem ra rất vô tâm và kiên nhẫn. Tôi chỉ biết ngồi trên xe mà tưởng tượng cảnh Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp. Đến xứ Galilê nhiều đồi núi, chúng tôi mới được đi ngang qua các khu dân cư. Tôi thấy mọi sự gần giống như ở Châu Âu cả về kiến trúc cũng như đường sá. Có lẽ điểm khác biệt rơ nhất là không thấy nhà thờ nào. Cả sinh hoạt của dân chúng cũng chẳng khác ǵ ở Châu Âu. Chắc một phần v́ chúng tôi chỉ ghé qua chứ không ở lại t́m hiểu đến nơi đến chốn.

Chúng tôi đến Nazareth vào một buổi chiều. Hiện nay đó hoàn toàn không c̣n là một làng quê nữa, nhưng đă là một thành phố 60 ngàn dân theo phong cách tây phương từ kiến trúc, đường sá đến sinh hoạt. Ngoài h́nh ảnh « trên đồi núi » ra, thật khó ḷng h́nh dung lại làng Nazareth vô danh của Chúa Giêsu xưa kia. Nhà thờ Truyền Tin là một công tŕnh kiến trúc đồ sộ tân thời. Đến sát cung thánh, chúng tôi cùng nghe đọc bài Tin Mừng về Truyền Tin và cầu nguyện. Ở tầng trệt có thánh lễ bằng tiếng Tây Ban Nha, chúng tôi xuống tham dự. Mặc dầu chỉ hiểu được đôi điều, tôi vẫn cảm nhận mầu nhiệm Nhập Thể là một quyết định vô cùng kỳ lạ và kỳ diệu của Thiên Chúa. Đón nhận Chúa Giêsu Thánh Thể, tôi nghe rơ tiếng mời gọi sống mầu nhiệm Nhập Thể thật sâu xa và thực tế. Sau thánh lễ, chúng tôi vào thăm nhà của Đức Mẹ. Nhiều người qú gối cung kính hôn nơi có bảng ghi : Ngôi Lời nhập thể tại đây. Tôi thấy Mẹ Maria đơn sơ như căn nhà của Mẹ, nhưng Thiên Chúa lại diệu kỳ đến mức âm thầm hơn cả thế nữa. Trời sụp tối. Chúng tôi không đi thăm được hội đường và giếng Đức Mẹ, nhưng có lẽ viếng Nazareth như vậy cũng tạm đủ.

Chúng tôi trọ tại Oasis Saint-François ở Tiberias. Rất may mắn : nhà trọ nằm ngay ở sườn đồi bên hồ Galilê. Buổi tối ngắm trăng, sáng sớm ngắm b́nh minh thật tuyệt vời. Tôi tha hồ mường tượng Chúa Giêsu bao lần ở trong thuyền trên mặt hồ với các môn đệ. Chắc chắn thiên nhiên là một yếu tố góp phần tạo nên những con người và cả những tập thể. Hồ Galilê đem lại cảm tưởng thanh thoát và ấm cúng, những điều ít có được trong một đô thị ồn ào và tất bật. Sáng ngày 27.12, trong thánh lễ, tôi h́nh dung cảnh Chúa Giêsu với thánh Gioan nói riêng và các tông đồ nói chung quấn quưt với nhau, lúc th́ trên mặt hồ, khi th́ trên bờ hồ. Những mơ ước nhân loại ḥa quyện với những mơ ước thần linh. Mặt trời và mặt trăng thay phiên nhau đem lại cảnh lung linh cho hồ.

Khác hẳn với Nazareth gần như từ không thành có, Capharnaum gần như từ có thành không. Vào thời Chúa Giêsu đó từng là thành phố lớn nhất, là trung tâm xứ Galilê, nơi cuộc sống không giáo điều như ở Giêrusalem, nhưng cũng không tẻ nhạt như trong các làng quê. Những người chài lưới, người sĩ quan Rôma, viên trưởng hội đường, người thâu thuế, và cả các cô gái không t́nh yêu nữa… tất cả hội tụ tại đó. Cuộc sống rất thực nên đ̣i hỏi nhiều suy nghĩ và lựa chọn. Giờ đây chỉ c̣n ngôi nhà thờ Chính Thống màu hồng là nổi bật giữa cây cỏ xanh tươi và mặt hồ long lanh. Gần đó là khu di tích hội đường và nhà thánh Phêrô. Những cổ vật c̣n nguyên trên mặt đất hay đă được khai quật và đưa lên từ ḷng đất cho phép h́nh dung lại một nếp sống đô thị vừa khá giả vừa giàu óc nghệ thuật từ trước công nguyên. Hội đường kiến trúc bằng đá chỉ c̣n lại cái nền, một bức tường, một khung cửa, và một số cột. Tại đây dân Capharnaum từng sửng sốt trước lời Chúa giảng và phép lạ Chúa làm ngay hôm đầu tiên Chúa ra mắt. Tại đây Chúa đă giảng về Bánh Sự Sống khiến Chúa và dân thay v́ gắn bó thâm sâu lại trở thành xa cách. Di tích nền nhà thánh Phêrô bằng đá cho phép h́nh dung một ngôi nhà bề thế và kiên cố, chứ không ọp ẹp như đôi khi có người tưởng tượng. Trong khi dân chúng bỏ Chúa Giêsu, ngài bỏ cả nhà cửa để theo sát Chúa. Không chỉ bỏ nhà cửa, ngài bỏ cả gia đ́nh, nghề nghiệp, bạn bè, thành phố đông vui, cả thiên nhiên tươi đẹp. V́ Chúa Giêsu đem lại cho ngài điều ǵ hơn thế nữa. Đó là h́nh ảnh rất rơ c̣n đọng lại trên các di tích hay trong ḷng người.

Núi Các Mối Phúc rất b́nh dị và hiền ḥa. Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu không diễn ra giữa sấm chớp rùng rợn trên núi Sinai hùng vĩ. Đó là Tin Mừng cho người nghèo, cho những ai chưa biết Thiên Chúa, cho những người tội lỗi. Ngôi nhà thờ xinh xắn tọa lạc giữa một khu vực thật nên thơ khiến chúng ta dễ mơ mộng hoặc bay bổng. Tất cả những đề nghị hay đ̣i hỏi phần nào có vẻ quá đáng như chặt tay, móc mắt, cho cả áo trong lẫn áo ngoài, đừng lo lắng về ngày mai… có lẽ trở nên dễ hiểu hơn và dễ theo hơn khi chúng ta sống với Chúa Giêsu trong bầu khí ấy. Nh́n những đàn chim bay lượn như nhảy múa bên trên mặt hồ sóng gợn bàng bạc, người ta khó h́nh dung được lúc các môn đệ chèo chống trong đêm tối v́ gió ngược hay hốt hoảng v́ nước tràn vào đầy thuyền. Thực vậy, lần trước Chúa Giêsu đang cầu nguyện trên núi, lần sau Chúa đang nằm ngủ ngon ngay trên thuyền.

Không như núi Các Mối Phúc, núi Tabor cao hơn 560 mét sừng sững như con voi giữa bầy cừu. Chắc trong những năm tháng ẩn dật tại Nazareth, Chúa Giêsu đă từng lên núi Tabor, chỉ cách Nazareth 9 km, để thử sức, để ngắm cảnh hay để cầu nguyện, và có khi cả ba. Tabor được mọi người đương thời coi là núi thánh. Ngoài ra, Tabor từng ghi dấu chiến tích oanh liệt của bà Đêbôra. Khi Chúa Giêsu rủ các môn đệ lên núi cầu nguyện, chỉ có ba người theo, điều ấy dễ hiểu v́ chắc chắn Chúa lội bộ. Ngay cả ông Pillonca cũng không muốn lái xe lên núi v́ ngại hoặc v́ không có ǵ hấp dẫn. Chỉ khi nghe Déborah ngày nay kể chuyện Đêbôra thời xưa ông mới đủ tâm để lên. Từ đỉnh núi, chúng ta thấy gần như toàn bộ xứ Galilê ngập trong nắng vàng xuất hiện thật quyến rũ, khác hẳn với xứ Giuđê khô cằn. Xa xa, tuyết phủ trắng xóa trên đỉnh núi bên kia sông Giođan. Có lẽ ba môn đệ thấy được cả Capharnaum, và Chúa Giêsu thấy được cả Nazareth. Mọi sự như níu kéo và ràng buộc. Mặt đất quả là đáng yêu, cuộc đời quả là đáng sống. Ở Giêrusalem, Chúa Giêsu và các môn đệ sẽ không là ai hết, sẽ không là ǵ cả. Làm ǵ có ngôn sứ nào xuất thân từ Galilê. Nhưng Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Thầy phải lên Giêrusalem, như trước đó đă nói với Mẹ Maria và thánh Giuse: Con phải ở nhà Cha con.

Trong nhà thờ, có một đoàn hành hương dâng lễ bằng tiếng Anh. Nh́n bức tranh hoành tráng bên trên bàn thờ chính và tấm bánh thật nhỏ trong tay, tôi cảm thấy cuộc hiển dung của Chúa vẫn đang tiếp diễn. Và như thế, chúng tôi lên Giêrusalem.

 

Lên Giêrusalem

Hành tŕnh lên Giêrusalem của Chúa Giêsu và các tông đồ thường khởi sự từ Giêrikhô, theo thói quen đương thời. Chúng tôi đi sát bên Biển Chết, nghĩa là nơi thấp nhất trên mặt hành tinh, để khởi sự quăng đường chừng 40 km. Ước ǵ tôi được đi bộ! Tôi sẽ băng qua những vùng khô cằn sỏi đá, không một bóng cây che nắng. Tôi sẽ tới xem tận mắt những đàn cừu chậm răi gặm những lá cỏ nhỏ đến tưởng chừng không có trên những sườn đồi. Tôi sẽ vào các lều mục tử hỏi thăm họ về cuộc sống, về ngày mai. Tôi sẽ cùng với những khách hành hương hát các bài thánh ca lên đền. Tôi sẽ cảm thấy những bước chân nặng chĩu và ước mong có ai dừng xe lại cho quá giang. Và có lẽ tôi sẽ hiểu Chúa Giêsu hơn, hiểu cuộc sống hơn, hiểu chính ḿnh hơn. Trong chiếc hộp di động an toàn và tiện nghi, chỉ một thoáng sau tôi đă đặt chân trở lại Giêrusalem, không chút háo hức và rạo rực nào của khách hành hương.

Nhà khách Abraham của Secours Catholique Pháp tọa lạc ở phía nam núi Ôliu, trên một ngọn đồi, có lẽ là nơi lư tưởng nhất để nh́n ngắm Giêrusalem. Đây từng là một đan viện ḍng Biển Đức, nên khuôn viên vừa rộng răi vừa yên tĩnh. Từ trên sân thượng, chúng ta có thể thấy từng khu vực của Giêrusalem hiện lên khá rơ và đẹp. Ngay dưới chân là nơi hai thung lũng Hinnom và Kidron gặp nhau. Phía tây bắc là Giêrusalem Cổ. Phía bắc là núi Ôliu. Phía đông và phía nam là khu vực người Arập. Một bức tường cao đập vào mắt làm người ta phần nào giật ḿnh, quên cả một Giêrusalem đáng mơ ước. Quanh Giêrusalem Cổ cũng có một bức tường, cao hơn và dài hơn, cả chắc hơn nữa, nhưng thấy cổ kính và hấp dẫn hơn gấp bội. Mấy lần tôi đi trên đỉnh tường và thầm tiếc cho Chúa Giêsu và thánh I-nhă không có được may mắn ấy !

Chúa Giêsu có lần cũng từ núi Ôliu nh́n sang khu vực đền thờ bên kia thung lũng Kidron, nhưng từ địa điểm hiện nay là nhà thờ Chúa Khóc. Các môn đệ tấm tắc khen vẻ rực rỡ của đền thờ, nhưng Chúa Giêsu lại thấy dân Giêrusalem như đàn gà con không muốn được ấp ủ dưới cánh gà mẹ, nên một ngày kia quân thù sẽ đến và đền thờ sẽ không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào. Điều ấy đă thực sự xảy ra năm 70. Phần ḿnh, nghĩ đến tŕnh trạng chiến tranh liên miên giữa Israel và Palestine, tôi thầm thở dài: Ôi Giêrusalem súng đạn và sỏi đá!

Theo truyền tụng th́ Chúa Giêsu đă dạy các môn đệ kinh Lạy Cha không phải ở đền thờ, nhưng ở núi Ôliu. H́nh như Chúa thích Galilê hơn Giêrusalem, và khi ở Giêrusalem, Chúa thích núi Ôliu hơn đền thờ. Có lẽ v́ núi Ôliu yên tĩnh hơn và thanh thoát hơn, gần với Galilê hơn, nghĩa là gần với Thiên Chúa và con người hơn, nên hợp với một Thiên Chúa nhập thể hơn. Mặt khác có thể cũng v́ luật lệ và lễ nghi của Giêrusalem dễ làm người ta quên Thiên Chúa là Cha. Một ngôi nhà thờ xinh xắn giữa khuôn viên xanh khiến chúng ta có cảm tưởng đang ở ngay trong một làng quê. Trên các bức tường nhà thờ và trong khuôn viên có rất nhiều bản kinh Lạy Cha bằng các thứ tiếng. Hôm ấy tôi gặp ở đó một phụ nữ người Rumani và một thanh niên người Argentina. Ba người cùng nhau đi xem lần lượt các bản kinh trong khuôn viên. Tôi hơi băn khoăn v́ không thấy bản tiếng Việt. Trong nhà thờ, chúng tôi đọc kinh Lạy Cha mỗi người bằng tiếng mẹ đẻ. Vui quá, các dân tộc đều là con cái Thiên Chúa nên là anh chị em với nhau. Ngay sau đó, tôi thấy bản kinh tiếng Việt ở bên trong nhà thờ, bản kinh cũ, trước năm 1969, chứng tỏ đă có ở đây từ khá lâu rồi. Có hai địa điểm tôi phải cố gắng lắm mới t́m được, đó là hồ Bethesda và suối Silôê. Một người bại liệt và một người mù. Cả hai cùng đau khổ v́ bệnh tật. Gặp Chúa Giêsu, người bại liệt không cần đến nước hồ Bethesda, người mù lại được Chúa nói đến rửa mắt ở suối Silôê. Kết quả là cả hai được khỏi bệnh. Di tích cho thấy hồ Bethesda vừa lớn vừa sâu, lại có hệ thống dẫn nước đến đền thờ, quả là một công tŕnh kiến trúc đáng kể vào thời ấy. Trong khi đó, suối Silôê thật nhỏ bé và tầm thường, ở nơi kể là thấp nhất Giêrusalem, chỗ hai thung lũng Hinnom và Kidron gặp nhau. Điều có lẽ đáng suy nghĩ là Chúa Giêsu không cần đến nước hồ Bethesda, nhưng lại làm như cần đến nước suối Silôê. Bên cạnh hồ Bethesda có nhà thờ thánh Anna và cả nhà thánh Anna nữa. Tại nơi được gọi là nhà thánh Anna, có pḥng kỷ niệm nơi Đức Mẹ chào đời và pḥng kỷ niệm nơi thánh Anna qua đời. Gần suối Silôê là Thành Vua Đavít. Theo các nhà khảo cổ, đó chính là địa điểm vua Đavít đă chiếm và đặt kinh đô. Vua Đavít để lại dấu ấn không phai mờ được ở Giêrusalem.

Tôi quyết định làm lại hành tŕnh của Chúa Giêsu trong cuộc Vượt Qua. Trước hết, tôi t́m đến Bêthania, nơi lưu dấu t́nh thân đặc biệt giữa Chúa Giêsu và ba chị em thánh Marta. Theo bản hướng dẫn, tôi đụng phải bức tường đă thấy khi đứng trên sân thượng Nhà Abraham. Bức tường cao khoảng 8 mét, chắn ngang một con đường, ‘chắn dọc’ một con đường khác. Trên bức tường có ai đă ghi hàng chữ: “Tường không chia cắt được bạn bè.” Gần bức tường có một toán lính đứng gác. Thấy ở gần đó có một nhà thờ nhỏ, tôi hỏi một người lính:

- Tôi muốn viếng nhà thờ đó, được không?
- Xin mời!

Biết đó không phải là nhà thờ Bêthania, tôi hy vọng có ai ở nhà thờ để hỏi, nhưng không gặp ai. Thấy một nhóm chừng 20 người đang bị những người lính khám xét rất kỹ, tôi quan sát và cảm thấy hơi xót xa. Sau đó, nhóm người đi về phía tôi. Khi được hỏi về nhà thờ Bêthania, họ bảo tôi theo họ. Họ lặng lẽ dẫn tôi ṿng vèo qua các đường đất băng qua các khu vườn. Sau chừng 15 phút, chúng tôi đến đúng con đường cũ, nhưng ở phía bên kia bức tường. Ở đó có một toán cảnh sát, và nhóm người kia lại bị khám xét cả hành lư lẫn giấy tờ. Tôi chỉ đứng xem. Khi họ đă đi, tôi lẳng lặng đi theo, mà không ai xét hỏi ǵ. Chừng 10 phút sau, chúng tôi đến trước một bức tường thấp hơn, chỉ khoảng 2 mét và đơn giản hơn. Một toán lính gác lại khám xét từng người trước khi cho qua một cửa nhỏ. Tôi cảm thấy đau nhói trong tim và muốn quay về. Nhưng tôi nghĩ đă đến đây mà không viếng được nhà thờ Bêthania th́ uổng quá. Sau khi những người kia đi hết, tôi đến hỏi một người lính: Tôi muốn viếng nhà thờ Bêthania, làm ơn chỉ giùm. Anh ta dẫn tôi đến gặp viên sĩ quan:

- Thưa ông, đây không c̣n là Giêrusalem nữa.
- Không sao, tôi muốn đến viếng nhà thờ Bêthnia mà!
- Ông có biết là ở đây nguy hiểm không?

Thực sự tôi chột dạ, nhưng vẫn cương quyết:

- Tại sao lại nguy hiểm?
- Đây là lănh thổ Palestine.
- Không sao! Tôi chỉ viếng nhà thờ Bêthnia chừng một tiếng đồng hồ, rồi trở lại Giêrusalem ngay.

Anh ta hỏi một thanh niên: Đưa ông ấy đi nhà thờ Bêthania được không? Thế là tôi lên taxi của người thanh niên Palestine và đến được Bêthania. Điều tôi ghi nhận ngay là rất ít ai đến đây. Tôi cứ nghĩ một nhà thờ như vậy th́ phải có nhiều người đến viếng, v́ chỉ cách đó vài cây số, Giêrusalem không thiếu ǵ người du lịch hay hành hương. Thực tế là suốt buổi chiều hôm ấy chỉ có một ḿnh tôi đến. Cảnh hoang lạnh cũng có thể thấy được phần nào trong mộ của Lazarô gần như không ai chăm sóc. Dầu sao tôi cảm thấy rất vui v́ đến được nơi ít ai đến. Khuôn viên nhà thờ tuy không rộng lắm, nhưng đầy cây xanh khiến không khí như nhẹ hẳn đi so với t́nh trạng căng thẳng ở bên ngoài. Trong nhà thờ, tôi đọc các bài Tin Mừng liên hệ đến Bêthania và lắng nghe tiếng Chúa. Mở ḷng đón tiếp Chúa, đừng tiếc ǵ với Chúa, chẳng những là b́nh thuốc thơm mà ngay cả đến cuộc sống, v́ t́nh thương và sức mạnh của Chúa chính là sức sống. Mặc dầu cảnh thiếu chăm sóc ở mộ Lazarô làm tôi hơi thất vọng, nhưng sự hiện diện vô h́nh của Đấng có lời ban sự sống khiến tôi hứng khởi. Tôi đặc biệt chú ư đến một lỗ hổng nhỏ ở tường đá, bên trên cửa mộ, qua đó Chúa Giêsu đă gọi: Lazarô, ra đây! Người hướng dẫn cho biết khách đến viếng đều được đề nghị cũng làm như Chúa đă làm. Nhưng tôi thích thấy ḿnh là người trong mộ được Chúa gọi ra hơn, nên tôi xuống nơi đặt xác. Tôi thấy ḿnh ch́m ngập trong vực thẳm sự chết, nhưng hoàn toàn xác tín về tiếng Chúa gọi: Ra đây! Tôi cảm nhận rơ ràng và mănh liệt: hiệp thông với Chúa chính là phục sinh và sống. Tôi cũng được hướng dẫn xem nhà thánh Martha, có cối xay bột, có máy ép dầu, có bồn đạp nho… Tôi thầm cảm phục thánh Marta: Bà này chu đáo thật. Nhưng vẫn phải cẩn thận để khỏi bị Chúa trách là lo lắng nhiều thứ quá.

Người tài xế taxi trả tôi lại chỗ có toán lính canh. Tôi xoay sở măi rồi cũng t́m lại được chỗ toán lính canh đầu tiên: không ai hỏi ǵ tôi hết, cứ như ở giữa Paris vậy. Tôi nh́n lại bức tường. Bao nhiêu công sức, bao nhiêu tiền của! Hơn nữa, bao nhiêu người gần như bị cầm tù. Có nhiều nhà bị bức tường chắn ngay cửa chính: ra vào thế nào, buôn bán thế nào? Người tài xế taxi cho biết là dân làng có thể đi chơi, đi chợ ở Giêrusalem, nhưng không được đi làm.

- Vậy anh chỉ chạy taxi trong làng thôi sao?
- Biết làm sao hơn được!

Một bức tường giữa Bêthania và Giêrusalem chỉ cách nhau mấy cây số! Tôi nghĩ bụng: Ở Đất Thánh không có sông, tiền lẽ ra để xây cầu th́ người ta lấy để xây tường. Tôi cứ băn khoăn măi về thái độ nhẫn nhục của những người dân bị khám xét ba lần và anh taxi chạy xe quanh quẩn trong làng. Nhưng Chúa Giêsu đă phá đổ bức tường ngăn cách và trở thành nhịp cầu (pontifex) rồi mà. Các cha ở cộng đoàn cho biết thỉnh thoảng có một vài thiếu niên phẫn uất ném đá vào lính canh, thế là họ bắn bừa băi, ai chết mặc kệ. Nguy hiểm thật. Thần chết ŕnh rập ngay tại nơi Chúa cho một người chết được sống lại.

Nhà thờ Bethphaghê vừa nhỏ bé vừa đơn giản trên sườn núi Ôliu. Một ḿnh trong nhà thờ, tôi đọc lại đoạn Tin Mừng về Chúa Giêsu cỡi lừa vào Giêrusalem. Đây là điểm khởi đầu. Trong nhà thờ c̣n lưu giữ một tảng đá khoảng gần 1 m3: tương truyền Chúa Giêsu đă bước lên tảng đá này để lên lưng lừa. Chắc dân chúng ở núi Ôliu tung hô Chúa. Chắc Chúa băng qua thung lũng Kidron để đến đền thờ. Gọi là khải hoàn hay long trọng, nhưng chắc mọi sự diễn ra khá đơn giản chứ không rầm rộ, v́ Chúa cỡi lừa chứ không cỡi ngựa. Nhưng như vậy cũng đủ để hàng lănh đạo Do Thái giận dữ.

Đền thờ Do Thái đầu tiên do vua Salomon xây dựng khoảng năm 900 trước công nguyên được coi là một công tŕnh kiến trúc to lớn và tráng lệ vào thời đó. Đối với người Do Thái đền thờ được coi là linh thiêng, v́ là nơi Thiên Chúa ở với dân. Đền thờ này bị vua Nabucodonosor phá hủy khi chiếm đóng Giêrusalem năm 587 trước công nguyên và bắt dân Do Thái đi lưu đày ở Babylon. Sau khi được hồi hương năm 538, người Do Thái xây dựng lại đền thờ theo quy mô nhỏ bé hơn và đơn giản hơn. Vào những năm cuối trước công nguyên, vua Hêrôđê cho xây dựng đền thờ thứ ba trên nền cũ, nhưng với qui mô lớn hơn đền thờ thứ nhất. Đây là đền thờ thời Chúa Giêsu. Năm 70, đền thờ này bị đế quốc Rôma phá hủy và họ xây dựng những đền thờ các thần của họ. Năm 691, người Hồi Giáo xây dựng ngôi Đền Vàng chúng ta c̣n thấy ngày nay vẫn trên nền cũ. Ngôi Đền Vàng của Hồi Giáo hiện nay h́nh 8 cạnh, đường kính hơn 50 mét, được coi là linh thiêng thứ ba sau đền Mecca và đền Medina. Theo truyền tụng, đó là núi Moria, nơi Abraham dự tính sát tế Issac, và về sau là nơi giáo chủ Mahomet lên trời. Mới đây, trước khi chết, thủ lănh Palestine là ông Yasser Arafat đă bày tỏ ước nguyện được chôn ở Đền Vàng, nhưng chính quyền Israel không chấp thuận. Nền đền thờ h́nh như vẫn y nguyên như từ thời Chúa Giêsu: dài hơn 400 mét, rộng hơn 300 mét. Năm 12 tuổi, Chúa Giêsu đă ở lại trong đền thờ đang khi Đức Mẹ và thánh Giuse về Nazareth. Sau đó chắc chắn hằng năm Chúa vẫn đi dự lễ Vượt Qua tại đền thờ. Ấy là chưa kể nhiều lần Chúa giảng dạy dân chúng ở đó. Đặc biệt có lần Chúa đánh đuổi người buôn bán ở đền thờ. Nhưng nhất là Chúa rất mạnh miệng: Phá đền thờ này đi, trong ba ngày tôi sẽ dựng lại đền thờ khác. Hội Thánh sơ khai lúc đầu c̣n quyến luyến với đền thờ, nhưng chẳng bao lâu sau th́ tách ra hẳn. Thánh Stêphanô đă mạnh miệng không kém Chúa Giêsu: Thiên Chúa không ngự trong đền thờ bằng gỗ đá do tay con người làm ra. Thánh Phaolô nói rơ hơn: Anh em là đền thờ. Trước đó Chúa Giêsu từng nói với người phụ nữ Samari: Thiên Chúa muốn được thờ phượng không phải ở Garizim hay ở Giêrusalem, nhưng là trong tinh thần và sự thật.

Bức tường phía tây của nền đền thờ là phần duy nhất c̣n y nguyên từ thời Vua Saloâmoân. Hằng ngày, người Do thái đến đó đập đầu vào tường cầu nguyện. Ngay hôm đầu tiên đến Đất Thánh, tôi đă được một cha trẻ người Rumani dẫn đến thăm bức tường nổi tiếng ấy. Người ta nghe các rabbin đọc Sách Thánh, rồi đến úp mặt đập đầu vào tường cầu nguyện. Cả một người lính đang đứng gác cũng bỏ súng xuống đất để cầu nguyện. Cha kia và tôi cũng đội kipa rồi đến úp mặt vào tường. Tôi cầu xin Chúa cho người Do Thái khỏi phải than khóc nữa. Nhưng biết làm sao được? Trên tờ tạp chí Haaretz số cuối năm 2004, người ta hô hào là đă đến lúc xây dựng lại đền thờ Do Thái trên nền cũ. Khó ai mường tượng được bao nhiêu máu sẽ đổ nếu điều ấy được thực hiện. Mong rằng máu Chúa Giêsu đă đổ ra cũng đủ rồi.

 

Vượt Qua

Tôi đến núi Sion vào một buổi chiều và ở lại đến tối. Ngôi nhà thờ Đức Mẹ An Giấc tuy hơi âm u nhưng toát ra vẻ linh thiêng. Những bức họa hay phù điêu trên tường bên trong nhà thờ làm cho bầu khí vừa gần gũi vừa ấm cúng. Qua Tin Mừng, các mầu nhiệm lần lượt như hiển hiện ngay trước mắt. Nhà Tiệc Ly nằm bên cạnh nhà thờ. Đó là một pḥng h́nh chữ nhật ở trên lầu, dài khoảng 10 mét, rộng chừng 7 mét, kiến trúc Rôma. Tôi ở lại đó thật lâu để nh́n Chúa và nghe Chúa. Những tâm t́nh của Chúa trào dâng trong ḷng tôi. Trong bữa tiệc Vượt Qua, Chúa rửa chân cho các môn đệ, rồi lập bí tích Thánh Thể, rồi rút ruột tâm sự với các môn đệ. Xao xuyến quyện với yêu thương, tử thần quyện với hi vọng.

Đường từ Nhà Tiệc Ly đến Nhà Ép Dầu, khoảng 600 mét, men theo sườn núi Sion rồi sườn núi Đền thờ, băng qua thung lũng Kidron. Trên đường, Chúa vừa đi vừa tâm sự với các môn đệ. Chúa bảo các môn đệ đừng xao xuyến, nhưng thực ra chính Chúa lúc ấy đang xao xuyến. Chúa đă ngang qua chỗ góc tây nam tường thành, nơi Chúa từng bị ma quỷ cám dỗ. Rất có thể Chúa bị cám dỗ bỏ cuộc. Nhưng gần đó là mộ một ngôn sứ và mộ Absalon, người con phản loạn của vua Đavít. Hẳn là Chúa muốn trung thành với sứ mạng đến cùng chứ không muốn làm người con phản loạn của Chúa Cha. Cao hơn một chút bên núi Ôliu là nơi Chúa dạy các môn đệ kinh Lạy Cha. Tâm t́nh một con người đắp đổi với tâm t́nh một người con: “Xao xuyến”. Cao hơn một chút phía tay trái là đền thờ, nơi người ta giết chiên để dâng làm hy tế long trọng mừng lễ Vượt Qua. Hy sinh và lễ vật Chúa không ưng, này con đến để thi hành ư Chúa: lời thánh vịnh vang lên, tâm t́nh của người con chiến thắng tâm t́nh của con người.

Nhà thờ Gethsemane hay Ép Dầu ở ngay thung lũng Kidron, dưới chân núi Ôliu. Thấy tôi bước vào cổng, một người Arập niềm nở:

- Chào ông bạn Nhật Bản!
- Cảm ơn. Nhưng tôi là người Việt Nam chứ không phải người Nhật Bản, và tôi là một người anh em chứ không phải là một người bạn.
- Ôi, người anh em Việt Nam của tôi!

Chúng tôi nhận ra nhau là anh em v́ cùng là con của Cha trên trời. Tâm t́nh người con từ Chúa Giêsu đă truyền sang chúng tôi, hai người ở hai phương trời, gặp nhau lần đầu và có lẽ cũng là lần cuối.

Trong nhà thờ, một đoàn hành hương người Châu Phi vừa bắt đầu thánh lễ bằng tiếng Anh. Bài Tin Mừng về Chúa Giêsu cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu được đọc ngay trong những ngày mừng mầu nhiệm Nhập Thể. Con người yếu đuối nhưng được mời gọi đến t́nh yêu để có được sức mạnh thần linh. Cầm Ḿnh Thánh Chúa như một tấm bánh nhỏ xíu trên tay, tôi ngước mắt nh́n bức tranh Chúa Giêsu đang sấp ḿnh cầu nguyện và được thiên thần đến khích lệ, rồi đưa mắt nh́n phiến đá từng thấm mồ hôi máu của Chúa ngay trước bàn thờ, tôi nhớ đến câu được ghi ở cửa nhà thờ: Đức Giêsu đă lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu ḿnh khỏi chết; Người đă được nhậm lời v́ có ḷng tôn phục. Chúa cao cả ngay trong lúc yếu đuối nhất. Sau khi đọc lời nguyện Hiến Tế với Chúa Giêsu và Hội Thánh, tôi cũng đọc kinh Dâng Hiến với thánh Inhă và toàn thể Ḍng Tên.

Chung quanh nhà thờ, cả bên trong cũng như bên ngoài khuôn viên, có rất nhiều cây ôliu. Người ta nói rằng cây ôliu không bao giờ chết. Các nhà khoa học cho biết có những cây đă 3000 tuổi, nghĩa là lúc Chúa Giêsu đến cầu nguyện ở đây, nó đă 1000 tuổi rồi. Ngay gần cửa hông nhà thờ, có mấy cây chu vi của thân có thể lên đến 6 mét. Chúng ở đó để làm chứng cho cả Cựu Ước lẫn Tân Ước về đêm đổ mồ hôi máu ấy của Chúa Giêsu.

Hang đá nơi Chúa bị bắt, ngay bên cạnh suối Kidron, thật âm u. Có lẽ những người phụ trách cố ư để như vậy. Đây là nơi Chúa thường dẫn các môn đệ đến cầu nguyện, chỉ cách nhà Ép Dầu bằng khoảng ném một ḥn đá, theo cách nói của thánh Luca. Thực ra ở đó có hai hang đá, hang ngoài lớn hơn và sâu hơn, hang trong nhỏ hơn và không ăn sâu xuống ḷng đất. Các tông đồ ngủ ở đó trong khi Chúa hấp hối. Ngủ hay hấp hối đều gần với cái chết, mặc dầu theo hai nghĩa khác nhau. Tôi cảm thấy cái chết thật gần: cuộc sống nếu không là một giấc ngủ th́ là một cơn hấp hối, hay ngược lại. Giuđa dẫn lính đền thờ đến bắt Chúa. Gặp lại thầy và các bạn, không một bức tường hữu h́nh nào ngăn cản, nhưng khoảng cách trở nên vô tận. Chúa Giêsu tiến lại gần, nhưng chỉ làm tăng thêm khoảng cách trong ḷng người môn đệ phản bội. Đêm tối đôi khi làm cho người ta khắc khoải chờ mong mặt trời mọc. Phía trên bàn thờ là bức tranh Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các tông đồ.

Những h́nh ảnh Chúa Giêsu trong nhà thờ Chúa Bị Kết Án thật là bi thảm. Không ai muốn thấy những h́nh ảnh như vậy. Nhưng Chúa không chỉ thấy mà c̣n chịu nữa. Và có lẽ những h́nh ảnh ấy chỉ diễn tả một phần nhỏ những ǵ Chúa đă phải chịu. Điều tôi thấy được là trái tim Chúa: quảng đại và can trường. Cả một hàng lănh đạo Do Thái mù quáng, cả một đế quốc Rôma hùng mạnh, cả một đám đông vô tâm, cả nhóm môn đệ thân tín đang nhát đảm, vẫn không làm cho trái tim ấy ngưng đập. Đ̣n vọt, mạo gai, tan nát: Đây là người! C̣n Thiên Chúa th́ giới thiệu: Đây là con Ta yêu dấu. Bản án dành cho một con người cũng chính là bản án dành cho một người con. Tôi nhớ lại lời của thánh Phaolô: Chúng tôi đă mang án tử nơi chính bản thân rồi. Không phải là đau thương và tủi nhục, nhưng là yêu mến đến cùng, bất chấp cả đau thương và tủi nhục. Ngày nay, người ta rất sợ những đau thương. Chẳng biết khi t́nh yêu đ̣i hỏi, người ta dám chấp nhận đau thương đến mức nào.

Trên Đường Thương Khó ngày nay chật chội và ồn ào, thỉnh thoảng tôi lại gặp một đoàn hành hương đang đi đàng Thánh Giá. Chiều thứ sáu hằng tuần, ḍng Phanxicô tổ chức đi lại Đường Thương Khó của Chúa Giêsu ngày xưa, nhưng thứ sáu trước và sau lễ Giáng Sinh th́ không. Dầu vậy, các đoàn hành hương vẫn tổ chức vào ngày giờ thuận tiện cho họ. Chiều hôm đầu năm dương lịch, tôi gặp một đoàn nói tiếng Tây Ban Nha và theo họ từ chặng thứ ba đến chặng thứ tư. Một người cầm thánh giá dẫn đầu, những người theo sau thinh lặng tiến bước. Hai bên là hàng quán la liệt, người ra vào tấp nập, tiếng mời chào inh ỏi. Ở mỗi chặng, họ dừng lại nghe lời Chúa, cầu nguyện và hát thánh ca. Tôi dừng lại ở chặng thứ năm với một đoàn Châu Phi, nói tiếng Anh. Phải nói là họ hết sức sốt sắng. Tôi cảm thấy được mời gọi chia sẻ Thánh Giá với Chúa, và ước ao có được ḷng sốt sắng diễn tả một đức tin đơn sơ nhưng sống động nơi họ. Ở chặng thứ 8, tôi hoàn toàn chỉ có một ḿnh, ở ngay trên đường. Các chặng thường có một nhà nguyện nhỏ, nhưng vài chặng chỉ có bảng ghi trên tường ngay ngoài đường. Đúng hơn là người ta qua lại nhiều, nhưng một ḿnh tôi ḥa ḿnh với các phụ nữ Giêrusalem để nghe những lời của Đấng đang đi chịu chết. Có lẽ lúc ấy Chúa không phải vác thập giá, v́ ông Simon vác thay, nhưng ai sẽ chịu chết thay Chúa? Có lẽ Đức Mẹ sẵn ḷng. Nhưng Chúa mời gọi người ta khóc thương chính ḿnh và con cháu, như Chúa đă khóc thương Giêrusalem. Và tôi ước ao được cùng sống với Chúa, cùng chết với Chúa.

Bốn chặng cuối của Đường Thương Khó nằm trong nhà thờ Mồ Thánh. Nơi chúng ta quen gọi là Núi Sọ hay Đồi Golgotha được chia làm hai phần. Chặng thứ 10 và chặng thứ 11, Chúa Giêsu bị lột áo và bị đóng đinh, do bên Công Giáo phụ trách; chặng thứ 12, Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, do bên Chính Thống phụ trách. Hai bên tŕnh bày khá khác nhau nếu không muốn nói là hơi đối chọi. Bên phía Chính Thống, cảnh Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá giữa vinh quang chói ḷa được diễn tả bằng h́nh ảnh và ánh đèn. Đức Mẹ và thánh Gioan tươi như trong ngày lễ. Dưới chân bàn thờ, trước bức ảnh Chúa Giêsu, có một lỗ vừa cho một bàn tay. Đó là nơi xưa kia dựng Thánh Giá. Khách hành hương thường tḥ tay vào đó để chạm vào tảng đá nơi dựng Thánh Giá. Đây là điểm thu hút rất đông khách hành hương. Bên phía Công Giáo th́ hầu như hoàn toàn vắng lặng. Bên trên bàn thờ Calvario là bức tranh diễn tả Chúa Giêsu chịu đóng đinh đầy nét đau thương bày tỏ trên khuôn mặt Đức Mẹ và thánh Mađalêna. Ngoài ra, không có trang hoàng nào khác, cũng thiếu cả ánh sáng. Đau thương và vinh quang kề cận nhau hay đúng hơn chỉ là một nơi Chúa Giêsu. Bản thân tôi đến đây nhiều lần và thích nh́n xem khách hành hương hôn kính nơi dựng Thánh Giá rồi chiêm ngắm Chúa đau thương và vinh quang. Tôi muốn được nhập vai thánh Gioan ở dưới chân Thánh Giá để chiêm ngắm máu và nước từ trái tim Chúa chảy ra khi bị đâm thâu. Tôi lặp đi lặp lại kinh Anima Christi, đặc biệt câu Xin đặt con bên Chúa.

Bước qua cửa chính nhà thờ Mồ Thánh, chúng ta gặp ngay phiến đá ghi dấu chặng thứ 13, Chúa Giêsu được đưa xuống khỏi Thánh Giá. Theo phong tục Do Thái, người chết được xức thuốc thơm và bọc trong khăn trước khi an táng. Tương truyền Chúa Giêsu được đặt trên phiến đá này để tẩm liệm. Nhiều khách hành hương phủ phục hôn kính. Tôi chỉ lướt qua để đi viếng mộ Chúa cách đó chừng 10 mét. Thực ra trong hai tuần ở Đất Thánh, tôi viếng mộ Chúa tổng cộng 5 lần. Tôi cảm thấy ḿnh phần nào quấn quít với ngôi mộ, có khi phải xếp hàng chờ gần 30 phút, mặc dầu biết chắc là Người đă phục sinh và không c̣n ở đây nữa. Tôi hiểu hơn về cách an táng của người Do Thái thời Chúa Giêsu. Cũng như mộ Lazarô, mộ Chúa Giêsu có hai phần: phía trong đặt xác, phía ngoài là chỗ cho thân nhân đến viếng. Một bức tường ngăn giữa hai bên, nhưng có một cửa nhỏ, cao chưa đầy 1 mét để ra vào. Mộ Chúa là một hốc được đục vào đá. Xác Chúa sau khi được liệm trong khăn, không có quan tài, được đặt trên ‘giường’ đá ở phía trong. Cửa mộ bên ngoài được đóng lại bằng một tảng đá tṛn để có thể lăn ra lăn vào được. Tất cả những điều ấy hiện nay đă được tách riêng thành một khối và được trang hoàng rất công phu như một căn nhà. Điều quan trọng hơn là tôi ước ao có đôi chút cảm nghiệm về Chúa phục sinh. Tôi không cảm động lắm khi ở trong mộ. Mỗi lần đến mộ tôi thường vào mộ rồi trở ra đứng trước mộ để nh́n ngắm và suy nghĩ. Tôi đọc lại những đoạn Tin Mừng liên hệ đến sáng ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời vừa mọc. Các phụ nữ đến mộ rồi hốt hoảng trở về Nhà Tiệc Ly. Có lẽ các bà gặp Chúa trên đường. Thánh Maria Magdala ở lại hay trở lại: bà khóc nhưng gặp lại Chúa bên ngoài mộ. Bà chạy về Nhà Tiệc Ly báo tin cho các tông đồ. Thánh Phêrô và thánh Gioan chạy đến mộ. Hai người lần lượt vào mộ. Thánh Phêrô ngạc nhiên, c̣n thánh Gioan tin Chúa đă sống lại như Sách Thánh tiên báo. Thật khó mường tượng chính xác cảnh xưa, v́ khung cảnh đă thay đổi hoàn toàn. Nhưng, mầu nhiệm vẫn y nguyên. Tôi cảm nhận một điều vô cùng đơn giản: Chúa đă sống lại và không c̣n ở trong mồ nữa. Không được đến t́m người sống nơi kẻ chết. Phải t́m gặp Chúa nơi đất kẻ sống.

Đối diện với mộ Chúa là nhà nguyện Chính Thống. Đây là nhà nguyện lớn nhất, cổ kính nhất và được trang hoàng công phu nhất trong nhà thờ Mồ Thánh. Tôi dự một giờ hát kinh phụng vụ. Trong nhà nguyện không đặt ghế ngồi, mọi người đều đứng, tư thế của người sống. Mặc dầu không hiểu nội dung các Thánh Vịnh được hát bằng tiếng Hy Lạp, tôi vẫn cảm nhận được đức tin và niềm vui tràn ngập không gian ấm cúng được diễn tả qua những âm điệu du dương trong ánh đèn rực rỡ. Ngay gần cửa nhà nguyện Chính Thống và mộ Chúa có một bàn thờ kính nhớ Chúa hiện ra với thánh Mađalêna. Bức phù điêu cách điệu bằng đồng cho thấy cái ngỡ ngàng và bay bổng của vị thánh nữ khi gặp lại Chúa. Tiếng gọi Maria và tiếng đáp Rabboni ḥa với nhau trong t́nh thân thầy tṛ và niềm vui thiên đàng. Đi thêm mươi bước, chúng ta đến nhà nguyện của ḍng Phanxicô kính nhớ Chúa hiện ra với Đức Mẹ. Tại đây hằng ngày nhà ḍng hát các giờ kinh thần vụ. Tôi tham dự một giờ kinh chiều với chừng 20 khách hành hương. Bên cạnh bàn thờ có bức phù điêu bằng đồng diễn tả cảnh Chúa Giêsu hiện ra với Đức Mẹ. Nếu có ǵ gọi được là dịu ngọt th́ chính là điều được diễn tả trong bức phù điêu. Không c̣n lời nói, chỉ c̣n hiện diện v́ đó chính là yêu thương và niềm vui. Các phụ nữ không nói được v́ sợ. Đức Mẹ không nói được v́ không t́m được lời nào của con người để nói lên được yêu thương và niềm vui. Các môn đệ sẽ làm chứng bằng lời nói, riêng Đức Mẹ làm chứng bằng yêu thương và niềm vui.

Mồ Thánh gợi cho tôi rất nhiều suy nghĩ về cuộc sống con người, về Hội Thánh và Ḍng Tên và về bản thân. Chúa Giêsu hôm nay vẫn chết và sống lại nơi những con người bằng xương bằng thịt. Chúa vẫn bị những kẻ như Caipha và Philatô kết án, sẵn quyền bính trong tay, nhưng đầu óc hẹp ḥi, coi ḿnh là thẩm phán tuyệt đối, nh́n một con người nhỏ bé chỉ là con cờ thí. Đôi khi nhân danh Thiên Chúa và nhân loại nữa! Thật là may, những người nhỏ bé kia có một bạn đồng hành để thông cảm. C̣n Caipha và Philatô tự tin và ngạo nghễ sẽ măi măi cô đơn trong cái tôi tù túng ngột ngạt của họ. Hơn nữa, Chúa đă ra khỏi mồ. Sức mạnh con người dù quỷ quái đến dâu vẫn chỉ giới hạn. Quyền năng Thiên Chúa mở tung cửa mồ, bỏ lại thần chết sau lưng. Và chính đó là nơi những Caipha và Philatô đang ở, không chỉ sau khi chết mà ngay chính khi họ kết án người khác. Cá lớn nuốt cá bé: thực tại thật đau ḷng. Cuộc sống con người thật trớ trêu, nếu không đi vào mầu nhiệm th́ chỉ c̣n hai cách là nhẫn nhục hay nổi loạn. Như Giona được cứu thoát từ trong bụng cá, Chúa Giêsu đă phục sinh. Đấng bị kết án trở thành bản án cho những kẻ kết án và bản tuyên dương cho những người bé mọn.

Theo Chúa Giêsu quả không phải là chuyện đơn giản. Xây nhà thờ, đọc kinh dự lễ, nghiên cứu Kinh Thánh và thần học, thậm chí cả đến giữ những chức vụ cao nhất trong Hội Thánh vẫn chưa hẳn là đă theo Chúa. Sống Tin Mừng, bênh vực và cứu giúp những người hoạn nạn, dấn thân xây dựng một thế giới nhân bản hơn và thần linh hơn, dầu phải thiệt tḥi cá nhân hay cả cho Hội Thánh, đó hoàn toàn không phải là điều dễ dàng. Đôi khi Hội Thánh t́m an toàn cho chính ḿnh, gần như thờ ơ trước bao đau khổ và khát vọng, đặc biệt của những con người bé nhỏ, bênh vực Thiên Chúa đến nỗi bịt miệng những người mang ôn gọi ngôn sứ, thậm chí đến đàn áp và kết án. Trong khi đó, ngày nay bao người chưa biết Thiên Chúa, nhưng dấn thân cho người nghèo, bênh vực nhân quyền, bảo vệ ḥa b́nh. Có thể đó là những người theo Chúa Giêsu hơn rất nhiều người mang danh nghĩa Kitô giáo. Ranh giới có lẽ không c̣n là nghi lễ hay luật lệ nhưng nằm ở chính trái tim mỗi người. Một nguy cơ không hẳn là xa: một số người trong Hội Thánh đi vào vết xe đổ của Caipha và các luật sĩ thời Chúa Giêsu.

Tôi đến Emmau một sáng Chúa Nhật. Nhà thờ đóng cửa. Được biết là có ba địa điểm người ta đoán là Emmau của Chúa Giêsu, tôi dự tính đi nơi khác. Nhưng… có lẽ hôm nay Chúa muốn tôi gặp Chúa trên đường. Phần nào như thánh I-nhă muốn ở lại Giêrusalem, nhưng Chúa muốn hẹn ngài ở Rôma. Chúa gởi các tông đồ đồng hành với con người trên các nẻo đường của họ. Và Chúa đồng hành với các tông đồ trên mọi nẻo đường. Nơi đâu có một con người, ở đó có mầu nhiệm Vượt Qua.

Ngày xưa, thánh I-nhă xem đi xem lại phiến đá phiến đá lưu giữ vết chân Chúa khi lên trời, bất chấp nguy hiểm. Chẳng những vậy, khi bị nắm tay lôi về nhà trọ, ngài cảm thấy vui mừng khôn xiết! Từ Nhà Tiệc Ly, tôi lên đỉnh núi Ôliu, đi lại quăng đường gần chắc các môn đệ đă theo để đến nơi Chúa hẹn. Thấy tháp cao vút của một nhà thờ, tôi phải t́m quanh quẩn măi mới đến được. Khung cảnh thật xanh tươi và thoáng mát. Nhưng đó là nhà thờ Chính Thống Nga. Tôi hỏi thăm, một người có lẽ là linh mục cho biết Chúa Giêsu lên trời tại địa điểm này, c̣n phiến đá chỉ là truyền thuyết thôi. Tôi thực sự không quan tâm lắm về những tranh tụng. Tôi chỉ biết Chúa đă từ biệt các môn đệ trên đỉnh núi Ôliu, nhưng phải t́m bằng được phiến đá gần như huyền thoại. Theo hướng chỉ dẫn, tôi đến nơi có một tấm bảng rất cũ kỹ ghi hàng chữ: Đan viện Biển Đức, Nhà thờ Lên Trời. Trước mắt, tôi chỉ thấy một đền thờ Hồi Giáo. Tất cả các cửa đều đóng kín. Thất vọng, tôi đi tiếp. Nhưng một người đàn ông đến nói nếu tôi muốn viếng nhà thờ Lên Trời th́ xin trả 5 shekels. Vừa không thấy nhà thờ, vừa không thấy ai đến viếng, lại c̣n bị đ̣i tiền, tôi sợ bị lừa gạt nên nói không mang theo tiền, để hôm khác. Tôi tiếp tục t́m kiếm suốt buổi sáng hôm ấy, hỏi người này được chỉ chỗ nọ, hỏi người khác được chỉ chỗ kia. Các cha ở Học Viện Kinh Thánh cho biết tôi đă t́m đến đúng chỗ rồi. Nhà thờ Lên Trời đă được trao cho người Hồi Giáo từ thế kỷ XIII. Trước đây, họ sửa chữa rồi dùng làm nhà thờ Hồi Giáo. Sau đó họ xây dựng nhà thờ khác, và dành chỗ cũ cho khách hành hương Kitô Giáo đến viếng. Tôi hơi ngạc nhiên: vậy mà họ chỉ đ̣i 5 shekels, tương đương 1 euro hay 20 ngàn đồng Việt Nam, chứ không phải 50 shekels! Tôi thầm nghĩ giả như họ đ̣i 100 shekels hay hơn nữa tôi cũng phải vào xem bằng được. Hôm sau trở lại, tôi trả 5 shekels và được vào xem. Ngôi nhà thờ h́nh tṛn, trong một khuôn viên cũng h́nh tṛn, hiện ra ngay khi bước vào cổng. Bên trong, gần giữa nền nhà thờ, có một phiến đá h́nh chữ nhật được đóng khung, dài khoảng 60 cm, ngang khoảng 30 cm, trên đó có h́nh không hoàn toàn rơ nét một vết bàn chân bên phải. Một nhóm người da trắng nói tiếng Anh vào sau tôi chỉ ngó sơ qua rồi đi. Một phụ nữ Arập bước vào, lẳng lặng quỳ gối; làm dấu Thánh Giá, rồi phủ phục hôn kính phiến đá chừng 5 phút. Sau đó, chị ấy lại quỳ lên, làm dấu Thánh Giá trước khi lặng lẽ bước ra.

Thánh I-nhă muốn xem lại phiến đá để biết khi lên trời, Chúa quay mặt về hướng nào. Thú thực là tôi cũng không biết, ngay cả khi đă thấy dấu chân trên phiến đá. Có người cho rằng Chúa quay mặt về hướng bắc. Có lẽ phía nam là sa mạc, là núi Sinai, là Ai Cập… của Cựu Ước, trong khi Chúa nói các môn đệ làm chứng cho Chúa tại Giêrusalem, trong toàn cơi Giuđê, xứ Samari, tức là tiến theo hướng bắc, để ngang qua Galilê tiếp giáp với dân ngoại, rồi đến với toàn thế giới. Điều quan trọng hơn là có thể ở đó, thánh I-nhă đă nghe tiếng Chúa nói với các tông đồ cũng là nói cho ngài: “Hăy đi khắp cùng thế giới… Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Bên ngoài có vẻ ngài bị các cha ḍng Phanxicô ép buộc rời Đất Thánh, nhưng thực ra ngài nhận một sứ vụ phổ quát mà ngài chỉ ư thức rơ hơn khi đến Rôma. Điều quan trọng không phải là quấn quít với vết chân Chúa trên Đất Thánh, nhưng là để Chúa Giêsu in vết chân phục sinh của Chúa trên những bước chân trần thế của ngài.

Đẹp thay những bước chân gieo mầm cứu rỗi,
Đẹp thay những bước chân rảo khắp nẻo đời.

Nhà thờ Lên Trời có kiến trúc nguyên thủy rất độc đáo: nhà thờ h́nh tṛn, đường kính chừng 8 mét, không có mái cũng không có tường. Chung quanh là một khuôn viên cũng h́nh tṛn, tường bao cách chân cột chung quanh nhà thờ khoảng 12 mét. Người Hồi Giáo đă xây tường và lợp mái nhà thờ. Hiện nay, hằng năm vào dịp lễ Lên Trời, ḍng Phanxicô tổ chức thánh lễ trọng thể tại đây.

 

Bêlem

Điều tôi chờ mong nhất trong chuyến đi là được đến Bêlem dịp lễ Giáng Sinh. Mùa xuân vừa qua, tôi đă dự lễ Phục Sinh tại Rôma, nếu được dự lễ Giáng Sinh tại Bêlem nữa th́ thật là trọn vẹn. Có người cho biết là khó ḷng thực hiện được v́ Bêlem thuộc phần đất Palestine, nhưng đang bị quân đội Israel chiếm đóng, và t́nh trạng chiến tranh rất căng thẳng, nên từ năm 2000, khách hành hương bị ngăn chặn không cho đến. Dầu vậy, tôi vẫn cứ hy vọng. Trong thực tế, chẳng những tôi đến được Bêlem dịp lễ Giáng Sinh một lần mà tới hai lần. Riêng đêm lễ Giáng Sinh, tôi c̣n được lựa chọn giữa nhà thờ Giáng Sinh và Cánh Đồng Mục Tử nữa. Tôi đă lựa chọn: lễ đêm tại Cánh Đồng Mục Tử, lễ sáng tại nhà thờ Giáng Sinh.

Tối ngày 24.12.2004, tôi theo cha Dũng, giáo phận Nha Trang, cha Roger, người Camêrun, thầy Florent, người Pháp, lên taxi đi Bêlem. Trời tối như mực và mưa liên miên. Bêlem chỉ cách Giêrusalem chưa đầy 10 km, nhưng ở giữa có chốt kiểm soát quân sự và xe taxi hai bên không được phép qua lại. Một nhóm chừng 20 thanh niên người Pháp chờ chúng tôi ở Cánh Đồng Mục Tử. Họ dẫn chúng tôi xuống hang đá số 5. Tôi cứ nghĩ là sẽ dâng lễ ở trong một nhà thờ giữa cánh đồng, nào ngờ là trong một hang đá hoàn toàn tự nhiên. Tôi buột miệng thốt lên: Lăng mạn quá! Không có ḷ sưởi, hang đá cũng không được trang hoàng chi hết. Hai ngọn đèn điện lúc sáng lúc tắt. Những ngọn nến lung linh trên bàn thờ và trong tay các bạn trẻ tạo nên nét thơ mộng tôi chưa từng thấy cho một thánh lễ Giáng Sinh. Tất cả đều hoang sơ và đơn giản. Có thể nói chỉ c̣n mầu nhiệm được biểu lộ hay ẩn giấu trong cảnh nghèo và t́nh thân. Tôi có cảm tưởng chúng tôi là những mục tử chính hiệu đang ở thật gần với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse. Tôi cảm nghiệm thâm sâu Chúa không cần đến sang trọng hay xa hoa, nhưng khởi đầu cuộc đời giữa cảnh tầm thường nhất. Tôi nhớ đến trong Linh Thao, bóng dáng thập giá thấp thoáng từ hang đá. Nh́n Chúa Giêsu Thánh Thể trong tay, tôi nghĩ có lẽ chưa bao giờ ḿnh gần với một thực tại mầu nhiệm như vậy.

9 giờ sáng ngày 25, tôi theo xe của Đức Hồng Y Martini trở lại Bêlem. Lần này tôi không phải h́nh dung Đức Mẹ và thánh Giuse lầm lũi trong đêm tối dưới trời mưa trên đường đến Bêlem nữa. Nắng chói chang báo hiệu một ngày đẹp trời. Tôi thấy rơ cảnh vật chung quanh. Những khu dân cư khá giả trải dọc hai bên đường. Xe chỉ phải dừng lại trước trạm kiểm soát chưa đầy 1 phút rồi tiếp tục chạy thẳng đến nhà thờ Giáng Sinh. Khách hành hương lũ lượt kéo về Bêlem. Đặc biệt tôi thấy số người da trắng, da đen và da vàng gần như xấp xỉ nhau. Không nghe ai nói tiếng Việt. Cửa vào nhà thờ chỉ vừa đủ cho một người ra hay vào, và phải cúi xuống mới được, v́ chỉ cao khoảng 1,5 mét. Bên trong có hai nhà thờ bên cạnh nhau, một Chính Thống, một Công Giáo. Bên Chính Thống măi đến ngày 6.1 mới mừng lễ Giáng Sinh, nên mặc dầu nhà thờ cổ kính, rộng răi, nhưng không có ai. Trái lại nhà thờ Công Giáo chật ních người. Phải hết sức khó khăn mới đến được nơi ghi dấu đặt máng cỏ Chúa ở tầng hầm. Ai cũng quỳ gối hôn kính ngôi sao 14 cánh có hàng chữ: Chúa Giêsu giáng sinh tại đây. Chắc có nhiều người thắc mắc về mức độ chính xác lịch sử của nơi Chúa chào đời. Tuy nhiên, ở đây số mục tử đông hơn gấp bội số đạo sĩ, nên ḷng đạo b́nh dân thắng lướt tất cả. Thật đơn sơ và cảm động, v́ rất siêu nhiên. Tôi nghe văng vẳng: “Ngôi Lời đă làm người và ở giữa chúng ta”, và : “Đức Kitô đă hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.”

Hôm nay có nhiều thánh lễ liên tiếp bằng nhiều thứ tiếng khác nhau tại nhà thờ chính và tại một số hang ở tầng hầm. Tôi đồng tế trong thánh lễ tiếng Anh do Đức Hồng Y Martini chủ sự tại “Hang đá thánh Giêrônimô”. Chừng 50 giáo dân tham dự. Có 8 linh mục đồng tế. Tương truyền thánh Giêrônimô đă dịch Kinh Thánh sang tiếng Latinh tại đây. Lời Chúa trở thành lời con người, rồi trở thành chính con người. Tôi nhớ lại lời thánh vịnh “Lời Chúa là đèn rọi bước chân con”, và lời Chúa Giêsu “Tôi là ánh sáng thế gian”. Đó cũng chính là lời loan báo của Isaia: “Dân bước đi trong u tối đă nh́n thấy ánh sáng”. Những ước nguyện rất trẻ thơ từ cách đây 20 năm bỗng sống lại trong ḷng tôi:

Em mong làm chú mục đồng
Đi xem Đức Mẹ tay bồng Chúa thơ
Em mong làm chú chiên tơ
Thở hơi nồng ấm Chúa mơ êm đềm
Em mong làm ánh sao đêm
Dẫn ba vua tới Bêlem hiền ḥa
Em mong làm một căn nhà
Có tranh có nhạc có hoa đầy vườn
Để thay lạnh buốt gió sương
Em vui đón Chúa yêu thương xuống trần.

Sau thánh lễ, ở sân nhà thờ, tôi quan sát cảnh trẩy hội. Người thuộc nhiều tiếng nói, nhiều màu da, đủ mọi hạng tuổi… nườm nượp đến với Chúa Giêsu. Ở đây hôm nay quả thực Chúa Giêsu là vua. Bêlem ngày nay chắc không c̣n chút dáng dấp nào của thời xưa. Nhà cửa hoàn toàn theo kiến trúc phương tây. Dân cư đa số là người Arập theo Hồi Giáo. Đối diện với nhà thờ Giáng Sinh là Trung Tâm Ḥa B́nh Bêlem. Tôi không rơ ṭa nhà ấy được sử dụng thế nào, nhưng chỉ cần cái tên cũng đủ thấy chính Chúa Giêsu đă biến đổi Bêlem hoàn toàn. Rồi Đại Học Công Giáo Bêlem, tôi cũng chưa biết ất giáp ǵ, nhưng chắc chắn Bêlem đang trở thành gia sản không chỉ của Kitô Giáo mà của cả nhân loại. Dầu vậy, Bêlem chưa thật ḥa b́nh. Đây là lănh thổ được cộng đồng quốc tế nh́n nhận là của người Palestine, nhưng đang bị quân đội Israel chiếm đóng. Có năm quân đội Israel đă gần như bao vây nhà thờ Giáng Sinh ngay trong dịp lễ Giáng Sinh. May mắn là năm nay tôi không thấy bóng dáng một người lính Israel nào. 70 % dân cư trên Đất Thánh sống nhờ khách hành hương. Nhiều người phải dọn nhà đi v́ đời sống trở nên hết sức khó khăn khi Bêlem và Giêrusalem bị ngăn cách, khiến cho hầu như không c̣n khách hành hương nữa. Ḥa b́nh các thiên thần loan báo từ 2000 năm tại Bêlem vẫn là niềm mơ ước của chính Bêlem.

Trên đường về lại Giêrusalem, tôi nghĩ quăng đường chưa đầy 10 cây số này Chúa Giêsu đă phải đi hơn 30 năm mới đến được. Ngày xưa không có trạm kiểm soát quân sự hay những bức tường chắn ngang, nhưng Người phải vượt qua bao thứ thành kiến, bao suy nghĩ đă thành nếp tưởng chừng là một phần của chính Thiên Chúa, nghĩa là đă đạt tới chân lư trọn vẹn. Cuối cùng, Người phải chết để mở ra một con đường mới. Dấu chân Người đạp lên bao hẹp ḥi, tự măn, ích kỷ, độc tôn để mời gọi con người đến tự do và nhân ái:

Dấu chân Người in lên khắp nơi
Gieo ngược xuôi mấy nẻo đường đời
Trên vành nôi Bêlem khó khăn
C̣n in dấu chân xưa nghèo hèn
Và cát vàng biển sóng Galilê
C̣n in bao dấu chân xưa mịt mờ?

Tôi h́nh dung lại bài chiêm niệm mầu nhiệm Nhập Thể trong Linh Thao: Thiên Chúa Ba Ngôi nh́n ngắm thế giới, rồi Ngôi Hai xuống thế làm người. Trong hơn 30 năm, Chúa chia sẻ kiếp sống của những con người thật b́nh thường. Trong gần 3 năm, Chúa ngược xuôi khắp khu vực đất Thánh, gặp gỡ đủ mọi hạng người, loan báo Tin Mừng cho mọi người. Trong 3 ngày, Chúa bị bắt, bị kết án, bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng rồi Chúa vẫn tiếp tục những cuộc gặp gỡ, chỉ khác một điều là không bị giới hạn vào thời gian và không gian nữa.

 

Hăy đi

7 giờ sáng Chúa Nhật 2.1.2005, tôi đến dâng lễ tại bàn thờ Calvario ở nhà thờ Mồ Thánh. Cha Dũng từ Trường Kinh Thánh cũng đến đồng tế với tôi. Chúng tôi mừng lễ Hiển Linh. Hăy vùng đứng, hăy bừng sáng, Giêrusalem! Tôi cảm thấy lời mời gọi của ngôn sứ Isaia nay trở thành lời cầu khẩn của ḿnh. Chúng tôi vừa khởi sự thánh lễ bằng tiếng Việt th́ có khoảng 10 người nói tiếng Pháp đến xin dự lễ, nên chúng tôi chuyển sang tiếng Pháp. Thế là Phương Đông và Phương Tây hợp nhau tế lễ ngay tại Núi Sọ để mừng lễ Hiển Linh. Sau Tin Mừng, tôi chia sẻ đột xuất: Chúng tôi từ phương đông đến với Chúa. Anh chị em từ phương tây cũng đến với Chúa. Ánh sao nào dẫn đường? Chắc chắn đă có một ánh sao. Chúa Giêsu với t́nh yêu bị đóng đinh, với trái tim bị đâm thâu, không chỉ là ánh sao, nhưng là mặt trời chói chang. Giữa trưa hôm Chúa chịu chết, trời đất tối tăm, v́ mặt trời lặn. Nhưng mặt trời lại xuất hiện với ánh sáng chói chang và đem lại nét rực rỡ cho cả mặt đất, từ đông sang tây. Chúng ta không phải là mặt trời chói chang, cũng không phải là những ánh sao lập ḷe nhưng là những vầng trăng khi tỏ khi mờ, hướng những người đang lầm lũi đi t́m ư nghĩa cho cuộc sống về mặt trời là nguồn ánh sáng. Hăy bừng sáng Giêrusalem, này đây vinh hiển Chúa cao chiếu ngươi. Giêrusalem không phải là thành phố cổ kính đầy dấu tích của Chúa này nữa, nhưng là chính cuộc sống của chúng ta. Cùng với các đạo sĩ, chúng ta đến đây thờ lạy Chúa, để nhận lấy ánh sáng từ nguồn ánh sáng. Xin Chúa Giêsu Thánh Thể mà chúng ta sắp đón rước trở nên mặt trời chói chang cho chính cuộc đời của chúng ta.

Trường Kinh Thánh của các cha ḍng Đaminh ở gần cổng Damas. Theo các nhà chuyên môn, thánh Stêphanô đă chịu tử đạo bên ngoài cổng thành này. Ngày 26.12, tôi đến đó tham dự thánh lễ. Làm chứng cho Chúa Giêsu, đó là lời mời gọi tha thiết và đầy tŕu mến. Có lẽ v́ bên cạnh nhà thờ có địa điểm gọi là Vườn Mộ mà người Anh Giáo cho là nơi đă thực sự an táng Chúa Giêsu, nên sau bài giảng, một người bên cạnh hỏi tôi:

- Tại sao có người nói mộ Chúa Giêsu ở gần đây chứ không phải ở nhà thờ Mồ Thánh?

- Ông à, về Đất Thánh, tôi nghĩ chủ từ và động từ th́ chắc chắn, c̣n các bổ nghĩa từ chỉ nơi chốn th́ không quan trọng lắm.

Thực vậy, tôi tin giờ đây Chúa Giêsu cần người làm chứng cho Chúa h?n là quanh quẩn bên mộ Chúa. Trường Kinh Thánh trong hơn 100 năm qua đă góp phần đáng kể vào việc học hỏi Lời Chúa với bộ Kinh Thánh Giêrusalem và bao nhiêu nhà nghiên cứu. Đó cũng là một cách làm chứng cho Chúa rất quan trọng. Và tôi thấy cảm phục những linh mục, một cách đặc biệt các nữ tu và cả giáo dân, miệt mài với sách vở để hiểu Lời Chúa hơn và có thể làm chứng cho Chúa hơn. Điều đánh động tôi thật nhiều là tại Giêrusalem tôi gặp các môn đệ của Chúa từ rất nhiều nơi: họ là những chứng nhân. Tôi có dịp tham dự thánh lễ với người Tây Ban Nha, người Nigiêria, người Inđônêxia, người Đại Hàn, người Đức, và cả cha Jesús Roberto, thổ dân da đỏ Mêhicô nữa. Họ đến Giêrusalem rồi ra đi. Và có Chúa Giêsu đồng hành.

Nh́n Chúa Giêsu nhỏ bé dang tay và mỉm cười giữa những bông trạng nguyên trong nhà nguyện Viện Kinh Thánh, lại nghĩ về những em bé sinh ra ở đầu thế kỷ XXI này. Những bông trạng nguyên tươi thắm măi không? Bao nhiêu em bé sinh ra trong nghèo khổ, thiếu cả đến những điều tối thiểu. Rồi dù cha mẹ giàu hay nghèo, các em vẫn cần đến t́nh thương, giáo dục, xă hội? Trong một thế giới kẻ mạnh lấn át, đẩy kẻ yếu vào đường cùng, các em sẽ được hưởng công lư và ḥa b́nh không? Trong một thế giới chạy theo hưởng thụ vật chất, liệu các em c̣n t́m được niềm vui? Trong một thế giới c̣n bao bức tường ngăn cách, liệu các em có được những người bạn? Trong một thế giới ồn ào tiếng của con người, liệu các em c̣n nghe được tiếng Chúa? Chúa sẽ măi măi dang tay và mỉm cười: hy vọng ngày mai những bông hoa trạng nguyên măi tươi thắm.

Tôi băn khoăn không biết làm sao đi Qumran và Biển Chết được. Các công ty du lịch chỉ tổ chức chuyến đi cho nhóm 4 người, mỗi người 64 đôla; đi một ḿnh th́ phải trả phần của cả 4. Đi xe đ̣ th́ cha bề trên cộng đoàn ngăn cản v́ sợ có nguy cơ bị khủng bố. Cuối cùng, tôi xin cha Dũng thuê xe taxi để hai anh em cùng đi: thật dễ dàng. Khung cảnh thật lạ lùng, tôi chưa hề thấy như vậy bao giờ. Đây là vực thẳm của mặt đất. Núi toàn đất và đá, không một bóng cây. Bên sườn núi thỉnh thoảng có một số cửa hang động. Từ trên núi nh́n xuống thấy di tích khu nhà ở cộng đoàn Qumran, rồi cánh đồng khô cằn, rồi xa hơn nữa là Biển Chết. Bao nhiêu người đă từng đến sống ở đây để chăm chú học hỏi Kinh Thánh Cựu Ước và cầu nguyện. Đối với nhiều người thật là điên rồ. Đường dẫn nước hết sức thô sơ. Pḥng chép Kinh Thánh khá lớn. Tất cả nét linh thiêng khắc khổ làm cho khách hành hương phải suy nghĩ lại về thế giới hôm qua và hôm nay. Biển Chết không có ǵ hấp dẫn, ngoại trừ cảm giác mơ hồ về đáy vực thẳm. Sự chết hay sự sống rất khó phân biệt, nếu chỉ nh́n bên ngoài. Thiên Chúa của Kinh Thánh không phải là Thiên Chúa của sự chết nhưng của sự sống. H́nh như Tin Mừng không nhắc đến Biển Chết bao giờ. V́ vậy, ở bên Biển Chết, tôi có cảm tưởng ḿnh ở xa Chúa Giêsu. Tiếng kêu cứu của kẻ bị bỏ trong vực thẳm tuyệt vọng vẫn vang vọng.

Ngày cuối ở Giêrusalem, tôi gặp lại cha Jesús Roberto, thổ dân da đỏ ở Mêhicô. Đây là một linh mục đơn sơ và tự do hiếm thấy. Một buổi tối ở Tiberias, cha ấy dẫn tôi đi dạo phố. Chỗ nào cha ấy cũng vào, cửa hàng bán đồ lưu niệm, cửa hàng bánh mứt, cửa hàng quần áo, kể cả nhà hàng, quán cà phê ca nhạc, khách sạn, pḥng khiêu vũ chỉ để xem. Biết hôm sau tôi về Paris, cha ấy nhất định đ̣i tôi dâng lễ bằng tiếng Việt Nam để cha ấy dự. Tôi không có sách lễ, nên nhớ ǵ đọc nấy, quên th́ tự phát. Cha ấy dự lễ rất sốt sắng, mặc dầu chỉ biết lặp lại amen mỗi khi tôi đọc amen. Hai linh mục ở hai phương trời, tưởng chừng không bao giờ có thể gặp nhau, nhưng bất ngờ gặp nhau ở bờ hồ Galilê và nhận ra nhau cùng là môn đệ Chúa Giêsu, thế là t́nh anh em chớm nở. Sau lễ, chúng tôi chia tay, không biết bao giờ gặp lại, nhưng vẫn biết ở nửa bên kia của trái đất, ḿnh có một người anh em. Lời hát của bài Ba Vua Hành Khúc theo tôi suốt trên đường về lại Paris:

Mai đây quay gót trên đường về xa vắng
Ḷng lâng lâng biết có Giêsu luôn gần.

Máy bay cất cánh đưa tôi xa Đất Thánh lúc mặt trời mọc hôm 4.1.2005. Nh́n nh́n cảnh hừng đông, tôi đọc kinh Chúc Tụng: Thiên Chúa ta đầy ḷng trắc ẩn, cho Vầng Đông từ chốn cao vời viếng thăm ta. Bên dưới, Địa Trung Hải trở thành nơi ghi dấu các hành tŕnh tông đồ của thánh Phaolô. Tôi đổi máy bay ở Athêna, quê hương của cả một nền văn minh cổ kính, với bao nhà tư tưởng, nhà khoa học. Tiếp tục hành tŕnh, bên dưới là nước Ư với mộ của thánh Phêrô, thánh Phaolô và bao nhiêu vị tử đạo khác. Rồi đến nước Pháp với thánh Irênê, thánh Blandine. Cuối cùng máy bay hạ cánh, tôi trở về với nơi giữ mộ của thánh Denis và thánh Geneviève, và bao kỷ niệm của thánh Inhă và các bạn đầu tiên. Bước chân phục sinh của Chúa Giêsu không ngừng tiếp tục in trên những bước chân trần thế của bao môn đệ. Toàn thể mặt đất ngày nay đă trở thành Đất Thánh. Xưa Chúa Giêsu đă nhận lấy Capharnaum của các môn đệ làm thành của Chúa. Ngày nay nhân loại vốn là anh em nhưng đang sống giữa rất nhiều mâu thuẫn. Các môn đệ được mời gọi dấn thân ?? biến thế giới mâu thuẫn thành thế giới huynh đệ. Nơi nào có những người dấn thân khai phóng, nơi đó là quê hương của Chúa.

Nh́n xuống một phần mặt đất màu xanh dương và xanh lục đă đón nhận Tin Mừng từ đầu  nhưng nay gần như dấu chân các tông đồ đă trở thành mịt mờ, tôi cảm thấy được thôi thúc tiếp bước các ngài. Hội Thánh vẫn thực sự lên đường. Tuy nhiên, tôi cũng phần nào băn khoăn v́ thấy một phần đáng kể của Hội Thánh hơi nặng nề về cơ chế, quyền bính, giáo điều, nên đánh mất sức năng động thời các tông đồ. Tôi cứ tự hỏi không biết Hội Thánh có cần nhiều bàn giấy như hiện nay không? Và giáo luật rồi giáo quyền có thực sự cổ vơ sự hiệp nhất và sức mạnh tổng thể các tín hữu không? Chỉ sợ chẳng may có lúc Chúa Thánh Thần được đồng hóa với giáo quyền và giáo luật th́ thật là bất hạnh. Tôi nhớ đến thánh Inhă, trong vai tṛ bề trên và phụ trách việc soạn thảo Hiến Chương Ḍng Tên, tự nhận là chỉ làm công việc 'thúc cho ngựa phi'. Một h́nh ảnh đơn sơ nhưng thật đẹp: đó là vai tṛ của Chúa Thánh Thần. Nhân loại ngày nay rất cần đến Hội Thánh. Vả lại, Thiên Chúa cũng rất cấn đến Hội Thánh. Và hiện nay Hội Thánh đúng là một con ngựa đang trên đường thiên lư.

Lạy Chúa, xin cử Thánh Thần đến,
Để Người đổi mới bộ mặt trái đất.

    Và h́nh ảnh đầu tiên tôi thấy trên Đất Thánh, khi máy bay hạ cánh trên sân bay Ben Gurion, lại hiện lên: một thành phố rực rỡ trong ánh đèn sắp tràn ngập ánh b́nh minh.

Paris, 9.2.2005

Lễ Tro và Mồng Một Tết Ất Dậu

 

1. Giêrusalem nh́n từ Tháp Đavít

Trong những năm trước khi Chúa Giêsu chào đời, vua Hêrôđê cho xây một pháo đài ở Giêrusalem, sau đó được gọi là Tháp Đavít, hiện nay được dùng làm viện Bảo Tàng Giêrusalem. Đứng trên sân thượng Tháp Đavít nh́n về hướng đông, chúng ta thấy bao quát khu vực Giêrusalem thời Chúa Giêsu. Nổi bật lên chính giữa là ngôi Đền Vàng của Hồi Giáo. Đây là địa điểm cũ của Đền Thờ. Xa hơn một chút và hơi chếch về bên tay phải, nơi có một ngọn tháp nhà thờ cao vút, là đỉnh núi Ôliu.

 

2. Sa mạc xứ Giuđê

Chúng ta từ Giêrusalem đi Nazareth. Đường gần nhất là đi ngay về hướng bắc. Tuy nhiên như vậy phải băng ngang xứ Xamari, mà xứ này hiện thuộc Palestine, nên không được phép. Trước hết chúng ta phải đi về hướng đông, phía Biển Chết. Khu vực này hầu hết khô cằn, nhiều nơi là núi đá, không có người sinh sống. Đó là vùng sa mạc Giuđê. Có lẽ sau khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu đă đến tĩnh tâm 40 ngày và chịu cám dỗ trong vùng này.

 

3. Chà là xứ Samari

Không được phép đi qua thành phố Giêrikhô thuộc Palestine, chúng ta phải theo đường ṿng, rồi lên hướng bắc dọc theo thung lũng sông Giođan. Khu vực này khá xanh tươi, rất nhiều cây chà là, thỉnh thoảng có cả những vườn chuối nữa. Thỉnh thoảng chúng ta thấy hàng rào kẽm gai hay tường ngăn cách đường xe với làng xóm : đó là khu vực Palestine.

 

4. Đồi núi xứ Galilê

Đến xứ Galilê, chúng ta được đi ngang qua các làng xóm hay đô thị. Xứ Galilê nhiều đồi núi, rất xanh tươi và dân cư đông đúc. Nhà cửa và đường sá được xây dựng chẳng khác ǵ bên Châu Âu. Cả các hàng quán cũng như ở Châu Âu. Có lẽ điều khác biệt rơ nét nhất là không thấy ngôi nhà thờ nào hết.

 

5. Trước nhà Nazareth

Đi xe hơi từ Giêrusalem đến Nazareth hết khoảng 3 giờ. Hiện nay Nazareth có 60 ngàn dân. Đó là một đô thị hoàn toàn như ở Châu Âu, với đủ các ngân hàng, khách sạn, siêu thị, nhà máy và dinh thự. Ngoài việc nhà cửa được xây dựng trên sườn đồi, chúng ta hầu như không h́nh dung nổi làng Nazareth vô danh ngày xưa của Chúa Giêsu. Nhà thờ Truyền Tin là một kiến trúc tân thời kiểu Châu Âu. Trên lầu là nhà thờ chính. Tầng trệt là nhà nguyện ngay trước căn nhà của Đức Mẹ xưa kia. Nhà Đức Mẹ là một căn nhà nhỏ nhưng xây dựng vững chắc và có một phần là hầm đào vào sườn núi.

 

6. Ngôi Lời nhập thể tại đây

Đó là hàng chữ ghi trên tấm bảng lưu niệm đặt dưới bàn thờ trong nhà Đức Mẹ. Tương truyền đây là nơi thiên thần đến báo tin cho Đức Mẹ về việc Ngôi Hai xuống thế làm người và làm con của Mẹ. Đáp lại, Mẹ đă thưa xin vâng. Các tín hữu thường kính cẩn quỳ gối hôn kính nơi Chúa nhập thể.

 

7. Nhà thờ Thăm Viếng

Chúng ta trở lại Giêrusalem. En Karim là một làng trên khu vực đồi núi phía tây nam Giêrusalem. Được tin bà Elisabeth thụ thai lúc đă cao tuổi, Đức Mẹ từ Nazareth đến En Karim thăm bà.

 

8. Trước nhà thờ Thăm Viếng

Ngay bên cạnh lối vào nhà thờ, có tượng Đức Mẹ và bà Elisabeth gặp nhau. Nghe tiếng Đức Mẹ chào, bà Elisabeth cảm thấy thai nhi nhảy mừng trong ḷng ḿnh. Bà gọi Đức Mẹ là người có phúc hơn mọi người phụ nữ. Đức Mẹ đáp lại bằng kinh Ngợi Khen.

 

9. Tại nhà thờ Thăm Viếng

 Trên tường bên cạnh lối vào nhà thờ, có một số kinh Ngợi Khen bằng các thứ tiếng khác nhau. Bản kinh tiếng Việt Nam theo sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ cho thấy là mới được ghi trong những năm gần đây.

 

9. Nh́n từ nhà thờ Thăm Viếng

 Đây là cảnh En Karim vào một buổi sáng có sương mù. Khung cảnh chung quanh vốn đă rất nên thơ lại càng thêm huyền ảo. Bên kia thung lũng, trên cao là nhà thờ Thánh Gioan Tẩy Giả.

 

10.  Đêm Giáng Sinh ở một hang đá

Ở giữa cánh đồng Bêlem có một nhà thờ mệnh danh là Cánh Đồng Mục Tử. Gần nhà thờ có những hang đá tự nhiên. Vào đêm Giáng Sinh 2004, nhiều nhóm đến dâng lễ tại các nơi ấy. Trong h́nh là thánh lễ của một nhóm thanh niên Pháp ở hang đá số 5.

 

11.  Nhà thờ Giáng Sinh Bêlem

Chúng ta đang đứng trong sân nhà thờ Giáng Sinh ở Bêlem sáng ngày 25.12.2004. Ngôi nhà thờ mang nét rêu phong v́ cổ kính. Bêlem chỉ cách Giêrusalem chưa tới 10 km, nhưng thuộc Palestine, và do t́nh trạng chiến tranh liên miên từ năm 2000, rất ít ai đến viếng. Năm nay số khách hành hương đến Bêlem đông gấp hai năm ngoái.

 

12.  Vào nhà thờ Giáng Sinh

Đây là cửa duy nhất để ra vào nhà thờ. Chỉ vừa chỗ cho một người đi, và hầu như ai cũng phải cúi xuống mới qua được. Không phải v́ Chúa đ̣i chúng ta phải nên thấp bé mới đến được với Chúa. Đơn giản là trong thời kỳ Đất Thánh thuộc quyền cai trị của người Hồi Giáo, nhiều khi họ ngang nhiên cỡi ngựa vào trong nhà thờ. Để tránh, giáo quyền cho bít phần lớn cửa chính lại, chỉ chừa lại một cửa nhỏ như hiện nay.

 

13.  Hôn kính nơi đặt máng cỏ Chúa

Sáng ngày lễ Giáng Sinh, phải hết sức khó khăn và xếp hàng chờ đợi gần một giờ chúng ta mới đến được địa điểm này ở tầng hầm nhà thờ. Các tín hữu lần lượt qú gối cung kính hôn nơi đă đặt máng cỏ của Chúa.

 

14.  Nơi đặt máng cỏ

 Chúa Giêsu chào đời tại đây. Đó là hàng chữ ghi trên ngôi sao 14 cánh.

 

16. Bên trong nhà thờ Giáng Sinh

Thực ra bên trong nhà thờ Giáng Sinh có hai nhà thờ. Nhà thờ Chính Thống, lớn hơn và cổ kính hơn, nhưng v́ đến ngày 6.1 mới mừng lễ Giáng Sinh nên hôm 25.12 vắng lạnh. Trái lại nhà thờ Công Giáo nhỏ hơn và hiện đại hơn, th́ đầy giáo dân từ khắp nơi đến dự lễ. Bầu khí vừa tưng bừng vừa linh thiêng.

 

17. Thánh lễ do Đức Hồng Y Martini chủ sự

 Tại nhà thờ Giáng Sinh hôm ấy có nhiều thánh lễ suốt ngày ở nhiều nơi. Ngoài nhà thờ chính c̣n có thánh lễ tại các nhà nguyện, chỗ th́ bằng tiếng Pháp, chỗ th́ bằng tiếng Ư hay tiếng Tây Ban Nha. Thánh lễ tại Hang Thánh Giêrônimô do Đức Hồng Y Martini, nguyên tổng giám mục Milano, chủ sự bằng tiếng Anh. Hang này ở tầng hầm, tương truyền là nơi thánh Giêrônimô xưa kia đă dịch Thánh Kinh sang tiếng Latinh mà hiện nay chúng ta gọi là bản Phổ Thông.

 

18. Trước nhà thờ Giáng Sinh 1

 Năm 2004, rất đông tín hữu từ khắp nơi đến Bêlem mừng lễ. Từ năm 2000, do t́nh trạng chiến tranh giữa Israel và Palestine, số người đến Đất Thánh đă giảm 70%, nhưng năm nay đă tăng lên hơn gấp đôi năm ngoái. Về các đoàn Châu Á, có khá đông người Philippin và Đại Hàn. Không nghe ai nói tiếng Việt Nam.

 

19. Trước nhà thờ Giáng Sinh 2 

 Các đoàn Châu Phi thường sinh động hơn các đoàn khác. Họ ca hát, nhảy múa cả ở trong cũng như ngoài nhà thờ. Sự hiện diện của họ làm cho bầu khí lễ hội thêm nét tưng bừng.  

 

20. Trung tâm Ḥa B́nh Bêlem

 Đối diện với nhà thờ Giáng Sinh, ở bên kia đường, có một ṭa nhà mang tên là Trung Tâm Ḥa B́nh Bêlem. Chúa Giêsu được ngôn sứ Isaia loan báo là Thái Tử Ḥa B́nh. Trong đêm Giáng Sinh, các thiên thần ca hát: B́nh an dưới thế cho loài người được Thiên Chúa yêu thương. Thánh Phaolô nói: Người là b́nh an của chúng ta.

 

21. Máng cỏ cộng đoàn Ḍng Tên

 Viện Kinh Thánh của Ṭa Thánh tại Rôma được giao cho Ḍng Tên phụ trách. Viện có chi nhánh tại Giêrusalem để các sinh viên đến học tiếng Hipri trong một năm ở đại học. Hiện có hơn 10 linh mục, một nữ tu và một giáo dân tận hiến đang ở đó. Các sinh viên làm một máng cỏ dưới bàn thờ trong nhà nguyện.

 

22. Sông Giođan

 Sông Giođan hiện là nguồn nước chính của Israel, và t́nh trạng chiến tranh kéo dài một phần cũng v́ ḍng sông này. Bắt nguồn từ Libăng, sông chảy qua hồ Galilê rồi chảy vào Biển Chết. Hai bên sông là một thung lũng khá xanh tươi. Bề rộng của sông thường vào khoảng 5-6 mét. Có lẽ thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa và Chúa Giêsu chịu phép rửa ở đoạn gần Biển Chết.

 

23. B́nh minh trên hồ Galilê 1

 Hồ Galilê chiều dài hơn 20 km, chiều rộng hơn 10 km, ở độ sâu 212 mét dưới mực nước biển. Đây là nơi có nhiều cá, nhưng đôi khi cũng có sóng to gió lớn. Đa số các tông đồ là những người đánh cá trên bờ hồ này.

 

24. B́nh minh trên hồ Galilê 2

 Chúa Giêsu có lần ngồi trên thuyền của thánh Phêrô giảng cho dân chúng ngồi nghe ở trên bờ hồ. Sau đó Chúa bảo thánh Phêrô : Hăy ra khơi thả lưới. Có lần Chúa bắt sóng to gió lớn trên hồ phải ngưng. Có lần Chúa đi trên mặt nước hồ để đến với các tông đồ, và cho thánh Phêrô cũng đi trên mặt hồ. Khi thấy sóng gió, thánh Phêrô sợ nên ch́m xuống, nhưng được Chúa cứu và trách : Yếu tin ! Sau khi sống lại một buổi sáng sớm Chúa hiện ra với các tông đồ trên bờ hồ.

 

25. Hồ Galilê ban mai

 Không thấy thuyền đánh cá hay thuyền du lịch nào. Đây là một buổi sáng yên tĩnh. Mặt hồ gợn sóng lấp lánh. Những đàn chim bay nhởn nhơ trên cao. Chắc ngoài những lúc vất vả, Chúa Giêsu và các tông đồ thỉnh thoảng cũng có được những giây phút thư thái ngắm cảnh hồ ban mai như thế này.

 

26. Di tích Capharnaum

 Vào thời Chúa Giêsu, Capharnaum với khoảng 10 ngàn dân là đô thị lớn nhất xứ Galilê. Tọa lạc trên bờ hồ Galilê, ở đó có doanh trại quân đội Rôma và đủ hạng người, kể cả người ngoại đạo. Thánh Matthêu gọi đó là thành của Chúa v́ đó là nơi ở thường xuyên của Chúa trong thời gian rao giảng ở Galilê. Hiện nay Capharnaum chỉ c̣n lại một ít di tích. Thành phố lớn nhất hiện nay của Galilê là Tiberias, cũng ở bờ hồ Galilê, cách Capharnaum khoảng 10 km về phía nam.

 

27. Di tích Hội Đường Capharnaum

 Hội đường thời Chúa Giêsu không c̣n nữa. Đây là di tích hội đường xây dựng vào thế kỷ II trên nền cũ. Tại đây Chúa Giêsu đă ra mắt dân Capharnaum khiến họ sửng sốt: Chúa giảng như người có quyền và xua đuổi thần ô uế. Tại đây Chúa giảng về Bánh Sự Sống gây nên tranh luận và cuối cùng đa số bỏ Chúa.

 

28. Di tích nhà thánh Phêrô

 Địa điểm này ở trước mặt hội đường và chỉ cách hội đường khoảng 30 mét. Các khai quật khảo cổ cho thấy đó là một ngôi nhà khá rộng răi và kiên cố. Nhiều chi tiết hoa văn trên đá cho thấy tŕnh độ kỹ thuật và nghệ thuật của tác giả ở mức độ cao.

 

29. Tượng thánh Phêrô tại Capharnaum

 Thánh Phêrô được Chúa Giêsu kêu gọi ở Capharnaum. Tại đây ngài đă nói một câu đáng ghi nhớ : Bỏ Thầy chúng con biết theo ai, v́ chỉ Thầy mới có những lời ban sự sống. Có thể cũng tại đây, sau khi phục sinh, Chúa Giêsu trao cho ngài nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa.

 

30. Nhà thờ Capharnaum

 Đây là nhà thờ Chính Thống, nằm cách di tích hội đường Capharnaum khoảng 100 mét. Ở khu vực hội đường do ḍng Phanxicô coi sóc chỉ có một nhà nguyện nhỏ.

 

31. Trên hồ Galilê

 Đây là một bức trong nhiều bức ảnh ở nhà thờ Chính Thống mô tả các việc xảy ra cho Chúa Giêsu và các tông đồ trên hồ Galilê.

 

32. Nhà thờ Các Mối Phúc 

 Theo truyền tụng, Chúa Giêsu giảng Bài Giảng Trên Núi trên một ngọn đồi bên bờ hồ Galilê, gần Capharnaum. V́ bài giảng khởi đầu với Các Mối Phúc nên nhà thờ này được gọi tên như vậy. Nhà thờ nhỏ, chỉ có chỗ cho khoảng 50 người. Tuy nhiên, khuôn viên rộng và đẹp như một khu du lịch.

 

33. Bên trong nhà thờ Các Mối Phúc 

 Bên trong nhà thờ sáng dịu, nh́n ra chung quanh cây cối xanh tươi.

 

34. Nhà thờ Hiển Dung Tabor

 Núi Tabor cao 562 mét, cao nhất ở Galilê, cách Nazareth 9 km, thường được dân Galilê coi là nơi thánh. Tại đây bà Đêbôra đă chiến thắng tướng Sisera. Chắc trong 30 năm ẩn dật tại Nazareth, Chúa Giêsu đă từng lên núi này, để thử sức, ngắm cảnh và nhất là để cầu nguyện. Tương truyền đang trên đường đi Giêrusalem chịu chết, Chúa Giêsu đă lên núi cầu nguyện và hiển dung trước mặt ba môn đệ thân tín.

 

35. Chúa hiển dung

 Bên trong nhà thờ, phía trên bàn thờ chính.

 

36. Nh́n từ núi Tabor 1

 Từ núi Tabor có thể nh́n bao quát xứ Giuđê. Khung cảnh rất đẹp.

 

37. Nh́n từ núi Tabor 2

 Xa xa, bên kia hồ Galilê, trên đỉnh những ngọn núi ở Giođani, chúng ta thấy cả tuyết trắng.

 

38. Núi Ôliu

 Chúng ta trở về Giêrusalem. Từ núi Sion nh́n sang hướng đông bắc, chúng ta thấy núi Ôliu với ngọn tháp cao của nhà thờ Chính Thống. Đó là nơi diễn ra nhiều sự kiện liên quan đến Chúa Giêsu.

 

39. Nhà thờ Kinh Lạy Cha

 

 Nhà thờ nằm trên sườn núi Ôliu. Tương truyền Chúa Giêsu đă dạy các môn đệ cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha tại đây.

 

40. Trong nhà thờ Kinh Lạy Cha 

 Trong nhà thờ và trên những bức tường bao quanh khuôn viên, có hàng trăm kinh Lạy Cha bằng các thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Bản tiếng Việt Nam ở trong nhà thờ. V́ chỉ có chừng hơn 10 bản được ghi ở trong nhà thờ, và theo bản kinh cũ trước năm 1969, nên chắc bản kinh này đă có từ khá lâu và trước nhiều bản kinh bằng các thứ tiếng khác.

 

41. Trong nhà thờ Chúa Khóc

 Vẫn ở sườn núi Ôliu, có nhà thờ Chúa Khóc. Tin Mừng thuật lại việc Chúa Giêsu khóc thương Giêrusalem : Bao nhiêu lần Ta muốn qui tụ ngươi như gà mẹ ấp ủ đàn con dưới cánh, nhưng ngươi không chịu. Kẻ thù sẽ đến tàn phá ngươi không c̣n ḥn đá nào trên ḥn đá nào. Tương truyền điều ấy đă diễn ra tại đây. Năm 70, tức là sau khi Chúa qua đời chừng 40 năm, tướng Titô của Rôma đàn áp một cuộc nổi dậy của người Do Thái đă phá hủy hoàn toàn đền thờ Giêrusalem.

 

42. Nh́n từ trong nhà thờ Chúa Khóc

 Đầu nhà thờ Chúa khóc hướng về phía địa điểm đền thờ và được lắp bằng kính trong, nên đứng trong nhà thờ có thể thấy như trong h́nh. Nổi bật nhất là ngôi Đền Vàng Hồi Giáo, địa đỉểm đền thờ Giêrusalem cũ. Gần hơn một chút là bức tường bao quanh một phần do vua Hêrôđê xây trước khi Chúa Giêsu chào đời, một phần do hoàng đế Soliman II xây năm 1536.

 

43. Nh́n từ nhà thờ Chúa khóc

 

Đứng ở sân ngắm cảnh đầu nhà thờ, chúng ta thấy rơ hơn ngôi đền và bức tường thành.

 

44. Di tích hồ Bethesda 1 

 Thánh Gioan thuật việc Chúa Giêsu chữa lành một người bất toại ở hồ Bethesda và hồ này có 5 hành lang. Có thời người ta nghĩ chắc thánh Gioan muốn ám chỉ điều ǵ đó, chứ không h́nh dung được một hồ có 5 hành lang. Những khai quật gần đây cho thấy đó la một hồ h́nh chữ nhật, dài khoảng 60 mét, ngang khoảng 20 mét, có 4 hành lang chung quanh. Hồ được chia thành hai phần, ngăn cách bằng một bức tường, bên trên có hành lang thứ 5. Hồ này ở phía bắc Đền Thờ và có hệ thống dẫn nước vào Đền Thờ.

Bên cạnh hồ, truyền tụng cho là nhà của thánh Anna : tại đó có di tích nơi Đức Mẹ chào đời và nơi thánh Anna qua đời.

 

45. Di tích hồ Bethesda 2

Chúng ta thấy được phần nào chiều sâu của hồ.

 

46. Suối Siloê

 Trong khi hồ Bethesda ở phía bắc và ở điểm cao nhất th́ suối Siloê ở điểm thấp nhất và ở phía nam đền thờ, nơi hai thung lũng Hinnom và Kidron gặp nhau. Gọi là suối, nhưng thực ra đó chỉ là một khe nước, bề ngang chừng 50 cm. Chúa Giêsu bảo anh thanh niên bị mù từ khi mới sinh đến rửa mắt tại đây và anh được sáng.

 

47. Địa điểm Đền Thờ ngày xưa

 Đối với người Do Thái, đền thờ là nơi Thiên Chúa ở với dân nên rất linh thiêng. Đền thờ đầu tiên rất lộng lẫy được vua Salomon xây dựng khoảng năm 900 trước Chúa Giêsu, tại địa điểm được coi là chỗ Abraham đă định sát tế Isaac. Năm 587, hoàng đế Nabuchodonosor phá hủy đền thờ và bắt dân đi lưu đày Babylon. Sau khi hồi hương năm 539, đền thờ thứ hai, nhỏ hơn và đơn giản hơn, dân Do Thái xây đền thờ thứ hai. Vào những năm trước Chúa Giêsu, vua Hêrôđê cho xây đền thờ thứ ba tại địa điểm cũ, nhưng lớn bằng hai đền thờ thứ nhất. Nền đền thờ được nới rộng : chiều dài hơn 400 mét, chiều ngang hơn 300 mét. Đền thờ này bị phá hủy năm 70. Sau đó người Rôma cho xây dựng đền thờ các thần của họ trên nền cũ. Năm 691, người Hồi Giáo xây ngôi Đền Vàng chúng ta c̣n thấy hiện nay. Ngôi đền này được người Hồi Giáo coi là linh thiêng thứ ba, sau Mecca và Medina, v́ là nơi giáo chủ Mahômét lên trời.

 

48. Nhà thờ Bêthania

 Bêthania là một làng quê chỉ cách núi Ôliu vài cây số, nhưng hiện nay thuộc Palestine. Ở đó có nhà ba chị em thánh Martha, Maria và Lazarô. Chúa Giêsu thường ghé lại đó v́ rất thương ba chị em, và cũng là nơi yên tĩnh, có lẽ tương tự Nazareth, chứ không ồn ào như ở Giêrusalem. Tại đó, Chúa Giêsu đă cho Lazarô sống lại.

 

49. Mộ Lazarô

Ngôi mộ được đào sâu dưới đất, chia làm hai tầng, như hai bậc thang kế nhau. Tầng trên là chỗ thân nhân đến viếng. Tầng dưới đặt xác người chết. Người Do Thái thời Chúa Giêsu không dùng quan tài, chỉ liệm xác bằng vải rồi đem đặt trong mộ.

 

50. Lazarô, ra đây !

 Giữa phần trong và phần ngoài có một lỗ hổng nhỏ, thân nhân đứng bên ngoài có thể nh́n qua đó thấy xác người chết. Theo truyền tụng, Chúa Giêsu đă gọi qua lỗ hổng ấy : Lazarô, ra đây. Khách đến viếng thường được mời bắt chước Chúa Giêsu gọi Lazarô ra khỏi mồ.

 

51. Bên trong nhà thờ Bêthania

  

Tại Bêthania, Chúa Giêsu nói : Tôi là sự sống lại và là sự sống. Câu ấy được ghi phía trên bàn thờ chính trong nhà thờ.

 

52. Di tích nhà thánh Marta

  Đó là những ǵ c̣n lại của một căn nhà thời xa xưa. Căn nhà rất bề thế chứng tỏ chủ nhân là người khá giả.

 

53. Bên trong nhà thánh Marta

 Trong nhà có cối xay bột, máy ép dầu ôliu, bồn ép nho… chứng tỏ thánh Marta rất quan tâm đến việc ăn uống.

 

54. Nhà thờ Bethphaghê

Nhà thờ được xây dựng trên sườn núi Ôliu để lưu niệm Chúa Giêsu khởi đầu cuộc khải hoàn vào Giêrusalem trước lễ Vượt Qua năm 30. Trong nhà thờ một tảng đá được lưu giữ gần cung thánh : theo truyền tụng đó là tảng đá Chúa Giêsu đă bước lên để lên lưng lừa.

 

55. Trong nhà thờ Bethphaghê

 Phía trên bàn thờ có tranh tưởng niệm Chúa Giêsu cỡi lừa vào Giêrusalem. Từ Bethphaghê chắc Chúa xuống thung lũng Kidron rồi lên núi Đền Thờ, khoảng cách chừng 700 mét.

 

56. Cổng sư tử

 Thành Giêrusalem thời Chúa Giêsu có tường đá bao quanh. Thỉnh thoảng lại có một cổng để ra vào. Đây là Cổng Sư Tử nh́n ra núi Ôliu.

 

57. B́nh minh trên núi Sion

 Kinh Thánh gọi núi Đền Thờ là núi Sion, nhưng hiện nay người ta dùng để gọi khu vực tây nam Giêrusalem cổ. Chúng ta thấy tháp nhà thờ Đức Mẹ An Giấc, kính Đức Mẹ Lên Trời. Tại khu vực này có mộ vua Đavít và có Nhà Tiệc Ly.

 

58. Nhà Tiệc Ly 1

 Đó là một pḥng h́nh chữ nhật, dài chừng 10 mét, rộng chừng 6 mét, trên tầng lầu nhà bà Maria, mẹ thánh Marcô. Tại đây, Chúa Giêsu cùng với các môn đệ ăn bữa tiệc Vượt Qua, trong đó Chúa rửa chân cho các ông và lập phép Thánh Thể.

 

59. Nhà Tiệc Ly 2

 Nhà Tiệc Ly là nơi các môn đệ ở trong khi Chúa Giêsu chịu tử nạn. Sau khi Chúa phục sinh, Chúa hiện ra với các môn đệ tại đây, cả lần thánh Tôma vắng mặt cũng như lần thánh Tôma có mặt.

 

60. Trong Nhà Tiệc Ly

 Nhà Tiệc Ly là nơi Đức Mẹ và các môn đệ lần đầu đón Chúa Thánh Thần. Sau đó, đây là nơi cộng đoàn Hội Thánh tiên khởi thường xuyên hội họp để cầu nguyện và cử hành thánh lễ.

 

61. Thung lũng Kidron

 Thung lũng Kidron nằm giữa núi Đền Thờ và núi Ôliu. Sau bữa tiệc Vượt Qua, Chúa Giêsu dẫn các tông đồ theo thung lũng Kidron để đến vườn Gethsemane. Vừa đi, Chúa Giêsu vừa tâm sự với các ông : Thầy là cây nho, anh em là nhánh ; hăy ở lại trong t́nh yêu của thầy ; đừng xao xuyến, hăy tin vào Thiên Chúa và tin vào thầy…

 

62. Nhà thờ Gethsemane

 

 Nhà thờ được xây dựng tại nơi xưa Chúa Giêsu đă cầu nguyện trước khi bị bắt, ở thung lũng Kidron, dưới chân núi Ôliu.

 

63. Phiến đá Vườn Cây Dầu

 

 Phiến đá này ở giữa cung thánh nhà thờ Gethsemane. Theo truyền tụng, Chúa Giêsu đă sấp mặt trên phiến đá này để cầu nguyện : Nếu được th́ cho con khỏi uống chén này ; dầu vậy, xin đừng theo ư con, nhưng xin theo ư Cha. Chúa Giêsu cũng đổ mồ hôi máu trên phiến đá này.

 

64. Trong nhà thờ Gethsemane

 Bàn thờ được đặt ngay cạnh phiến đá Vườn Cây Dầu.

Một nhóm hành hương Châu Phi dâng lễ.

 

65. Vườn ôliu

  

 Tại núi Ôliu hiện vẫn có rất nhiều cây ôliu. Người ta nói cây ôliu không bao giờ chết, trừ khi bị đốn. Trong h́nh là một vài cây rất lâu đời ngay bên cạnh nhà thờ Gethsemane. Các nhà khoa học nói có một số cây đă 3000 tuổi !

 

66. Hang đá nơi Chúa Giêsu bị bắt

Ngay bên suối Kidron, chỗ cách nhà thờ Gethsemane bằng ném một ḥn đá, theo cách nói của thánh Luca, có hai hang đá gần nhau, hang đá bên ngoài lớn hơn và sâu hơn. Hang đá bên trong nhỏ hơn và nông hơn. Chúa Giêsu và các môn đệ thường đến cầu nguyện ở hai hang đá này. Chúa bị bắt tại hang đá nhỏ.

 

67. Trong hang đá Chúa Giêsu bị bắt

 

 Bức tranh mô tả Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ sau khi phục sinh.

 

68. Nhà thờ Chúa Bị Kết Án

 Đây là địa điểm dinh Philatô ngày xưa. Tại đây, Chúa Giêsu bị hàng lănh đạo Do Thái nộp cho tổng trấn Rôma, rồi bị dân Do Thái đ̣i kết án đóng đinh thập giá.

 

69. Bảng lưu niệm nơi Chúa Giêsu chịu đánh đ̣n

 Bảng này ở trên tường ngay nơi bắt đầu Đường Thương Khó.

 

70. Trụ đá nơi Chúa Giêsu bị trói khi chịu đánh đ̣n

 Quân lính Rôma trói Chúa Giêsu vào cột đá trong h́nh để đánh đ̣n.

 

71. Nhà thờ Chúa Bị Đánh Đ̣n

 

Nhà thờ này ở ngay bên cạnh nơi Chúa bị kết án.

 

72. Bảng lưu niệm nơi Chúa Giêsu đội mạo gai

 Cũng như bảng lưu niệm Chúa bị đánh đ̣n, bản lưu niệm Chúa bị đội ṿng gai ở trên tường ngay nơi khơi đầu Đường Thương Khó.

 

73. Nơi Philatô nói : Này là người

 Người Do Thái không vào trong dinh Tổng Trấn v́ muốn khỏi bị ô uế khi mừng lễ Vượt Qua. Họ đứng ngoài đường. Chúa Giêsu được Philatô đem ra cho dân thấy : Này là người. Nhưng dân chúng la lên : Đóng đinh nó đi !

 

74. Nền đá

 

Lithostrotos, nghĩa đen là nền đá, là bậc đá như chúng ta thấy trong h́nh, nơi tổng trấn ngồi tuyên án. Thánh Gioan nói Philatô đặt Chúa Giêsu trên nền đá để tuyên án.

 

75. Đường Thương Khó

 Con đường chừng 300 mét từ dinh Philatô đến Núi Sọ hiện nay được gọi là Đường Thương Khó (Via Dolorosa). Con đường này được lát đá, bề ngang khoảng 3-4 mét, hơi lên dốc, hai bên hiện nay là những cửa hàng đủ loại và thường rất đông người qua lại. Mỗi chiều thứ sáu, Ḍng Phanxicô tổ chức Đường Thánh Giá truyền thống. Tuy nhiên các đoàn hành hương có thể tuỳ ư tổ chức riêng lúc nào cũng được. Trong h́nh là một đoàn nói tiếng Tây Ban Nha đi đường Thánh Giá vào chiều hôm đầu năm dương lịch 2005.

 

76. Chặng thứ 5

Tại mỗi chặng thường có một nhà nguyện nhỏ để các đoàn vào cầu nguyện. Tuy nhiên cũng có những chặng, chẳng hạn chặng 8, không có nhà nguyện nào. Từ chặng 10, chúng ta vào trong nhà thờ Mồ Thánh. Trong h́nh là một đoàn Châu Phi, nói tiếng Anh. Trong nhà nguyện, họ hát rồi nghe đọc Lời Chúa và nghe giảng vài phút, rồi thinh lặng cầu nguyện, rồi cầu nguyện tự phát, rồi đọc kinh chung. Cuối cùng họ hát trước khi đi tiếp sang chặng khác.

 

77. Nhà nguyện Calvariô

 Chúng ta đang ở trong nhà thờ Mồ Thánh. Nhà thờ này bao trùm cả khu vực Núi Sọ và mộ Chúa Giêsu. Thời Chúa Giêsu, khu vực này nằm bên ngoài tường thành, nhưng năm 1536, khi xây dựng tường thành mới, khu vực này được đưa vào trong. Điều người Việt Nam thường gọi là Núi Sọ thực tế chỉ là một g̣ cao 4,5 mét, và người Do Thái gọi theo h́nh dáng là Cái Sọ. Khu vực này hiện được chia làm 2 phần. Trong h́nh là phần 1 thuộc Công Giáo là nhà nguyện Calvariô, c̣n được gọi là chặng 10 và chặng 11 : Chúa Giêsu bị lột áo và chịu đóng đinh.

 

78. Núi Sọ Chúa chịu chết

Phần 2 của Núi Sọ, thuộc Chính Thống, ở ngay bên cạnh phần 1, là nơi dựng Thánh Giá và Chúa chết, tức chặng 12. Nơi này được trang hoàng rất công phu và thường được các tín hữu đến viếng đông đảo.

 

79. Chỗ dựng Thánh Giá

 Bên dưới bàn thờ, trước bức ảnh Chúa Giêsu, là nơi dựng Thánh Giá. Các tín hữu thường cung kính quỳ hôn nơi này.

 

80. Chạm tay đến nơi dựng Thánh Giá

 Không chỉ hôn kính, người ta thường đưa tay vào lỗ hổng trước ảnh, để chạm vào tảng đá bên dưới được coi là chính nơi dựng Thánh Giá.

 

81. Đưa xác Chúa xuống

Đây là một bức ảnh trong nhà thờ Mồ Thánh, ở chỗ gọi là chặng 13.

 

82. Nơi tẩm liệm Chúa

Phiến đá này ở ngay trước mặt khi chúng ta bước vào cửa nhà thờ Mồ Thánh. Theo thói quen của người Do Thái, trước khi đặt trong mồ, xác người chết được rửa sạch, xức thuốc thơm, rồi liệm trong khăn vải. Đây là nơi các môn đệ tẩm liệm Chúa.

 

83. Trước mộ Chúa

Chúa Giêsu được chôn trong mộ của ông Giuse Aremathi làm sẵn. Đó là một ngôi mộ được đục vào vách đá, và chia thành hai phần như thói quen Do Thái : phía ngoài dành cho thân nhân đến viếng, phía trong đặt xác, hai bên thông với nhau bằng một cửa nhỏ cao chưa đầy 1 mét. Cửa bên ngoài kích cỡ tương tự cửa nhà ở, và sau khi an táng được đóng bằng một tảng đá tṛn để dễ lăn ra lăn vào. Mồ Chúa hiện nay được làm thành như một căn nhà bằng cẩm thạch, trang hoàng rất công phu và lộng lẫy.

 

84. Cửa ngoài Mồ Chúa

 H́nh này cho chúng ta thấy rơ hơn một số điều :
1. Mặt trước mồ được trang hoàng thế nào ; 2. Cửa trong của mộ ; 3. Một chút nơi đặt xác Chúa.

 

86. Cửa trong Mộ Chúa

Cửa bên trong được trang hoàng bằng cẩm thạch trắng. Trên cửa ghi lời các thiên thần nói với các phụ nữ đến viếng mộ : Người đă sống lại và không c̣n ở đây nữa.

 

86. Nơi đặt xác Chúa

 Đây là nơi đă đặt xác Chúa. Các tín hữu thường quỳ gối hôn lính. Trước mặt là h́nh Chúa phục sinh và chữ : Đức Kitô đă phục sinh.

 

87. Trong mộ Chúa

Trên tường trong mộ Chúa là bức khảm diễn tả Chúa phục sinh với hàng chữ :

 

88. Chúa Giêsu hiện ra với Đức Mẹ

Bức phù điêu bằng đồng đặt trong nhà nguyện Chúa Hiện Ra Với Đức Mẹ gần mộ Chúa.

 

89. Chúa hiện ra với thánh Mađalêna.

 Bức phù điêu bằng đồng đặt phía trên bàn thờ Chúa Hiện Ra Với Thánh Mađalêna, bên cạnh mộ Chúa.

 

90. Nhà nguyện Chính Thống

Nhà thờ đối diện với mộ Chúa do Hội Thánh Chính Thống phụ trách. Đây là nhà thờ chính và lớn nhất trong nhà thờ Mồ Thánh.

 

91. Nhà nguyện Công Giáo

Đây là nhà nguyện của Ḍng Phanxicô, có chỗ cho khoảng 50 người. Hằng ngày cộng đoàn Ḍng Phanxicô hát kinh thần vụ ở đây, và các đoàn hành hương Công Giáo liên tục dâng thánh lễ tại đây.

 

92. Nhà thờ Mồ Thánh

Tất cả những điều chúng ta vừa xem kể từ nhà nguyện Calvariô đều ở trong ngôi nhà thờ này. Tại địa điểm này, vào thế kỷ IV, thánh Hêlêna đă cho xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên. Sau đó, nhà thờ bị phá hủy và được xây dựng lại nhiều lần. Ngôi nhà thờ hiện nay được xây dựng vào thế kỷ XIX.

 

94. Nhà thờ Emmau

 Vào buổi chiều ngày đầu tiên sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra với hai môn đệ trên đường từ Giêrusalem đi Emmau. Hiện nay gần Giêrusalem có hai nơi tên là Emmau, và nơi thứ ba được coi là thời xưa mang tên Emmau. Các nhà chuyên môn chưa xác định được nơi nào là chính xác. Đây là một trong ba nơi có thể Chúa đă cùng ăn với hai môn đệ, và họ nhận ra Chúa khi Chúa bẻ bánh.

 

94. Đỉnh núi Ôliu

 Theo truyền tụng, Chúa Giêsu tạm biệt các môn đệ và lên trời tại đây, trên đỉnh núi Ôliu, nơi cách xa Nhà Tiệc Ly khoảng đường người Do Thái được phép đi bộ trong ngày sabát, tức là khoảng 1 cây số.

 

95. Nhà thờ Lên Trời

Nhà thờ này ở đỉnh núi Ôliu và đă có từ lâu đời. Nhà thờ h́nh tṛn, lúc đầu không có tường và mái. Vào thế kỷ XIII, nhà thờ này được nhà cầm quyền Hồi Giáo trao cho người Hồi Giáo sử dụng. Họ lợp mái và xây tường chung quanh và biến thành nhà thờ Hồi Giáo. Hiện nay, nhà thờ này chỉ dùng cho khách du lịch đến viếng. Hằng năm, vào lễ Chúa Lên Trời, Ḍng Phanxicô cử hành thánh lễ với người Công Giáo tại đây.

 

96. Hôn kính vết chân Chúa

 Theo truyền tụng, Chúa Giêsu đứng trên một phiến đá khi lên trời, và Chúa để lại dấu vết hai bàn chân Chúa trên đó. Phiến đá ấy hiện được giữ ở nền nhà thờ Lên Trời. Các tín hữu đến viếng nhà thờ thường phủ phục để hôn kính dấu vết cuối cùng của hai bàn chân Chúa trên mặt đất.

 

97. Vết chân Chúa trên phiến đá

Người ta cho rằng vết chân Chúa đă bị ṃn đáng kể v́ nhiều người hôn kính. Căn cứ vào vết chân Chúa để lại, có người cho rằng khi lên trời Chúa nh́n về hướng bắc, tức là xứ Galilê.

 

98. Nhà thờ Lên Trời của người Nga

 Gần nhà thờ tṛn, từ xa xưa người Chính Thống Nga đă xây dựng một nhà thờ Lên Trời. Nhà thờ này nằm trong một khuôn viên rộng răi và xanh tươi.

 

99. Cha David, Ḍng Tên, người Do Thái

 Ở Israel có một số người Do Thái tin Chúa Giêsu. Họ vẫn giữ đạo Do Thái, nhưng chấp nhận cả Tân Ước, nghĩa là tin Thiên Chúa Ba Ngôi và tin Chúa Giêsu là Ngôi Hai nhập thể. Họ thuộc về một phong trào bắt nguồn từ Hoa Kỳ, hiện nay lan rộng đến nhiều nơi. Cũng có một số người Do Thái khác là Kitô hữu, thuộc Giáo hội Chính Thống, Công Giáo hay Tin Lành. Cha David trong h́nh tin Chúa Giêsu khi là sinh viên đại học. Cha gia nhập Hội Thánh Công Giáo rồi vào Ḍng Tên. Hiện cha ở Giêrusalem và dạy Kinh Thánh ở Đại Học Công Giáo Bêlem.

 

100. Cha Giuse Nguyễn Đức Dũng, giáo phận Nha Trang

 Cha Dũng đang theo học Kinh Thánh tại Trường Kinh Thánh của các cha ḍng Đaminh.

 

101. Cha Roberto, người thổ dân da đỏ Mêhicô

Cha Roberto hiện là cha phó trong một giáo xứ gồm toàn thổ dân da đỏ ở Mêhicô.
Cha đến Giêrusalem một ḿnh như một khách hành hương. Cha đang vẽ cảnh mặt trời mọc trên hồ Galilê.

 

102. Với cha Roger người Camêrun

Cha James, người Kenya, đang theo học Kinh Thánh tại Viện Kinh Thánh của Ṭa Thánh do Ḍng Tên phụ trách. Trước khi lên trời, Chúa Giêsu nói với các tông đồ : Hăy đến với các dân tộc… Qua h́nh ảnh một số linh mục thuộc các dân tộc khác nhau, chúng ta thấy công tŕnh của Chúa đă lan rộng và đang tiếp tục được thực hiện khắp nơi.

 

103. Đoàn Inđônêxia

Họ đang dự thánh lễ trong nhà thờ Mồ Thánh. Indônêxia là nước có số người theo Hồi Giáo đông nhất thế giới. Giáo Hội Công Giáo thuộc thành phần thiểu số ở Inđônêxia. Chắc chắn họ đang cầu nguyện cho đồng bào trước đó mấy ngày mới bị thiên tai sóng thần làm chết hơn 200 ngàn người.

 

104. Thánh lễ của cộng đoàn Công Giáo Đức

Sáng ngày 1.1.2005, cộng đoàn Công Giáo Đức tại Giêrusalem họp nhau dâng thánh lễ tại nhà thờ Đức Mẹ An Nghỉ. Trong thế chiến thứ hai, chế độ Đức Quốc Xă đă giết hại khoảng 6 triệu người Do Thái. Trong Chúa Giêsu, không có Do Thái hay Hy Lạp, chỉ có những người anh em cùng là con một Cha trên trời.

 

105. Tháp Đavít

Đây là Tháp Đavít mà chúng ta đă nhắc đến ngay từ đầu. Vua Đavít đă chiếm Giêrusalem khoảng năm 1000 trước Chúa Giáng Sinh và đặt kinh đô ở đó. Trước đó, vua đă thống nhất Israel và sau đó đă biến Israel thành một nước hùng mạnh trong khu vực. Vua Đavít được coi là vị vua tiêu biểu của dân Israel.

 

106. Tượng vua Đavít tại Tháp Đavít

Trước khi lên ngai vàng, vua Đavít mặc dầu nhỏ bé đă chiến thắng tướng Gôliát cao lớn từng gây kinh hoàng cho vua Saolê và cả dân Israel.

 

107. Mộ vua Đavít

 

Mộ vua Đavít ở núi Sion, gần Nhà Tiệc Ly.

 

108. Bức tường Than Khóc 1

Dân Israel mất nước hẳn vào năm 70. Họ phải đi lưu lạc khắp nơi. Theo các nhà nghiên cứu, bức tường phía tây nền đền thờ cũ từ thời Chúa Giêsu là di tích duy nhất c̣n lại liên hệ đến Đền Thờ đă bị phá hủy. Từ đầu thế kỷ XX, người Do Thái từ khắp thế giới về quê khi viếng Giêrusalem thường đến than khóc tại bức tường này. Người Do Thái gọi là Bức Tường Phía Tây.

 

109. Bức tường than khóc 2

 

Từ tường thành phía nam nh́n vào bức tường Than Khóc, chúng ta thấy bên trên là ngôi Đền Vàng của người Hồi Giáo, địa điểm cũ của Đền Thờ thời Chúa Giêsu. Một số người Do Thái đang vận động phá hủy ngôi Đền Vàng để xây dựng lại Đền Thờ tạ địa điểm cũ.

 

110. Bức tường than khóc 3

Hằng ngày và suốt cả ngày lúc nào cũng có những người đến cầu nguyện ở bức tường Than Khóc. Họ nghe rabbi đọc Kinh Thánh Cựu Ước, rồi đến đập đầu vào tường liên tục nhiều lần trước khi úp mặt vào tường thinh lặng cầu nguyện. Trong h́nh chúng ta thấy khu vực dành cho nam giới. Nữ giới cầu nguyện riêng ở bên kia bức tường đen phía tay phải. Chính v́ những người đến cầu nguyện thường than khóc cảnh mất Đền Thờ mà người Phương Tây gọi đó là bức tường Than Khóc.

 

111. Bức tường Than Khóc 4.

Dù không theo đạo Do Thái chúng ta cũng có thể cầu nguyện tại bức tường Than Khóc. Trước hết, phải đội một kipa (dọn sẵn cho những ai cần), kế đến tùy ư nghe đọc Kinh Thánh Cựu Ước, và tự ư đến chọn một chỗ trống để sấp mặt vào tường cầu nguyện. Ai cầu nguyện thế nào và bao lâu tùy ư. Riêng ngày thứ bảy việc chụp ảnh bị cấm.

 

112. Đền Vàng 1

Ngày nay, ngôi Đền Vàng là h́nh ảnh nổi bật nhất ở Giêrusalem. Đền có h́nh 8 cạnh, đường kính 52 mét. Khách có thể đến viếng vào các buổi sáng, trừ ngày thứ sáu, và thường chỉ được đi xem bên ngoài, không được vào bên trong. Chính phủ Israel tôn trọng tự do tôn giáo, các nơi thờ phượng và những tập tục của các tôn giáo.

 

113. Đền Vàng 2

Đây là cửa chính của ngôi đền. Chúng ta thấy đó là một công tŕnh kiến trúc lớn và được trang hoàng rất công phu.

 

114. Một góc Giêrusalem mới

Tất cả các di tích Kitô giáo chính ở Giêrusalem đều nằm ở phần được gọi là Giêrusalem Cổ. So với toàn bộ thành phố Giêrusalem hiện nay, đó chỉ là một phần nhỏ. Thành Phố Giêrusalem mới có kiến trúc tân thời như một thành phố Âu Mỹ. Trong h́nh là khách sạn King David. Vào thời người Anh cai trị Đất Thánh nửa đầu thế kỷ XX, đây từng là Phủ Toàn Quyền.

 

115. Trường Kinh Thánh Giêrusalem

Trường được Ḍng Đaminh Pháp thành lập vào cuối thế kỷ XIX bên ngoài tường thành, gần cổng Đamas. Trong h́nh là nhà thờ Thánh Stêphanô. Theo các nhà khảo cổ, vị tử đạo tiên khởi của Kitô giáo đă bị ném đá chết tại khu vực này.

 

116. Cổng Damas

Tường thành bao quanh Giêrusalem Cổ có 7 cổng. Cổng Damas ở hướng bắc là cổng được coi là có kiến trúc lớn nhất và đẹp nhất. Đây cũng là cổng thường xuyên đông người qua lại nhất.

 

117. Buôn bán 1

 

Có thể nói hiện nay gần như toàn thể Giêrusalem Cổ là một cái chợ, trừ khu vực Đền Thờ cũ. Cửa hàng bôn bán san sát nhau. Thường là những cửa hàng tương đối nhỏ. Các siêu thị tập trung ở khu vực Giêrusalem mới. Điều khá đặc biệt là người bán hàng hầu hết thuộc phái nam.

 

118. Buôn bán 2

Một cửa hàng buôn bán nhiều thứ khác nhau, từ đồ thủy tinh và đồ sứ đến đồ đồng, hàng giấy và cả quần áo.

 

119. Buôn bán 3

Khăn quàng, gối, nệm, thảm, và cả những thứ không biết dùng để làm ǵ.

 

120. Buôn bán 3

Bánh mới ra ḷ. Bánh ḿ của người Arập thường có dạng một cái bánh ngọt ở Việt Nam.

 

121. Buôn bán 4

Cửa hàng vải vóc và quần áo. Một đặc điểm của các cửa hàng ở khu vực Giêrusalem Cổ là thuận mua vừa bán, giá cả không ấn định.

 

122. Cửa hàng lưu động

H́nh ảnh này được ghi nhận ở thung lũng Kidron, bên cạnh nhà thờ Gehtsemane.

 

123. Đường lát đá

 

Một số đường trong khu vực Giêrusalem Cổ được giữ nguyên như thời Rôma hoặc được lát đá lại như thời Rôma.

 

124. Qumran

Qumran ở gần Biển Chết là nơi vào năm 1947 một số người chăn cừu t́m được những bản văn Kinh Thánh Cựu Ước viết trên da thuộc. Sau đó người ta khám phá cả một cộng đoàn Essêniên từng sống như những người tu hành vào giai đoạn trước và đầu công nguyên.

 

125. Di tích cộng đoàn Qumran

Các nhà khảo cổ đă t́m được một khu sinh hoạt cộng đoàn của nhóm Essêniên dưới chân núi ở Qumran : pḥng ăn, pḥng cầu nguyện, pḥng chép Kinh Thánh, bồn chứa nước và hệ thống dẫn nước…

 

126. Di tích Đạo Binh Thánh Giá

Vào thời Trung Cổ, người Công Giáo Châu Âu đă tiến hành những Đạo Binh Thánh Giá để giải phóng Đất Thánh nằm dưới quyền cai trị của người Hồi Giáo. Đây đó họ xây dựng những pháo đài, bệnh viện hay nhà thờ. Trên đây là một pháo đài ở Tiberias, bên bờ hồ Galilê.

 

127. Biển Chết 1

Biển Chết là địa điểm thấp nhất trên mặt trái đất : 392 mét dưới mặt nước biển. V́ độ mặn rất cao, không sinh vật nào sống được ở đó, và người xuống tắm không cần bơi vẫn nổi. Có những người nằm ngửa đọc báo trên mặt nước.

 

128. Biển Chết 2

Biển Chết được biến thành một khu du lịch.

 

129. Biển chết 3

Du khách đến Biển Chết chỉ v́ độ sâu và độ mặn. Ngoài ra, không có ǵ đặc sắc, ngay cả việc tắm biển cũng không thuận lợi.

 

130. Lạc đà

Ở một số nơi tại Israel, đặc biệt khu vực sa mạc Giuđê gần Biển Chết, lạc đà được dùng làm phương tiện di chuyển và vận tải.

 

131. Thung lũng Hinnom

Nằm dưới chân núi Sion, phía nam Giêrusalem Cổ, thung lũng Hinnom. Đây từng là nơi dân ngoại giết con và đốt làm lễ tế thần, nên được người Do Thái gọi là ‘hỏa ngục’.

 

132. Núi Sion

Trong h́nh là núi Sion nh́n từ núi Ôliu : khung cảnh xanh tươi thoáng đăng.

 

133. Tường thành Giêrusalem 1

Tường thành bao quanh Giêrusalem Cổ như chúng ta thấy hiện nay được hoàn thành năm 1536 dưới thời hoàng đế Soliman II của đế quốc Ottoman. Tuy nhiên, một phần phía đông và phía tây của tường thành được vua Hêrôđê xây dựng thời Chúa Giêsu vẫn được giữ nguyên. Trong h́nh là một phần tường thành phía đông, gần cổng Jaffa, có từ thời Hêrôđê.

 

134. Tường thành Giêrusalem 2

Trong h́nh là góc đông nam của tường thành hiện nay, gần cổng Sion, ngay khu vực núi Sion. Phần này được xây dựng năm 1536. Phía trên tường ngày xưa là nơi cho quân đội canh gác và bảo vệ, ngày nay là nơi chúng ta có thể đi dạo được.

 

135. Cảnh sát tuần hành

Trong h́nh là cổng Jaffa ở Giêrusalem. Do t́nh trạng an ninh, quân đội và cảnh sát liên tục tuần hành ngày đêm. Cảnh sát thường khám xét túi xách của bất kỳ ai ngay trên đường phố.

 

136. Một đàn cừu trên núi

H́nh ảnh thường hay gặp trên các ngọn núi : một đàn cừu trên những sườn núi gần như không có cỏ và nước.

 

137. Các lều mục tử

Các mục tử thường phải liên tục di chuyển để t́m cỏ và nước cho đàn cừu. Họ sống tạm bợ trong những chiếc lều thơ sơ.

 

138. Chơi dưới trăng bên hồ Galilê

Hai bé trai chơi với nhau trên sân trải sỏi dưới trời sáng trăng gợi lên cảnh thanh b́nh Đất Thánh hằng mơ ước.

 

139. Đi học trên Đường Thương Khó

Một toán bé gái người Arập đi học trên Đường Thương Khó. Ước mong những con đường đau khổ đều biến thành đường hy vọng.

 

140. Đức Mẹ Việt Nam ở Nazareth

Trên tường chung quanh nhà thờ Truyền Tin ở Nazareth, có một số ảnh Đức Mẹ của các nước.

Trong h́nh là ảnh Đức Mẹ Nữ Vương Việt Nam.