Giáo Phận Bùi Chu

GIÁO PHẬN BÙI CHU, NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ

1. Thành lập

Bùi Chu là mảnh đất được diễm phúc đón nhận hạt giống Tin Mừng đầu tiên tại Việt Nam. Theo Khâm Định Việt Sử:

«Giatô, dă lục, Lê Trang Tông, Nguyên Hoà nguyên niên, tam nguyệt nhật, Dương nhân danh Inêxu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thủy chi Trà Lũ âm dĩ Giatô tả đạo truyền giáo – Tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Inêxu lén lút đến làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thủy và làng Ninh Cường, Quần Anh thuộc huyện Nam Chân, ngấm ngầm truyền tả đạo Giatô» (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 5-6).

«Trước kia, vào khoảng năm Nguyên Hoà (1533-1548) đời Lê Trang Tông, Inêxu, người Tây Dương, mới đem đạo ấy vào vùng ven biển, thuộc huyện Giao Thuỷ, huyện Nam Chân, lén lút truyền giáo, gọi là “đạo Thiên Chúa” cũng gọi là “Thập tự giáo”. Giáo lư này dùng thiên đường địa ngục để phân biệt báo ứng về điều thiện, điều ác, cũng gần giống đạo Phật, có thêm vào thuyết xưng tội, rửa tội nữa» (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XLI, tờ 24-25).

Sự kiện này đă ghi đậm một dấu mốc lịch sử của Giáo Hội Việt Nam. Nó không chỉ khai mở công cuộc truyền giáo ở Việt Nam, mà c̣n đặt Bùi Chu vào những trang đầu và trở thành trung tâm truyền giáo ở Giáo phận Đàng Ngoài trong những thế kỷ tiếp theo.

Bùi Chu c̣n thêm vào trang sử hào hùng của Giáo Hội Việt Nam: 26 vị thánh tử v́ đạo sinh quán tại Giáo phận Bùi Chu và 18 vị phục vụ tại đây trong số 117 vị thánh tử v́ đạo nước Việt Nam. Đó là 44 vị hiển thánh tử v́ đạo đại diện cho 514 tôi tớ Chúa và khoảng 16.500 vị anh hùng tử v́ đạo đă chết để làm chứng cho Chúa thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và giáo dân trong Giáo phận Bùi Chu.

Ngày 9/9/1659, khi Toà Thánh chính thức thành lập 2 Giáo phận đầu tiên tại Việt Nam th́ vùng đất của Giáo phận Bùi Chu đă có đông giáo hữu thuộc Giáo phận Đàng Ngoài do các thừa sai Ḍng Tên rồi đến các cha Ḍng Đa Minh phục vụ.

Năm 1668, Đức cha Pierre Lambert de la Motte đă truyền chức linh mục cho 4 thầy người Việt đầu tiên tại Xiêm (Thái Lan), trong đó có cha Gioan Huệ (1668-1671) được cử về phục vụ ở Kiên Lao giáo phận Bùi Chu.

Ngày 19/2/1670, Đức cha đă lập ḍng Mến Thánh Giá tại Kiên Lao và chủ lễ khấn ḍng cho hai nữ tu tiên khởi là chị Paola và chị Anê. Cũng năm đó, Kiên Lao là giáo xứ có đông giáo hữu nhất trong Giáo phận Đàng Ngoài (hơn 2000 tín hữu) và cha Simon Kiên (nguyên quán), 1 trong 7 linh mục thuộc lớp linh mục người Việt thứ hai được truyền chức tại công đồng Phố Hiến (Hưng Yên), đă phục vụ rồi qua đời tại đây (1670-1684).

Ngày 15/11/1679, Giáo phận Đàng Ngoài được chia thành hai: Giáo phận Đông do Đức cha Deydier Điển coi sóc và Giáo phận Tây do Đức cha Bourges coi sóc. Suốt thời gian 1679-1848, Toà Giám Mục thường được đặt tại Lục Thủy Hạ (Liên Thủy), Trà Lũ, Trung Linh và Bùi Chu. Từ năm 1757 Toà Thánh trao Giáo phận Đông cho các cha Ḍng Đa Minh coi sóc và đảm nhiệm việc truyền giáo.

Năm 1848, Toà Thánh tách Giáo phận Đông Đàng Ngoài: một giữ tên Giáo phận cũ và một lấy tên Giáo phận Trung (nằm giữa Giáo phận Đông và Tây). Giáo phận mới tuy nhỏ bé về địa lư nhưng giáo dân lại nhiều gấp ba lần Giáo phận Đông (139.000 tín hữu).

Trong thời gian này, Giáo Hội Việt Nam gặp biết bao gian nan thử thách do các sắc chỉ cấm đạo của các vua quan đặc biệt là các vua Minh Mạng, Tự Đức. Tưởng chừng Đạo Chúa bị xóa sổ tại Bùi Chu, th́ vào năm 1858, Đức cha Valentinô Berrio Ochoa Vinh và cha chính Emmanuel Riaño Hoà đă khấn dâng Giáo phận cho Đức Mẹ: “V́ lời cầu bầu của Đức Mẹ, khi Thiên Chúa cho giáo dân thoát khỏi cơn bắt bớ đạo và được sống b́nh an, th́ sẽ xây cất một thánh đường xứng đáng dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và nhận Người làm bổn mạng của Giáo phận”. Sau nhiều lần xây dựng, đền thánh Phú Nhai hiện nay (xức dầu thánh hiến trọng thể ngày 7/12/1933) là chứng tích t́nh Mẹ che chở Giáo phận và ḷng yêu mến của toàn thể con cái Bùi Chu đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (năm 2008 là Năm Thánh kỷ niệm 150 năm dâng hiến Giáo phận cho Đức Mẹ).

Ngày 3/12/1924, tất cả các Giáo phận ở Việt Nam đều được đổi tên theo địa hạt hành chính nơi đặt toà giám mục, Giáo phận Trung được đổi tên thành Giáo phận Bùi Chu do Đức cha Pedro Muñagorri Trung coi sóc.

Giáo phận Bùi Chu trở nên quá lớn đối với một chủ chăn. Ngày 9/3/1936, Toà Thánh chia Giáo phận làm hai: Giáo phận Bùi Chu do Đức cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn, vị giám mục bản quốc thứ hai cai quản, và Giáo phận Thái B́nh vẫn do các vị thừa sai Ḍng Đa Minh cai quản. Điều đó chứng tỏ Giáo phận Bùi Chu đă có sự trưởng thành khá vững chắc. Khi đó, Giáo phận gồm 6 huyện tỉnh Nam Định, dân số 944.900, số giáo dân 230.000 (24,45%), 100 linh mục (không kể linh mục thừa sai Ḍng Đa Minh), 390 thầy giảng, 520 thánh đường.

Ngày 24/11/1960, Giáo phận tông toà Bùi Chu được nâng lên Giáo phận chính toà do Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh coi sóc. Từ đó đến nay, sau gần năm mươi năm với bao thăng trầm của lịch sử, Giáo phận chính toà Bùi Chu đă trải qua biết bao khó khăn thử thách. Nhờ lời cầu bầu của Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Bùi Chu và của Cha thánh Đa Minh, cùng với sự đồng tâm, đồng lực của các đức cha, các cha, các tu sĩ nam nữ và mọi thành phần dân Chúa, Giáo phận Bùi Chu đă vượt qua những chặng đường gian nan để có được những thành quả tốt đẹp như ngày hôm nay.

Sắc chỉ thành lập: việc thành lập Giáo phận Bùi Chu đă được Toà Thánh chính thức ban sắc chỉ ba lần:

- Ngày 5/9/1848, Đức Thánh Cha Piô IX ban sắc lệnh Apostolatus Officium, tách Giáo phận Đông Đàng Ngoài thành Giáo phận Trung gồm tỉnh Hưng Yên, Thái B́nh và 6 huyện của tỉnh Nam Định; phần c̣n lại vẫn mang tên Giáo phận Đông.

- Ngày 3/12/1924, Đức Thánh Cha Piô XI ban sắc lệnh Ordinarie Indosinensis đổi tên Giáo phận Trung thành Giáo phận Bùi Chu.

- Ngày 9/3/1936, Đức Thánh Cha Piô XI ban sắc lệnh Proecipuas inter Apostolicas chia Giáo phận Bùi Chu thành Giáo phận Thái B́nh (tỉnh Hưng Yên và Thái B́nh) và Giáo phận Bùi Chu (2/3 tỉnh Nam Định).

Giám mục tiên khởi người Việt và các giám mục kế vị:

- Ngày 12/3/1935 Đức Thánh Cha Piô XI bổ nhiệm cha Đôminicô Hồ Ngọc Cẩn làm giám mục Bùi Chu. Ngài là vị giám mục người Việt thứ hai và là vị giám mục bản xứ đầu tiên coi sóc Giáo phận Bùi Chu từ năm 1935 đến 1948.

- Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi (1950 - 1954);
- Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh (1960 - 1974);
- Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung (1975 - 1987);
- Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất (1987 - 1999);
- Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm (2001 - ) và
- Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Giám mục phụ tá (2006 - 2009).

2. Ranh giới

Giáo phận Bùi Chu là Giáo phận nhỏ nhất Việt Nam, nằm gọn trên phần diện tích khoảng 1.350 km2, bao gồm 6 huyện (Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng) và khu vực giáo xứ Khoái Đồng trong thành phố Nam Định. Phía Đông Bắc giáp Giáo phận Thái B́nh bằng con sông Hồng, phía Tây Bắc giáp với Giáo phận Hà Nội bằng con sông Đào, phía Tây Nam giáp Giáo phận Phát Diệm bằng con sông Đáy và phía Đông Nam là Biển Đông (Vịnh Bắc Bộ).

Dân cư: tổng dân số trên địa bàn Giáo phận Bùi Chu thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng quăng chừng 1.800.000 người, đại đa số là người Kinh.

Nghề nghiệp: khoảng 80% làm nông nghiệp, 5% làm muối và đi biển, 15% làm nghề thương mại, cơ khí, kỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp…

Những con sông cần nhớ: Giáo phận Bùi Chu được bao bọc bởi ba con sông lớn, tiếp giáp với ba Giáo phận và Biển Đông rộng lớn. Hai con sông Hồng và sông Đáy tựa như hai cánh tay khoẻ bao bọc lấy Giáo phận. Cùng với con sông Đào nối liền hai con sông lớn này và con sông Ninh Cơ, một nhánh của sông Hồng chảy qua giữa Giáo phận, tạo thành một hệ thống sông ng̣i cung cấp nước và phù sa cho những cánh đồng ph́ nhiêu. Không những thế, hệ thống sông ng̣i này mỗi năm c̣n bồi đắp thêm một lượng lớn phù sa ra biển, tạo nên những cồn đất màu mỡ, h́nh thành những vùng đất mới cho Giáo phận. Chính v́ điều này mà diện tích thống kế hằng năm có thay đổi ít nhiều, tuỳ thuộc vào đất bồi ra biển nhiều hay ít. Ngoài việc đưa nước và phù sa đến tất cả các huyện, hệ thống sông này c̣n là những trục giao thông rất thuận tiện cho việc đi lại và vận chuyển. Nhờ thế, khu vực Giáo phận trở nên rất trù phú, dân cư đông đúc sống hiền lành chất phác. Đây thật là một môi trường thuận lợi cho việc đón nhận và phát triển đức tin, in đậm dấu vết của những cuộc hành tŕnh rao giảng Tin Mừng của các nhà truyền giáo.

Số giáo hạt và giáo xứ: gồm 13 giáo hạt (Báo Đáp-Tương Nam, Bùi Chu-Phú Nhai, Đại Đồng-Thức Hoá, Lạc Đạo-Liễu Đề-Quỹ Nhất, Kiên Chính-Tứ Trùng và Ninh Cường-Quần Phương) với 157 giáo xứ.

3. Năm mươi năm, một chặng đường

Cho đến năm 1954, Giáo phận Bùi Chu đă là một Giáo phận có sự trưởng thành khá vững chắc với 178 linh mục triều, 14 linh mục ḍng, 78 đại chủng sinh, một số lớn nữ tu và khoảng gần 210 ngàn giáo dân trên tổng số gần 900 ngàn người trên địa bàn và 103 giáo xứ với 484 nhà thờ lớn nhỏ.

Biến cố ngày 20/7/1954, hiệp định Genève chia đôi đất nước, Đức cha, cha chính, cha văn pḥng cùng với phần lớn các cha (khoảng 142 cha) trong đó có cha giám đốc, ban giáo sư đại chủng viện và chủng sinh, các bề trên và các hội ḍng: Gioan Thiên Chúa, Đồng Công, Khiết Tâm (thầy giảng Bùi Chu), Mân Côi, Đa Minh, Mến Thánh Giá và Ḍng Kín Cát Minh đă di cư vào miền Nam cùng với trên 100.000 giáo dân. Giáo phận rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Cả Giáo phận c̣n lại 35 linh mục hầu hết là già yếu, nhiều cha đă về hưu nay phải trở lại coi xứ cùng với 54 thầy giảng và 90 nữ tu.

Trong hoàn cảnh đó, Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi đă cử cha văn pḥng Giuse Phạm Năng Tĩnh trở về miền Bắc với tư cách là đại diện tông toà rồi giám quản Giáo phận và được tấn phong giám mục ngày 10/11/1960, tức là trước ít ngày thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam (24/11/1960) với tông hiến Venerabilium Nostrorum của Đức Thánh Cha Gioan XXIII. Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh đă cho thành lập chủng viện Mẫu Tâm với hơn 200 chủng sinh. Ngày 27/11/1960, ngài phong chức linh mục cho 4 thầy giảng trong đó có thầy Giuse Vũ Duy Nhất, sau này làm giám mục.

Từ khi Giáo phận tông toà Bùi Chu được nâng lên Giáo phận chính toà ngày 24/11/1960, với sự tài t́nh khôn ngoan của Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, Giáo phận đă từng bước vượt qua những chặng đường gian khó. Ngày 8/12/1963 đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức cha đă truyền chức linh mục cho 29 thầy tại đền thánh Phú Nhai. Sự kiện đó như ngày phục sinh của Giáo phận, nhiều giáo xứ đă có chủ chiên coi sóc sau nhiều năm không người chăn dắt.

Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh đă chu toàn các nhiệm vụ khác nhau của một vị mục tử khôn ngoan và thánh thiện. Với tư cách là giám mục, giáo sư đại chủng viện, nhà đào tạo cho các chủng sinh và tu sĩ, chăm sóc mục vụ cho 7 giáo xứ với số giáo dân tới 2 vạn người, viết sách và dịch sách…, cuộc đời của ngài thật bề bộn. V́ quá vất vả và thời thế khó khăn, ngài đă lâm trọng bệnh và tạ thế ngày 11/2/1974 lúc tuổi đời vẫn c̣n trẻ (57 tuổi) trong sự tiếc thương vô vàn của mọi thành phần dân Chúa.

Sau hơn một năm trống toà, ngày 29/6/1975, cha chính Giáo phận Đa Minh Lê Hữu Cung được thụ phong giám mục với khẩu hiệu “Adveniat regnum tuum”. Ngài đă phó dâng Giáo phận cách đặc biệt cho Thánh Tâm Chúa Giêsu và cổ vơ việc sùng kính Thánh Tâm. V́ thế ngài đă nhận tu hội Thánh Tâm vào Giáo phận năm 1980. Ngài đă truyền chức linh mục cho 13 thầy trong thầm lặng và đă nhờ các đức cha khác truyền chức linh mục cho 3 thầy tại miền Nam. Ngoài ra ngài cũng nhường cho Đức cha phó Giuse Vũ Duy Nhất truyền chức linh mục cho 6 thầy cũng trong thầm lặng. Với tuổi cao và dày công phúc, Chúa đă gọi Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung về Nhà Cha ngày 12/3/1987. Trên bia mộ tại gian cung thánh nhà thờ Chính Toà Bùi Chu, có ghi: “Nguyện xin cho Nước Chúa trị đến, mục tử trung thành, tông đồ Thánh Tâm Chúa”.

Sau khi Đức cha Đa Minh Lê Hữu Cung qua đởi, Đức cha phó Giuse Vũ Duy Nhất (thụ phong giám mục 8/8/1979) lên làm giám mục chính toà (1987-1999) trong lúc đất nước bắt đầu bước vào thời kỳ đổi mới. Ngài đă canh tân cơ cấu tổ chức của Giáo phận, phát động các phong trào học hỏi giáo lư, cổ vơ và khôi phục các hội đoàn trong Giáo phận. Ngài đặc biệt quan tâm việc đào tạo các linh mục. Từ năm 1989, Giáo phận có các chủng sinh theo học tại đại chủng viện Hà Nội. Tính đến nay đă có 25 linh mục của các khóa. Cùng lúc đó, được sự giúp đỡ của Đức ông Gioan Trần Văn Hiến Minh, Đức cha đă gửi các chủng sinh vào học trong đại chủng viện Đức Ái tại Sài G̣n, một chủng viện ngoại trú liên Giáo phận, học tập và tu luyện theo hiến pháp và chỉ nam gia đ́nh Đức Ái, được Toà Thánh khích lệ với sự giúp đỡ của các vị chủ chăn và các giáo sư chuyên viên tại Sài G̣n, đặc biệt là Đức Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh và nhóm các giáo sư gốc Bùi Chu. Có 7 khóa đă tốt nghiệp. Năm 1999, Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất đă truyền chức cho 20 linh mục trong âm thầm. Sau khi hoàn tất công việc của người đầy tớ khôn ngoan và trung thành, ngài đă được Chúa gọi về vào ngày 11/12/1999. Đến nay đại chủng viện Đức Ái tại Sài G̣n đă đào tạo cho Giáo Hội hơn 100 linh mục đang hiện diện và phục vụ khắp nơi, nhiều nhất là tại Bùi Chu.

Sau hơn 1 năm trống ngôi, ngày 8/8/2001 Giáo phận Bùi Chu có vị chủ chăn mới là Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm. Với nhiều sáng kiến canh tân cơ sở vật chất và đường hướng mục vụ, Giáo phận mang một diện mạo mới. Ngài đă xin chính quyền hợp thức hoá cho 20 linh mục sau 2 năm tu học tại đại chủng viện Nha Trang. Năm 2007, Đức cha đă truyền chức linh mục tổng cộng 61 thầy đă tốt nghiệp đại chủng viện Đức Ái và đại chủng viện Hà Nội. Ngoài ra, ngài c̣n gửi nhiều linh mục, phó tế, chủng sinh và tu sĩ đi du học tại các nước: Ư, Pháp, Philippines, Nhật, Mỹ… Qua những biến cố này số linh mục hiện nay của Giáo phận lên tới 159 đă đáp ứng được 92% số giáo xứ trong Giáo phận có chủ chăn và một số chuyên viên trong các lănh vực, nhất là đào tạo.

Các ḍng tu: Sau biến cố năm 1954, phần lớn các nam nữ tu sĩ của các ḍng tu trong Giáo phận đă di cư vào miền Nam. Giáo phận chỉ c̣n khoảng 90 nữ tu già yếu ở lại. Từ khi Giáo phận được nâng lên Giáo phận chính toà năm 1960, các đức cha đă đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của các hội ḍng. Ngày 19/3/1969, Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh đă thiết lập Ḍng Thừa Sai Đức Mẹ Trinh Vương Bùi Chu từ Ḍng Mến Thánh Giá. Ngày 1/10/1990, sau mấy chục năm h́nh thành và phát triển, Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất đă chính thức thành lập Ḍng Mẹ Thăm Viếng Bùi Chu. Ngày 2/3/1998, Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất cũng đă quyết định tái lập Ḍng Mến Thánh Giá Kiên Lao - Bùi Chu từ một số chị em Trinh Vương vốn gốc là nữ tu Mến Thánh Giá.

Như vậy, sau gần 50 năm từ khi Giáo phận được nâng lên Giáo phận chính toà, nhờ sự quan tâm của các đức cha Giáo phận, các hội ḍng trong Giáo phận đă có những bước h́nh thành, tái lập và phát triển mạnh mẽ về tinh thần cũng như về cơ sở vật chất nhất là trong những năm gần đây.

Hiện tại, tính đến hết ngày 31/12/2008, trong toàn Giáo phận có 609 nữ tu, 96 tập sinh, 151 thỉnh sinh và 394 đệ tử của 5 hội ḍng: Đa Minh, Mân Côi, Mến Thánh Giá, Thăm Viếng và Trinh Vương. Các hội ḍng này hầu hết đă có các cơ sở ở các giáo xứ trong Giáo phận để phục vụ và làm việc tông đồ.

Số giáo xứ, giáo điểm và giáo dân: Biến cố di cư năm 1954 đă để lại các giáo xứ trong Giáo phận cảnh hoang tàn, vườn không nhà trống. Khi đó, Giáo phận có 117 giáo xứ với 432 nhà thờ và khoảng 160.000 giáo dân ở lại (di cư 110.000) trên tổng số gần 1 triệu dân. Tuy nhiên, cả Giáo phận chỉ c̣n lại 35 linh mục hầu hết là già yếu. Giáo dân phải sống trong cảnh hoang mang buồn chán; có làng số người di cư lên tới 2/3, trong nhà, ngoài xóm đều vắng bóng người. Bầu khí ảm đạm bao trùm các xứ họ.

Nhưng từ khi Giáo phận Bùi Chu được nâng lên Giáo phận chính toà ngày 24/11/1960 với sự coi sóc của Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, vị giám mục chính toà đầu tiên, Giáo phận đă có rất nhiều biến chuyển. Số giáo dân không ngừng gia tăng. Năm 1970, toàn Giáo phận đă có hơn 250.000 giáo hữu. Số lượng giáo dân trong một giáo xứ đă trở nên quá đông, có xứ hơn 10.000 nhân danh. Nhà thờ xứ đă trở nên quá chật hẹp và xuống cấp. Sau năm 1991, nhà nước đă cởi mở hơn trong việc cấp giấy phép xây dựng các nơi thờ tự và nhờ sự đóng góp của giáo hữu cũng như sự hảo tâm của các ân thân nhân trong nước, hải ngoại và các tổ chức Công Giáo quốc tế, nhất là của Bộ Truyền Giáo, nên hầu hết các nhà thờ được sửa chữa và nhiều ngôi thánh đường mới đă dần dần mọc lên ở khắp các miền trong Giáo phận. Đến năm 2008, để đáp ứng được nhu cầu mục vụ ngày càng gia tăng, nhiều giáo xứ và giáo họ đă xây dựng được những ngôi thánh đường khang trang đẹp đẽ với những trung tâm mục vụ và nhà giáo lư. Các giáo điểm truyền giáo cũng được h́nh thành trên những vùng đất mới. Nhiều giáo xứ, giáo họ, giáo điểm mới được thành lập, đưa tổng số giáo xứ và giáo họ trong Giáo phận lên 157 giáo xứ và 438 giáo họ thuộc 13 giáo hạt.

Hiện nay, tính đến hết ngày 31/12/2008, số giáo dân trong Giáo phận là 391.837 tín hữu trên tổng số 1.821.495 người trong địa bàn Giáo phận.

PHẦN HỎI-ĐÁP

1- H. Miền đất Bùi Chu được đón nhận Tin Mừng từ bao giờ?

T. Tháng 3 năm Nguyên Hoà thứ nhất (1533), Bùi Chu được vinh dự đón nhận hạt giống Tin Mừng lần đầu tiên gieo vào ḷng đất mẹ Việt Nam khi giáo sĩ Inêkhu đến giảng đạo tại các làng: Trà Lũ (Phú Nhai), Quần Anh (Quần Phương) và Ninh Cường. Ngày nay, những địa danh này vẫn là những Trung Tâm Hành Hương rất sinh động của Giáo phận.

2- H. Những ai đă góp phần vào công cuộc truyền giáo tại Bùi Chu?

T. Đă có rất nhiều tập thể và cá nhân thuộc nhiều quốc gia đă góp công sức trong việc loan báo Tin Mừng tại Bùi Chu. Chúng ta có thể kể đến Hội Thừa Sai Paris, Ḍng Tên, và đặc biệt là Ḍng Đaminh.

3- H. Giáo Phận Bùi Chu được thành lập thế nào?

T. Ngày 5/9/1848, đức thánh cha Piô IX ban hành sắc lệnh chia đôi Giáo phận Đông Đàng Ngoài để thành lập Giáo phận Trung (nằm giữa Giáo phận Đông và Giáo phận Tây) với khoảng 130.000 tín hữu. Ngày 3/12/1924 tất cả các Giáo phận ở Việt Nam đều được đổi tên theo địa hạt hành chính, nên Giáo phận Trung được gọi là Giáo phận Bùi Chu do đức cha Pedro Muñagorri Trung coi sóc.

4- H. Tại sao gọi Bùi Chu là Giáo phận của Đức Mẹ?

T. Trong cơn cấm đạo rất khốc liệt đời vua Tự Đức, năm 1858 đức cha thánh Vinh (Valentinô Berrio Ochoa) và cha chính Hoà (Emmanuel Riaño) đă khấn dâng Giáo phận cho sự bảo trợ của Mẹ Maria và hứa khi Chúa cho vượt qua cơn bách hại sẽ xây dựng một ngôi thánh đường xứng đáng dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Vương cung thánh đường Phú Nhai ngày nay là chứng tích của t́nh Mẹ che chở Giáo phận, và những cuộc đại hành hương hằng năm về bên Mẹ tại Phú Nhai cũng thể hiện ḷng con thảo của người tín hữu Bùi Chu luôn nhớ ơn Đức Mẹ.

5- H. Tại sao gọi Bùi Chu là Giáo phận Ḍng?

T. Năm 1757, Toà Thánh trao phó Giáo phận Đông Đàng Ngoài cho Ḍng Đaminh coi sóc và đảm nhận việc truyền giáo, nên Bùi Chu cũng như các Giáo phận được tách ra từ Giáo phận Đông được gọi là Giáo phận Ḍng. Chính v́ thế, Giáo phận Bùi Chu đă tôn nhận cha thánh Đaminh là quan thầy đệ nhị và mừng kính trọng thể vào ngày 8/8, quen gọi là Lễ Đầu Ḍng.

6- H. Giáo phận Bùi Chu được Toà Thánh trao cho hàng giáo sĩ bản quốc coi sóc từ khi nào?

T. Ngày 9/3/1936, đức thánh cha Piô XI ban hành sắc lệnh chia Giáo phận Bùi Chu làm hai để thành lập Giáo phận Thái B́nh, phần đất thuộc tỉnh Nam Định vẫn giữ tên gọi là Giáo phận Bùi Chu được trao cho hàng giáo sĩ bản quốc cai quản, đứng đầu là đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn, vị giám mục người Việt thứ hai và là vị giám mục bản quốc đầu tiên coi sóc Giáo phận.

7- H. Biến cố nào đă làm cho các tín hữu Bùi Chu lan tràn đi khắp nơi?

T. Biến cố năm 1954 đă khiến cho phần lớn các linh mục, tu sĩ và khoảng một nửa số giáo dân di cư vào Miền Nam. Với ḷng đạo đức và nhiệt tâm tông đồ sẵn có, người tín hữu Bùi Chu đă đem di sản đức tin và văn hoá của ḿnh đi khắp đất nước và nhiều quốc gia trên toàn thế giới

8- H. Có dịp nào phái đoàn Toà Thánh về thăm Giáo phận Bùi Chu?

T. Có 3 dịp thể hiện sự quan tâm của Toà Thánh đối với Giáo phận:

- ngày 4/7/1989, Đức hồng y Roger Etchegaray, đại diện Đức Thánh Cha về thăm Giáo phận Bùi Chu.

- ngày 14/10/2002, phái đoàn Toà Thánh do Đức ông Celestino Migliore dẫn đầu viếng thăm Bùi Chu.

- ngày 21/2/2009, phái đoàn Toà Thánh do Đức ông Pietro Parolin dẫn đầu đến thăm Giáo phận, gặp gỡ các linh mục và tu sĩ.

9- H. Bùi Chu được nâng lên hàng Giáo phận chính toà khi nào?

T. Ngày 24/11/1960, đức thánh cha Gioan XXIII ban sắc lệnh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam nên Giáo phận tông toà Bùi Chu trở thành Giáo phận chính toà, do đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh coi sóc.

10- H. Giáo phận Bùi Chu có phần lănh thổ như thế nào?

T. Giáo phận Bùi Chu có diện tích khoảng 1350 km2, nhỏ nhất trong các Giáo phận tại Việt Nam, chiếm khoảng 2/3 diện tích của tỉnh Nam Định, gồm các huyện: Xuân Trường, Giao Thuỷ, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng và một phần của thành phố Nam Định.

11- H. Giáo phận Bùi Chu có ranh giới như thế nào?

T. Giáo phận Bùi Chu nằm ở đồng bằng châu thổ sông Hồng, phía Đông Bắc giáp Giáo phận Thái B́nh bằng sông Hồng, Tây Bắc giáp Giáo phận Hà Nội bằng sông Đào, Tây Nam giáp Giáo phận Phát Diệm bằng sông Đáy, và Đông Nam là Vịnh Bắc Bộ.

12- H. T́nh h́nh nhân sự của Giáo phận Bùi Chu hiện nay thế nào?

T. Hiện nay Giáo phận có 167 linh mục, 5 phó tế, 609 tu sĩ, 50 đại chủng sinh, 391.837 tín hữu trên tổng số dân 1.821.495 người. Chủ chăn Giáo phận là Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm.

13- H. Giáo phận Bùi Chu có bao nhiêu giáo xứ, giáo họ và giáo hạt?

T. Giáo phận có 157 giáo xứ và 438 giáo họ, được phân bố theo 6 giáo hạt và được điều hành bởi 6 cha Hạt trưởng: Phú Nhai, Tương Nam, Đại Đồng, Quần Phương, Tứ Trùng, Lạc Đạo

14- H. Giáo phận Bùi Chu có những Hội Ḍng nào?

T. Hiện nay Giáo phận có sự hiện diện và hoạt động tích cực của các Hội Ḍng: Mân Côi, Đaminh, Trinh Vương, Mến Thánh Giá, Thăm Viếng và Tu Hội Đời Thánh Tâm Chúa Giêsu.

15- H. Đền thánh Phú Nhai được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Đường từ khi nào?

T. Ngày 12/8/2008, nhân dịp Năm Thánh kỷ niệm 150 năm dâng hiến Giáo phận Bùi Chu cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, Toà Thánh đă ban sắc lệnh phong tước hiệu Tiểu Vương Cung Thánh Đường cho Đền Thánh Phú Nhai. Biến cố này đă khích lệ ḷng đạo đức của người tín hữu Bùi Chu và gia tăng t́nh yêu mến, hiệp nhất với Giáo Hội và với Đức Thánh Cha.

16- H. Trong Năm Thánh 2010, Giáo phận có sự kiện đặc biệt nào?

T. Trong Năm Thánh 2010 và cũng là Năm Linh Mục, Toà Thánh đă chấp thuận việc thiết lập Đại Chủng Viện Bùi Chu, nhằm đào tạo các linh mục tương lai phục vụ Giáo Hội. Khoá đầu tiên của Đại Chủng Viện sẽ khai giảng vào đầu tháng 9 năm 2010.

17- H. Giáo phận Bùi Chu có bao nhiêu vị thánh tử v́ đạo?

T. Ngày 19/6/1988, Đức thánh cha Gioan Phaolô đệ nhị đă tôn phong 117 Chân phước tử v́ đạo tại Việt Nam lên hàng hiển thánh, trong đó có 26 vị sinh quán tại Bùi Chu, 18 vị phục vụ tại Bùi Chu. Đó là 44 vị hiển thánh tử v́ đạo tiêu biểu cho 514 vị tôi tớ Chúa và khoảng 16.500 vị anh hùng tử v́ đạo bao gồm các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong Giáo phận đă kiên trung đổ máu đào làm chứng cho Chúa Kitô giữa anh chị em đồng bào.

18- H. Bùi Chu có những giám mục nào đă được phong hiển thánh?

T. Trong số 117 vị hiển thánh tử v́ đạo tại Việt Nam, có 6 thánh giám mục đă phục vụ tại Bùi Chu:

1. Đức cha Đaminh Minh (Dominicus Henarès), chịu xử trảm ngày 25/06/1838 tại Nam Định dưới đời vua Minh Mạng.
2. Đức cha Clêmentê Inhaxiô Y (Ignatius Delgado), chịu chết rũ tù ngày 12/07/1838 tại Nam Định dưới đời vua Minh Mạng.
3. Đức cha Giuse An (Maria Diaz Sanjurjo), chịu xử trảm ngày 20/07/1857 tại Nam Định dưới đời vua Tự Đức.
4. Đức cha Melchor Xuyên (Garcia Sampedro), chịu xử lăng tŕ ngày 28/07/1858 tại Nam Định dưới đời vua Tự Đức.
5. Đức cha Giêrônimô Liêm (Hieronymus Hermosilla), chịu xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới thời vua Tự Đức.
6. Đức cha Vinh (Berrio Ochoa), chịu xử trảm ngày 1/11/1861 tại Hải Dương dưới đời vua Tự Đức.

19- H. Những giám mục người Việt nào đă coi sóc Giáo phận Bùi Chu?

T. Từ khi giáo phận Bùi Chu được trao cho hàng giáo sĩ bản quốc, đă có các vị giám mục người Việt coi sóc Giáo phận là:

- Đức cha Đaminh Hồ Ngọc Cẩn (1935 - 1948);
- Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi (1950 - 1954);
- Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh (1960 - 1974);
- Đức cha Đaminh Lê Hữu Cung (1975 - 1987);
- Đức cha Giuse Vũ Duy Nhất (1987 - 1999);
- Đức cha Giuse Hoàng Văn Tiệm (2001 - ) và
- Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Gm. phụ tá (2006 - 2009).

20- H. Giáo phận Bùi Chu đang làm ǵ để hướng đến tương lai?

T. Giáo phận đang nỗ lực đào sâu đức tin, thăng tiến đời sống đạo đức thánh thiện, vững ḷng cậy trông vào t́nh yêu quan pḥng của Thiên Chúa và sự bảo trợ của Mẹ Maria. Đồng thời quan tâm đến vấn đề giáo dục, đào tạo nhân sự tiếp tục duy tŕ và phát triển di sản của tiền nhân, tận tâm loan báo và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu trong bối cảnh xă hội hôm nay.

Nguồn : Trang Web SVCG Bùi Chu