Giáo phận Đà Nẵng

Nhà thờ Giáo xứ An Sơn

 

Nhà thờ Giáo xứ An Sơn - Giáo hạt Tam Kỳ

Địa chỉ :      B́nh An, Thăng B́nh, Quảng Nam   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh Mục Đaminh Trần Công Danh 

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

1625

Bổn mạng

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời

Số giáo dân

968

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

 

Lược sử Giáo xứ An Sơn

Giáo xứ An Sơn nằm trong khu vực miền trung trung bộ, thuộc giáo hạt Tam Kỳ, Giáo phận Đà Nẵng. Là giáo xứ lâu đời nhất của Giáo phận.Đón nhận tin mừng vào khoảng năm 1625.Hậu bán thế kỷ thứ 19 (văn thân) một số cha ông được phúc tử đạo. Trong những năm của thập niên đầu thế kỷ 18 có một số người di dân từ miền Bắc vào lập nghiệp và sinh sống cùng dân bản xứ. Không biết tự bao giờ người dân gọi vùng này là làng Phụ Sơn, dần sau này mới đổi tên là làng An Sơn, tên gọi đó được giữ cho đến ngày nay.

Theo lời truyền tụng của các bậc cao niên qua nhiều thế hệ, vùng đất An Sơn ngày xưa là vùng rừng núi âm u, cây cối rậm rạp. Dân số không nhiều, nhà cửa thưa thớt, họ sống răi rác thành từng cụm nhỏ, sống chủ yếu nhờ nghề trồng trọt và mở rộng diện tích sản xuất bằng việc khai hoang vỡ hóa. Nhưng nhờ số dân di cư từ miền Bắc vào lập nghiệp cùng dân bản xứ mà làng phụ sơn mới h́nh thành và phát triển. Để hiểu rơ hơn về làng An Sơn qua từng giai đoạn thời kỳ thăng trầm của lịch sử, tuy không có các tài liệu nào ghi chép một cách cụ thể. Nhưng căn cứ vào các sử liệu c̣n rất ít của giáo xứ, cùng với một số chứng tích đức tin c̣n lưu giữ đến ngày hôm nay là một minh chứng cho ḍng lịch sử giai đoạn ( 1625-2012 ) của giáo xứ An Sơn để có thể sơ lược tóm tắt như sau :

PHẦN I : ĐẶC ĐIỂM T̀NH H̀NH CHUNG

(Phương diện hành chính)

I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LƯ TỰ NHIÊN-KINH TẾ XĂ HỘI

1. Vị trí địa lư :

Giáo xứ An Sơn thuộc thôn An Phước, xă B́nh

An, huyện Thăng B́nh, tỉnh Quảng Nam. Cách thành phố Tam Kỳ khoảng 15 km nằm về phía Bắc, cách quốc lộ 1A khoảng 5 km về phía hướng Tây và thành phố Đà Nẵng khoảng 65 km về phía hướng Nam.

- Phía Bắc giáp xă B́nh Quế và xă B́nh Trung
- Phía Tây giáp xă B́nh Quế ( lấy đường cao tốc Quăng Ngăi – Đà Nẵng làm ranh giới )
- Phía Nam giáp xă B́nh Quế và xă Tam Thành huyện Phú Ninh.
- Phía Đông giáp đường sắt Bắc Nam

Có tọa độ địa lư : - 15º38'47" Độ vĩ Bắc  -  108º23'16" Độ kinh Đông

Diện tích tự nhiên phạm vi nhà thờ: 5400m2

2. Đặc điểm địa h́nh, địa vật :

Giáo xứ tọa lạc trong hệ thống phân thủy không ro nét, dạng thung lũng, bao bọc bởi đồi núi g̣ đồi úp bát. Phía trước là đồng ruộng bậc thang dạng thấp, phía sau là núi trồng cây lâu niên lấy gỗ và củi. Ngoài ra, cảnh quan và dáng bề thế của một nhà thờ giáo xứ nơi vùng quê rất thuận lợi cho việc sinh hoạt tôn giáo và trên bước đường truyền giáo.

3.Điều kiện dân sinh,giao thông, kinh tế

Đa số giáo dân là người dân bản xứ, thuần nông,

không có nghề nào khác lúc nông nhàn, chỉ quanh năm với ruộng đồng. Do điều kiện địa h́nh tự nhiên không thuận lợi, đất đai hạn chế, bạc màu. Không có hệ thống sông suối, tưới tiêu phụ thuộc vào nước trời. Phần ruộng c̣n lại bậc thấp, diện tích rất ít chỉ được tưới tiêu qua hệ thống ống dẫn ngầm của thủy lợi Phú Ninh, nên sản xuất gặp nhiều khó khăn , kinh tế chậm phát triển. Mạng lưới giao thông nông thôn chậm triển khai nên khó giao lưu buôn bán với với bên ngoài. Thu nhập hằng năm đầu người thấp, điều kiện kinh tế nh́n chung rất vất vả, khó làm giàu từ sản phẩm làm ra. Đó là điều kiện dẫn đến đói nghèo hiện nay.

Vào mùa mưa lũ đường sá đi lại khó khăn. Do vậy nhà nước đă đầu tư một con đường bê tông dài 1,6 km, trong đó nguồn vốn của nhà nước 50 % c̣n lại cha xứ và nhân dân 50%. Hiện nay đường bê tông rộng 3 m đă hoàn thành đưa vào sử dụng.

V́ thế, khó khăn chung và kế sinh nhai nên một số giáo dân đă rời quê cha đất Tổ t́m cuộc sống mới nơi đất khách quê người ở miền Nam.

PHẦN II : BUỔI SƠ KHAI VÀ QUA CÁC GIAI ĐOẠN

(Phương diện tôn giáo)

1.Buổi sơ khai và giai đoạn h́nh thành.

Khi làng Phụ Sơn thành lập là lúc hạt giống tin mừng được đơm hoa kết trái. Vào ngày 18/01/1615 một phái đoàn truyền giáo ḍng tên được phái đến đàng trong truyền đạo. Năm 1619-1621 các linh mục truyền giáo ở hẳn tại Thanh Chiêm ( nay là xă Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ) mua nhà và học Tiếng Việt để dễ dàng trong công cuộc truyền giáo. Vào khoảng năm 1625 các giáo sĩ có lẽ đă thông thạo Tiếng Việt và bắt đầu rao giảng tin mừng đă đến vùng đất Phụ Sơn này để truyền đạo, gặp được thời cơ và điều kiện thuận lợi, các ngài gặt hái thành công trong công cuộc truyền giáo của ḿnh. Linh mục đầu tiên đặt chân đến vùng đất này không rơ tên tiếng Pháp, mọi người đều gọi Ngài là cố Bạch, sau Ngài là cố Khánh và cố Sơn. Các Ngài đều là người Pháp đă giảng đạo và ở lại trong nhà giáo dân. Trong thời kỳ đầu để có nơi thờ phượng và nge rao giảng tin mừng, các Ngài cùng với giáo dân xây dựng một ngôi nhà nguyện bằng tranh, tre ở một khu đồi gọi là núi Cháy cách nhà thờ mới bây giờ khoảng 600 m về phía hướng Tây. Sau ba linh mục người Pháp là một linh mục người Việt đến ở, gọi là cố Du.Về sau, cố Sơn lại trở về thay cố Du và dời nhà nguyện này đến vị trí mới sau nhà thờ mới bây giờ. Sau thời kỳ bách hại đạo, lĩnh vực Tôn giáo có phần tự do hơn, Ngài lại dời nhà nguyện một lần nữa về tọa lạc trước sân nhà thờ giáo xứ hiện nay. Nhà thờ được làm bằng gỗ, lợp ngoái khang trang hơn. Khi nhà thờ hoàn thành, cố Sơn trưng bày một tấm bia lưu niệm bằng gỗ, trên đó có khắc chữ Nho : “ Nhất thiên bát bách thập ngũ niên ” dịch là (1815) . Nhà thờ được tu sửa nhiều lần qua các thời kỳ, sau này v́ biến cố chiến tranh không dựng lại được trong nhiều năm. Măi đến năm 1972, cha Phêro Vũ Văn Khóa cho xây dựng lại nhà thờ. Khi đó, giáo dân tháo gở bia lưu niệm và đem gửi nhà ông Vơ Lành là một giáo dân ở cạnh nhà thờ nhưng về sau bị thất lạc.

Để có được thành tựu như ngày hôm nay là nhờ sự đóng góp của các giáo sĩ phương Tây trong bước đầu xây dựng và truyền bá đức tin, và những linh mục kế vị đă bỏ ra nhiều công sức và cả cuộc đời cho giáo xứ. Song song với những đóng góp ấy là những hy sinh đau đớn mà cha ông phải chịu trong giai đoạn cực kỳ gay go và phức tạp. Đó là những vị anh hùng tuẫn đạo An Sơn mà theo lời truyền kể c̣n ghi nhận qua các cụ già cao tuổi và một số chứng tích c̣n lại cho đến ngày hôm nay.

Trong cuộc thử thách của phong trào Cần Vương, ở giáo xứ An Sơn vào ngày 10/10/1885 với trận Hà Đông ( phủ Tam Kỳ ) quân Văn Thân đă sát hại trên 60 người giáo dân bằng cách thiêu sống hoặc ném xuống giếng. Sau thời gian này, khi yên ổn, giáo dân mới trở về cải táng, các hài cốt lúc đó chỉ c̣n lại tro và xương mà thôi. Hiện nay trong địa bàn giáo xứ có 5 ngôi mộ tử đạo. Một ngôi mộ gồm 36 hài cốt bị thiêu cháy ( số này bị trói vào một nhà hương hội rồi phóng hỏa ) . Các hài cốt này được táng nhiều trong khuôn viên trước nhà thờ nên gọi là G̣ Thánh. Năm 1978, cha G.B Nguyễn Bá Vi chuyển về cải táng sau nhà thờ. C̣n lại 3 mộ khác chôn các hài cốt được hốt lên ở các giếng như : Giếng Cát, Giếng ông Lành, rồi đem chôn ở các g̣ đất : G̣ Cam, G̣ Cây Trâm, Núi Họ, thường gọi là “mả liếp” . Ngoài ra c̣n một số ngôi mộ ở giáo họ An Trường, ngôi mộ này cũng chôn nhiều người như vậy. Trong thời gian phong trào Cần Vương này, có 2 giáo dân cũng bị giết khi chạy chốn từ An Sơn ra Trà Kiệu.

Vào ngày 16/7/1999, giáo dân đă di dời một số hài cốt ở các ngôi mộ kể trên về an táng cạnh hang đá Đức Mẹ. Đặc biệt khi hài cốt ngôi mộ ở núi họ, giáo dân phát hiện thêm đươc 15 hài cốt được chôn theo thứ tự trong một “mả liếp” dài 5 m. Những hài cốt được an táng cạnh hang đá Đức Mẹ, hiện nay được cha Dôminico Trần Công Danh xây dựng nhà và đặt bia tưởng niệm.

Trải qua các thời kỳ từ buổi sơ khai đến giai đoạn h́nh thành, giáo dân có chiều hướng gia tăng nhưng không ổn định, v́ sự kiện tâm linh, biến cố chiến tranh. Thời kỳ của các cố Bạch, cố Khánh, cố Sơn, cha Du không rơ số giáo dân là bao nhiêu.

2. Giai đoạn phát triển và thời kỳ truyền giáo.

- Năm 1907-1908 linh mục Pirere Auguste Galliog gọi là cố Thiết đă về kế nhiệm cha Du được một năm, rồi Ngài cũng theo ư bề trên thuyên chuyển đến nơi khác. Không rơ thời gian sau năm 1908 Ngài ở đâu, nhưng măi đến năm (1912-1916) Ngài ở giáo xứ Trà Kiệu. Sau cố Thiết có các cố Nghiêm, cố Trang và cố Dơng đến và củng cố giáo xứ ngày càng phát triển.

Kể từ khi truyền đạo ở An Sơn, các cố Pháp ở lại rất lâu mới có vị kế nhiệm. Riêng cố Dơng tại vị thời gian rất dài, mặc dầu sau này có 2 linh mục Việt Nam.

- Năm 1914-1916 : cha Miễn đến ở trong thời gian 2 năm.
- Năm 1916-1918 : cha Hậu kế nhiệm được 2 năm.
- Năm 1918-1931 : cha Ái đến thay cha Hậu, thời gian này cha Ái ở và củng cố giáo xứ được 13 năm. Ngài c̣n được cha phó Chánh đến giúp.
- Năm 1931-1945 : cha Tôma Bùi Đức đến thay cha Ái thời gian ở giáo xứ là 14 năm. Ngài c̣n được cha phó Vận đến giúp. Thời kỳ này cánh đồng truyền giáo được mở ra khắp vùng miền, từ miền núi huyện Tiên Phước, đến vùng trung du và vùng biển huyện Thăng B́nh. Trong đó có cả giáo xứ Tam Kỳ ngày nay.

- Theo Compterren du Qui Nhơn năm 1939. Giáo xứ An Sơn có 9 giáo họ gồm 1.341 giáo dân.

- Trong Mision Catholique en indochine. Năm 1939 Vân Đơa là xứ phụ ( Annex ) của An Sơn gồm 4 giáo họ :

+ Vân Đơa ( Vân Đông ) 244 giáo dân
+ Trường An 82 giáo dân
+ Tiên Đơa 185 giáo dân
+ Phước Ấm 116 giao dân

- Các giáo họ của giáo xứ An Sơn trước 1945.

+ An Sơn 269 giáo dân
+ An Trường 177 giáo dân
+ Cẩm Y 81 giáo dân
+ Thọ Sơn 56 giáo dân
+ Cẩm Long 131 giáo dân

- Năm 1945-1946 : cha Như kế nhiệm cha Đức. Ngài ở trong thời gian chừng 1 năm.
- Năm 1947 : cha Thiên kế nhiệm cha Đức trong thời gian 1 năm.
- Năm 1948 : cha Mầu đến tại vị giáo xứ được 3 tháng
- Năm 1948-1956 cha G.B Bùi Đức Tuấn đến kế nhiệm cha Huỳnh Mầu. Thời gian ở giáo xứ là 8 năm.
- Năm 1956-1957 cha Phêro Nguyễn Quang Sách đến kế nhiệm cha Tuấn gần được 1 năm. Trong thời gian ở giáo xứ cha cho xây dựng nền móng nhà thờ bằng đá granit ( nền móng này được cha Phaolo Đoàn Quang Dân xây nhà thờ mới hiện nay vào năm 2005 ) để chuẩn bị xây dựng nhà thờ khang trang hơn. Nhưng v́ lư do mục vục Ngài lại về Giáo phận Qui Nhơn, trong sự tiếc nuối của hàng ngàn giáo dân. Giai đoạn này rất cực thịnh, hạt giống tin mừng đă triển nở, số giáo dân tăng lên là 8.000 người.
- Năm 1958-1960 : cha Phaolo Huỳnh Ngọc Cảnh đến kế nhiệm cha Nguyễn Quang Sách. Mặc dầu nhân sự luôn thay đổi, kể từ khi được đón nhận đức tin cho đến nay. Trong nhiều hoàn cảnh thuận tiện cũng như những lúc khó khăn, giáo xứ vẫn trên đà phát triển với nhiều họ đạo, xứ đạo.

Như đă tŕnh bày ở phần trên thời kỳ phát triển giai đoạn ( 1958-1960 ) có 11.000 giáo dân. Trong đó gồm 29 giáo họ và 25 nhà thờ, nhà nguyện. Các giáo họ như : Phú Thị, Thái Đông, Đông An, Kế Xuyên, B́nh Quế, An Đại, An Sơn, Phú Ḥa, Sơn Tây, Phụng Loan, Vân An, Bắc Lâm, Tây Mỹ, B́nh Đông, Du Nghĩa, Trường Phước, Đồng Lập, An Trường, Vân đơa, B́nh Phong (huyện Thăng B́nh)Cẩm Long, Thọ Đức, Thọ Sơn, Đồng Qúi, Cẩm Y ( huyện Tiên Phước ) Việt An ( huyện Hiệp Đức ) Thuận Yên ( huyện Núi Thành ) Tam Thành ( huyện Phú Ninh ) Tam Kỳ ( thành phố Tam Kỳ ).

Đặc biệt có nơi như giáo họ Vân Đơa, được cha phó chánh kiêm nhiệm, về sau thành giáo xứ Vân Đơa. Giáo họ Tam Kỳ, được cha phó Vận coi sóc và kiêm nhiệm, nay là giáo xứ Tam Kỳ. Giáo họ B́nh Phong nay là giáo xứ B́nh Phong. Giáo họ Tam Thành nay là giáo xứ Tam Thành. Giáo họ Việt An nay là giáo xứ Việt An.

Ngoài ra, các giáo họ khác tùy địa bàn sinh hoạt mà sát nhập vào các giáo xứ lân cận, có một số họ không c̣n sinh hoạt nữa v́ không c̣n giáo dân.

3.Giai đoạn biến cố : (1960-1974)

-Năm 1960-1966 cha Simon Nguyễn Kim Ngọc về kế nhiệm cha Phaolo Huỳnh Ngọc Cảnh, cũng là thời điểm có nhiều biến cố lịch sử. Trong đó phải kể đến biến cố chiến tranh. Số giáo dân c̣n lại khoảng 1.200 người. Vào cuối thời kỳ năm 1966 giáo xứ An Sơn không c̣n sinh hoạt nữa, nhà thờ bị sụp đổ, giáo dân bắt đầu ly tán, phần c̣n lại sinh hoạt ở B́nh Phong ( sau này thành lập giáo xứ B́nh Phong ) . Ngoài ra c̣n một số giáo dân khác v́ lư do chiến tranh đă đến cư ngụ ở Ḥa Khánh ( Đà Nẵng ) Chu Lai ( huyện Núi Thành ) để mưu cầu sự sống.

-Năm 1970-1974 cha Phêro Vũ Văn Khóa về B́nh Phong kế vị tiền nhiệm và kiêm giáo xứ An Sơn. Năm 1972 ngài đă xây dựng ngay trên nền móng do cha Nguyễn Quang Sách xây năm 1957 một nhà thờ và một nhà nguyện tại giáo họ Phú Ḥa năm 1971. Cũng thời kỳ này có một số ít giáo dân ở Ḥa Khánh ( Đà Nẵng ), Chu Lai ( huyện Núi Thành ) trở về quê hương làm ăn sinh sống. Số giáo dân khoảng 100 người.

4. Giai đoạn ổn định : ( 1975 đến nay )

-Năm 1975-1984 cha G.B Nguyễn Bá Vi. Ngài là phó xứ B́nh Phong. Sau năm 1975 ḥa b́nh lập lại cha được Giáo phận bổ nhiệm về giáo xứ An Sơn. Những năm tháng đầy khó khăn gian khổ để xây dựng lại những ǵ đă mất, thời kỳ này Ngài đă vượt qua chặng đường gian nan trên cánh đồng truyền giáo. Ngài đă cải trang người hoạn Heo để đến với giáo dân. Giai đoạn này có một số giáo dân hồi cư, số giáo dân tăng lên 300 người. Ngài đă từng mua và chở từng bao xi măng trên chiếc xe đạp cọc cạch về giáo họ An Trường xa xôi để xây thành một nhà nguyện. Thật là một công việc b́nh thường nhưng mang một ư nghĩa sâu xa trong ḷng mọi người.

-Năm 1984-1989 cha Giuse Ngô Đ́nh Chính là cha sở B́nh Phong kiêm nhiệm coi sóc giáo xứ An Sơn trong giai đoạn này.

-Năm 1989-18/9/2001 cha Phêro Lê Hưng được Giáo phận bổ nhiệm về giáo xứ. Trong hoàn cảnh của giáo xứ nghèo về vật chất, cơ sở thiếu thốn mọi bề, nhà xứ bị mối mọt phá hoại, cha phải làm lại từ đầu là xây dựng lại nhà xứ, sửa sang lại nhà thờ và giúp đỡ giáo dân nghèo xóa nhà tạm. Công việc truyền giáo, cha phục hồi lại các giáo họ, Phụng Loan, Sơn Tây và Phú Ḥa. Ở các giáo họ nhiều nơi đă trở lại đạo. Công việc đă dần ổn định cha đă xây dựng một hang đá Đức Mẹ trước nhà thờ thật uy nghi.

-Ngày ( 20/09/2001-11/07/2005 ) cha Phaolo Đoàn Quang Dân được bổ nhiệm về thay cha Phêro Lê Hưng. Để tiếp tục công việc c̣n lại của các bậc tiền nhiệm cha đă xây dựng một nhà thờ mới khang trang hơn và làm lễ khánh thành vào ngày 13/05/2005. Ngoài ra, Ngài c̣n xây thêm một tượng đài thánh Giuse trước nhà xứ hiện nay. Vào ngày 11/07/2005 Ngài được giáo phận chọn đi du học tại Philippin.

-Ngày ( 26/08/2005-2012 ) cha Giuse Nguyễn Văn Khang được Giáo phận bổ nhiệm thay cha Phaolo Đoàn Quang Dân. Cha về giáo xứ nơi ăn, chốn ở gặp khó khăn nhưng cơ sở vật chất tạm ổn định. Cha lo công việc truyền giáo, giúp đỡ các giáo dân nghèo xóa nhà tạm và trùng tu lại nhà nguyện Phú Ḥa, An Trường hoàn thành vào ngày 08/12/2005. Giai đoạn này rất ổn định số giáo dân là 1.000 người.

- Ngày ( 28/10/2010- đến nay ) cha Đôminico Trần Công Danh được Giáo phận bổ nhiệm thay cha Giuse Nguyễn Văn Khang. Trong thời gian cha nhận xứ, nhiều việc phải làm c̣n ở phía trước. Cha đă ngược xuôi xin tiền các nhà hảo tâm xây dựng nhà, bia tưởng niệm các vị tuẫn đạo An Sơn, hoàn thành vào ngày 31/07/2011. Trùng tu mặt tiền đường nhà nguyện An Trường và xây dựng đặt bia tưởng niệm các vị tuẫn đạo giáo họ An Trường. Xây và sửa sang lại nhà xứ và bao công việc khác cho giáo xứ.

Như vậy, cùng trải qua các biến cố thăng trầm của lịch sử, số lượng giáo dân từ khi h́nh thành giáo xứ cho đến nay có rất nhiều thay đổi. Nhưng có thể xác định vào các thời điểm như sau :

+ Thành lập giáo xứ : 300 giáo dân

+ Năm 1954 : 2.000 giáo dân

+ Năm 1958-1960 : 11.000 giáo dân

+ Năm 1963 : 1.200 giáo dân

( thời điểm thành lập Giáo phận Đà Nẵng )

+ Năm 1975 : 300 giáo dân

+ Năm 1999-đến nay : 1.000 giáo dân.

PHẦN III  :  HIỆN T̀NH GIÁO XỨ VÀ CÁC SỰ KIỆN

1.Hiện t́nh giáo xứ :

Hiện nay giáo xứ An Sơn gồm 5 giáo họ có 3 nhà thờ : An Sơn ( nhà thờ chính ) Phú Ḥa và An Trường. C̣n 2 giáo họ chưa có nhà thờ là : Sơn Tây, Phụng Loan. Tổng số giáo dân là: 1.000 người, trong đó :

+An Sơn : giáo dân

+ An Trường : giáo dân

+ Phú Ḥa : giáo dân

+ Phụng Loan : giáo dân

+Sơn Tây : giáo dân

Qua các thời kỳ, giáo xứ An Sơn đă có một số linh mục, tu sĩ nam nữ xuất thân từ giáo xứ :

1. Linh mục Lê Văn Triều (+)
2. Linh mục Vơ Ngọc Thọ (+)
3. Linh mục Lê Văn Lệ (+)
4. Linh mục Tôma Vơ Minh Danh
5. Linh mục Phêro Vơ Ngọc Sơn

6. Nữ tu Lê Thị Cảnh (+)
7. Nữ tu Trần Thị Thứ (+)
8. Nữ tu Nguyễn Thị Nhàn (+)
9. Nữ tu Vơ Thị Công
10.Nữ tu Maria Bùi Thị Kim Cương
11.Nữ tu Maria Vơ Minh Thủy

2.Các sự kiện:

-Năm 1957 cha Phêro Nguyễn Quang Sách xây dựng một nền móng nhà thờ bằng đá granit.

-Năm 1972 cha Phêro Vũ Văn Khóa xây dựng một ngôi nhà thờ trên nên móng cha Phêro Nguyễn Quang Sách xây.

-Năm 1989 cha Phêro Lê Hưng mở rộng, trùng tu nhà thờ,và xây dựng nhà xứ.

-Năm 2004 cha Phaolo Đoàn Quang Dân xây dựng nhà thờ mới và khánh thành vào tháng năm năm 2005.

-Năm 1971 cha Phêro Vũ Văn Khóa xây dựng nhà nguyện Phú Ḥa. Cha Giuse Nguyễn Văn Khang trùng tu và hoàn thành tháng 12 năm 2005.

- Nhà thờ giáo xứ An Trường do cha G.B Nguyễn Bá Vi xây dựng và được cha Dôminico Trần Công Danh sửa chữa mặt tiền và bậc cấp hoàn thành năm 2012.

- Vào ngày 15/03/1999 giáo xứ khởi công xây dựng hang đá Đức Mẹ và hoàn thành ngày 7/7/1999 do cha Phêro Lê Hưng xây dựng.

-Năm 2011 cha Đominico Trần Công Danh đă xây dựng nhà,bia tưởng niệm các vị tử đạo An Sơn hoàn thành ngày 31/07/2011, và xây dựng bia tưởng niệm các vị tử đạo An Trường hoàn thành vào năm 2012 và sữa lại mặt tiền nhà thờ cũng trong năm đó.

- Hằng năm vào ngày 15 tháng 8 ( dương lịch ) giáo xứ An Sơn mừng lễ bổn mạng : Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

3. Các sự kiện khác.

Để có các ban giáo chức giúp việc, tư vấn cho cha quản xứ và điều hành công việc chung trong toàn xứ. Mỗi thời kỳ, điều kiện khác nhau. Nên giáo xứ An Sơn có những đặc điểm riêng.

Vào thời kỳ đầu cho đến năm 1970. Ban giáo chức thường là do cha quản xứ chỉ định. Thời gian phục vụ không nhất định, các giáo chức khi nhận việc thường gọi là : ông Trùm, ông Câu, ông Biện. Thời đó có các ông đă giúp việc cho giáo xứ đó là :

● Ông Trùm : Cảnh.

● Các ông Câu có : Bổ, Ty, Tề, Huỳnh…..

● Các ông Biện : Lành, Thành.

- Từ năm ( 1971-1999 ) các giáo chức được bầu theo nhiệm kỳ với thời gian ấn định là 3 hoặc 4 năm. Đứng đầu là trưởng ban và các ủy viên.

Các trưởng ban có ông : Lê Tường, Lê Trương, Bùi Ngọc Ân, Lê Văn, Lê Lành, Lê An……

Hiện nay nhiệm kỳ bổ nhiệm chức vụ giáo xứ là 5 năm.

PHẦN IV  :  CÁC GIẢI PHÁP VÀ KẾT LUẬN

1.Các giải pháp.

- T́nh h́nh giáo xứ trong xu thế hiện nay, việc số giáo dân trẻ trong lúc nông nhàn, hoăc gặp hoàn cảnh khó khăn, họ sẵn sàng rời xứ để đến lập nghiệp ở nơi khác. V́ thế số giáo dân giảm đáng kể.

- Sống đạo của giới trẻ hôm nay rất thờ ơ, không chú tâm vào đời sống đạo đức. Đức tin dễ lung lay bởi tác động ngoại cảnh. Đọc kinh gia đ́nh hầu như rất ít, có khi không quan tâm.

+ Giải pháp

- Phải ổn định được đời sống kinh tế nơi địa phương vùng nông thôn, khi xă hội phát triển như : mở các lớp đào tạo các kỹ năng về kỹ thuật nhiều ngành nghề và xây dựng các nhà máy vùng nông thôn, hạn chế các nhà máy xây dựng ở thành phố. Để họ có nghề nghiệp ổn định, công ăn viêc làm lâu dài, an cư lập nghiệp. ( phần xă hội )

- Cha mẹ phải làm gương và giáo dục con cái ḿnh từ khi c̣n nhỏ và hướng dẫn những điều hay lẽ phải lúc trưởng thành và đọc kinh chung gia đ́nh lúc sáng tối.

2.Kết luận

- Lịch sử của giáo xứ An Sơn từ buổi sơ khai cho đến giai đoạn hiện nay đă qua bao thăng trầm. Có lúc tưởng chừng như không tồn tại trong giai đoạn ( 1960-1974 ) . Nhưng nhờ ơn Chúa mà giáo xứ đă vượt qua đến bến bờ b́nh an. Mỗi lần nhắc đến lịch sử, là mỗi lần con cháu được hảnh diện về phẩm hạnh và đức hy sinh của cha, ông chúng ta, để con cháu hưởng ơn phúc đến ngày nay. Thật là hạnh phúc những bước chân người tiên phong.

- Với đôi ḍng lịch sử giáo xứ An Sơn được biên soạn c̣n nhiều hạn chế và thiếu sót. Kính mong các bậc cha, anh, con cháu từng là người con của giáo xứ hiện c̣n sống ở giáo xứ hay định cư trên mọi miền Tổ Quốc xin gửi những thông tin, tư liệu, h́nh ảnh về ban biên soạn giáo xứ, kịp bổ sung cho tập lịch sử An Sơn lần sau được hoàn chỉnh hơn. Giáo xứ An Sơn xin chân thành cảm ơn.

An Sơn ngày 18/11/2012

Lễ kính trọng thể các thánh tử đạo Việt Nam

Ban biên soạn

Nguồn : http://danang.titocovn.net/node/8952

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ An Sơn

 

 

Hang đá Đức Mẹ

 

Nhà xứ

 

Nhà Truyền thống

 

Nhà t́nh thương

 

Người nghèo

 

Dâng hoa

 

Nhà thờ An Trường

 

Nhà thờ Phú Ḥa

 

Hính ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com