Giáo Phận Bùi Chu

 Lược Sử

Giáo Phận Bùi Chu

 

Prepared for Internet by Vietnamese Missionaries in Asia

 

A. Lược Sử Giáo Phận Bùi Chu

 

Bùi Chu cho đến bây giờ vẫn được coi là nơi đầu tiên đón nhận Tin Mừng tại Việt Nam:

"Gia-tô, dă lục, Lê Trang Tông, Nguyên Ḥa nguyên niên, tam nguyệt nhật, Dương nhân danh Y-nê-xu tiềm lai Nam Chân chi Ninh Cường, Quần Anh, Giao Thuỷ chi Trà Lũ âm dĩ Gia-tô tả đạo truyền giáo --- Tháng 3 năm Nguyên Ḥa thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, ngướ Tây Dương tên là Ynêxu lén lút đến làng Trà Lũ huyện Giao Thuỷ, ngấm ngầm truyền tả đạo Giatô" (Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quyển XXXIII, tờ 5-6, cf. quyển XLI, tờ 24-25).

Những ḍng lịch sử tuy vắn gọn, nhưng lại là lời mở đầu rất đẹp cho ḍng lịch sử Giáo hội Việt Nam và đặc biệt Giáo phận Bùi Chu.

Thêm vào trang sử của Giáo hội Việt Nam, trong số 117 vị thánh chứng nhân Việt Nam: có 26 vị sinh quán tại Bùi Chu và 18 vị phục vụ tại Bùi Chu, như vậy giáo phận Bùi Chu có 44 vị thánh đại diện 514 tôi tớ Chúa và khoảng 16,500 người đă chết để làm chứng cho Chúa thuộc hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong giáo phận Bùi Chu.

Từ năm 1640-1954, Bùi Chu là vùng truyền giáo. Sau đó, vào năm 1960, giáo phận Bùi chu được Ṭa Thánh nâng lên bậc giáo phận chính ṭa. Tuy có diện tích nhỏ nhất, nhưng giáo phận Bùi Chu có số giáo hữu đông nhất trong Giáo Hội Việt Nam. Qúa tŕnh lịch sử này được tóm lược như sau:

Năm 1659, Ṭa Thánh chính thức thành lập hai giáo phận tại Việt Nam th́ vùng đất Bùi Chu đă có đông giáo hữu thuộc giáo phận Đàng Ngoài do các thừa sai ḍng Tên phục vụ, từ năm 1676 thêm các cha Đa Minh.

Ngày 19-2-1670, Đức cha P. Lambert de la Motte lập ḍng cho hai chị Phaolô và Anê tại họ Bắc Câu, xứ Kiên Lao. Cũng năm 1670, Kiên Lao là giáo xứ có đông giáo hữu nhất trong giáo phận Đàng Ngoài và cha Simon Kiên (nguyên quán) phục vụ rồi qua đời tại đây (1671-1673).

Năm 1679, giáo phận Đàng Ngoài được chia làm hai: Tây Đàng Ngoài do Đức cha Jacques de Bourges cai quản, giáo phận Đông Đàng Ngoài do Đức cha F. Deydier Phan cai quản. Suốt thời gian 1679-1848, ṭa giám mục thường được đặt tại Lục Thuỷ Hạ (nay là Liên Thủy), Trà Lũ, Trung Linh, Bùi Chu.

Năm 1848, Ṭa Thánh chia đôi giáo phận Đông Đàng Ngoài: một giữ tên cũ giáo phận Đông và một lấy tên giáo phận Trung do Đức cha Domingo Marti Gia coi sóc. Gọi là Trung v́ nó nằm giữa giáo phận Đông và Tây. Giáo phận mới tuy hẹp đất nhưng số giáo hữu đông gấp ba lần giáo phận cũ. Giáo phận Đông có 45,000 tín hữu, giáo phận Trung có tới 139,000 tín hữu.

Năm 1858, Đức cha Valentin Berrio Ochoa Vinh và cha chính Emmanuel Riano Ḥa dâng giáo phận cho Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội và hứa sẽ xây dựng một nhà thờ khang trang để kính Đức Mẹ. Sau nhiều lần xây dựng, đến thánh Phú Nhai hiện nay (xức dầu thánh hiến trọng thể vào ngày 7-12-1933) là chứng tích t́nh Mẹ che chở giáo phận và ḷng yêu mến của toàn thể con cái Bùi Chu đối với Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội.

Ngày 3-12-1924, tất cả các giáo phận ở Việt Nam đều được Ṭa Thánh đổi tên theo địa hạt hành chính nơi đặt ṭa giám mục, nên giáo phận Trung được đổi thành giáo phận Bùi Chu do Đức cha Pedro Munagorri Trung coi sóc.

Năm 1936, Ṭa Thánh chia giáo phận Bùi Chu thành hai: một giữ tên cũ Bùi Chu do Đức cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn coi sóc, một lấy tên giáo phận Thái B́nh.

Năm 1960, giáo phận tông ṭa Bùi Chu được nâng lên giáo phận chính ṭa do Đức cha Giuse Phạm Năng Tĩnh coi sóc.

 

Sắc chỉ thành lập

 

Việc thành lập giáo phận Bùi Chu đă được Ṭa Thánh chính thức ban sắc ba lần:

- Trước hết, ngày 5-9-1848 với Sắc lệnh Apostolatus Officium, Đức Giáo Hoàng Piô IX công bố chia giáo phận Đông Đàng Ngoài thành hai: giáo phận Trung (Bùi Chu) gồm hai tỉnh Hưng Yên, Thái B́nh và 2/3 tỉnh Nam Định. Phần c̣n lại mang tên cũ là giáo phận Đông.

- Ngày 3-12-1924, lễ Thánh Phanxicô Xaviê, bổn mạng các xứ truyền giáo, thể theo nguyện vọng của các đấng bản quyền Đông Dương, qua Sắc Lệnh Ordinarie Indosinensis, Đức Giáo Hoàng Piô XI đă đổi danh xưng địa dư ra danh xưng địa phương: giáo phận Trung ra Bùi Chu, giáo phận Đông ra Hải Pḥng, giáo phận Tây ra Hà Nội.

- Ngày 9-3-1936, một biến cố lịch sử vẻ vang, cũng Đức Giáo Hoàng Piô XI đă ban Sắc Proecipuas inter Apostolicas quyết định chia giáo phận Bùi Chu, lấy lănh thổ tỉnh Thái B́nh và Hưng Yên để thành lập giáo phận Thái B́nh. Phần c̣n lại vẫn giữ nguyên tên giáo phận Bùi Chu và được trao cho hàng giáo sĩ bản quốc coi sóc. Thế là lịch sử giáo phận Bùi Chu đă sang trang mới.

 

B. Địa Lư và Dân Số

 

Ranh giới: Giáo Phận Bùi Chu biện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Định, bao gồm sáu huyện (Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng) và khu vực xứ Khoái Đồng, thành phố Nam Định. Phía Đông Bắc là giáo phận Thái B́nh, phía Tây Bắc là sông Đào nối sông Hồng với sông Đáy phân ranh giới với giáo phận Hà Nội, và phía Tây Nam là giáo phận Phát Diệm và phía Đông Nam là biển Đông (vịnh Bắc Bộ). Diện tích 1,350 km2.

Dân cư: Tổng dân số địa phương trong 6 huyện và khu vực xứ Khoái Đồng, thành phố Nam Định, thuộc giáo phận Bùi Chu là 1,336,400 người. Số giáo dân Công giáo là 380,130 người, chiếm tỷ lệ 28,44%. Giáo phận thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ nên 100% là dân tộc Kinh.

Nghề nghiệp: Dân chúng Bùi Chu có khoảng 84% làm nông nghiệp, 5% làm muối và đi biển, 11% làm nghề thương mại, cơ khí kỹ nghệ, tiểu thủ công nghiệp...

Những con sông cần nhớ: hai con sông Hồng và sông Đáy tựa như hai cánh tay khỏe bao bọc lấy giáo phận Bùi Chu, cung cấp nước và phù sa cho những cánh đồng ph́ nhiêu màu mỡ. Nhờ thế tạo nên khu vực rất trù phú, dân cư đông đúc, sống hiền lành chất phác. Đây thật là môi trường thuận lợi cho việc đón nhận và phát triển Tin Mừng. Ngoài ra, con sông Ninh Cơ, một nhánh của sông Hồng, nằm giữa giáo phận, tuy không lớn bằng hai sông trên nhưng có vai tṛ rất quan trọng. Ngoài việc đưa nước và phù sa đến tất cả các huyện, nó c̣n là trục giao thông rất thuận tiện nữa. Những con sông trên đều in đậm dấu vết những cuộc hành tŕnh rao giảng Tin Mừng của các nhà truyền giáo.

 

C. Các nhà thờ và đền thánh

 

- Nhà thờ Chính Ṭa Bùi Chu: Nhà thờ được xây dựng từ thời Đức cha Wenceslao Onate Thuận (1884), chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m. Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ này vẫn đứng vững với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn, thật xứng đáng là nhà thờ mẹ của các nhà thờ trong giáo phận.

- Đền thánh Phú Nhai với diện tích 2,160m2, dài 80m, rộng 27m, cao 30m, tháp cao 44m, được xây theo lối kiến trúc Gothic thật nguy nga tráng lệ. Đây là biểu tượng ḷng yêu mến Đức Mẹ của con cái Bùi Chu.

- Đền Các Thánh Tử Đạo Quần Phương dành kính các thánh tử đạo nói chung và cách riêng các thánh tử đạo quê hương Bùi Chu. Đền Thánh dài 60m. rộng 21m, cánh 37m, cao 18m, tháp 34m. Đền Thánh như là một lời hứa âm thầm của con cháu Bùi Chu rằng: sẽ cương quyết tiếp bước cha ông, sống đức tin, làm chứng cho Tin Mừng giữa ḍng đời.

- Đền thánh Ninh Cường nằm trên mảnh đất phù sa mầu mỡ cạnh bờ sông Ninh Cơ, nơi đây vinh dự được đón vị truyền giáo Inikhu theo Khâm Định Việt Sử đă ghi. Năm 1998, Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất đă xức dầu thánh hiến và nâng lên Đền Thánh để cảm tạ và ghi ơn Đức Mẹ Mân Côi đă phù trợ giáo phận được b́nh an trải qua những ngày sóng gió băo táp.

- Đền thánh Kiên Lao và Sa Châu được Đức cha Giuse Maria Vũ Duy Nhất xức dầu hiến thánh nâng lên Đền Thánh năm 1997. Đền thánh Kiên Lao dành riêng để kính Thánh Gia Thất, c̣n Đền thánh Sa Châu dành để kính Thánh Giuse Công Nhân.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)