Giáo phận Đà Nẵng

Nhà thờ Giáo xứ Hội An

 

Nhà thờ Giáo xứ Hội An

 

Địa chỉ : 2 Nguyễn Trường Tộ, Hội An   ( Bản đồ )

Quản nhiệm : Linh Mục Macellô Đoàn Minh (24/9/2014)

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

 

Bổn mạng

 

Số giáo dân

 

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Lược Sử Giáo Xứ Hội An
                ( Bài đăng trên báo Toà Thánh "L'Osservatore Romano" )
               
Giáo Xứ Hội An, Di tích Lịch Sử Cấp Tỉnh, Thành Phố

-  Tin tức sinh hoạt

 

Lược sử Giáo xứ Hội An

Linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng
 

A. THỜI THƯỢNG CỔ VÀ TRUNG CỔ.

Những khám phá khảo cổ học cho biết vùng đất Miền Trung hiện nay đă có người ở từ thời thượng cổ. Nền văn hóa Sa Huỳnh và những khu mộ chum chứng minh giả thuyết trên. Họ là tổ tiên dân tộc Champa sau nầy.

Vào thế kỷ thứ hai, người Chăm đă thoát ách đô hộ Trung Quốc để lập thành vương quốc Lâm Ấp. Những di tích tại Mỹ Sơn, Trà Kiệu và nhiều nơi khác đă chứng minh về nền văn minh rực rở Champa. Những đồ gốm đời Hán, Đường, Tống các thế kỷ 2 đến 7, 10 đă có mặt tại Kinh đô Simhapura, Thành Sư Tử Trà Kiệu. Người Champa đă sớm giao lưu rộng rải với các xứ Nam Dương, Ấn Độ, Philippin và các nước vùng vịnh Péc xích qua các thủy thủ Trung Quốc và Hồi giáo.

Vào thời trung cổ , các thương gia Ả rập đă biết đến vùng đất nầy, trong truyện kể của các thủy thủ và các tay phiêu lưu, họ đặt biệt lưu tâm đến sản vật quư đó là trầm hương của vương quốc Champa. Trong thế kỷ 15 sau khi Vasco de Gama ṿng quanh mũi Hảo Vọng, người Bồ Đào Nha với các thuyền buồm trưng cờ Thập Tự Chinh đánh phá các pháo đài và chiếm thương trường của người Hồi ở vùng vịnh Péc xích và Tây Ấn Độ rồi tiến dần về phía Viển Đông Á Châu, đến Trung Hoa và Nhật Bản.

B. THẾ KỶ 16. GIAO LƯU ĐÔNG TÂY.

Châu Ấn Thuyền Nhật Bản đang tiến về Hội An.
Tranh thế kỷ 17 đang lưu giữ tại một ngôi chùa ở Nagoya, Nhật Bản.

Thuyền Bồ Đào Nha, Trung Hoa, Nhật Bản …qua lại dập d́u trên con “ đường tơ lụa trên biển” nầy. Giáo sư Pierre – Yves Manguin qua tác phẩm Người Bồ Đào Nha trên duyên hải Việt Nam và Chămpa ( Les Portugais sur les cotes du Vietnam et du Champa) đă cung cấp nhiều bản đồ hải tŕnh . Cù lao Chàm, Đại chiêm Hải Khẩu ( Hội An) Cửa Hàn là những địa điểm buộc tàu bè phải dừng lại để tiếp tế nước ngọt, nhiên liệu ( củi đốt), thực phẩm trên các chuyến đi dài ngày từ Malacca đến Nhật Bản và ngược lại. Chính v́ thế mà những từ Sài Phố (phố củi) ( Chú thích : Phải chăng từ đó biến dạng thành Faifoo trong ngôn ngữ người Bồ Đào Nha để chỉ Hội An ?), Sài Thị ( Chợ Củi), Sài Giang ( sông chợ củi), G̣ Sài ( g̣ chất củi) lại trở thành địa danh quan trọng. Vùng đất nầy kéo dài từ Thanh Chiêm đến La Nghi (Hội An), cảng Thanh Hà ngày xưa. Khi thuyền cập bến các linh mục tuyên úy , giáo dân công giáo thuộc nhiều quốc tịch đă đem những thông tin về một tôn giáo ở phương Tây và dân chúng gọi tôn giáo mới nầy là đạo của người Bồ Đào Nha: “ HOA LANG ĐẠO”.

Lịch sử cho biết những năm đầu thế kỷ 16 đă có những người Âu Châu ghé đến chẳng hạn năm 1516, Duarte Coelho đă dựng Thánh giá ở Cù lao Chàm. Năm 1596, linh mục Alonso Ximenez và Diego Aduarte đến Cachan ( Kẻ chàm).

Năm 1598, linh mục ḍng thánh Augúttinô Rafael Madre de Dios đến rao giảng Tin Mừng tại vùng nầy và rửa tội cho bà Gioanna và con gái là Phanxica tại Dinhcham, Thanh Chiêm. V́ thế Hội An không phải là vùng trắng công giáo trước năm 1615.

C. THẾ KỶ 17 : THỜI HOÀNG KIM HỘI NHẬP ĐẠO THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẤT.

Thời gian đầu, người Bồ Đào Nha chỉ quan tâm đến đất nước Trung Hoa và Nhật Bản, nơi từ năm 1547, thánh Phanxicô Xaviê và các nhà truyền giáo đă thu phục nhiều linh hồn. Đầu thế kỷ 17, cụ thể là năm 1613, các nhà lănh đạo Nhật Bản bách hại đạo công giáo và trục xuất giáo sĩ. Nhiều giáo dân Nhật lợi dụng việc buôn bán đă đến Hội An sinh sống và lập gia đ́nh với phụ nữ bản xứ.

T́nh h́nh cấm đạo tại Nhật Bản càng lúc càng tăng đă đưa thêm nhiều kiều dân Nhật đến Hội An. Cha Đắc Lộ trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài có ghi lại “ Có rất nhiều giáo dân ( Nhật), kể từ năm 1614 bắt đầu có sắc lệnh cấm đạo, đă kéo nhau lũ lượt đi, nhất là vào mùa chay, và cả ngoài mùa chay nữa, mỗi năm ba hay ba bốn lần, để được xưng tội với các cha ḍng biết nói tiếng Nhật và rước lễ, và mỗi lần có tới bốn chiếc tàu. Họ tự do đi, lấy cớ buôn bán. Và cứ thế gần mười năm nay, họ tiếp tục và rất được măn nguyện và yên ủi về thiêng liêng..” ( Xem Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài. Bản dịch Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Tủ sách Đại kết,TP HCM 1994, tr. 36 tt ) . Mười năm tức là 1624, năm cha Đắc Lộ đến Đàng Trong.

Chính cộng đồng Nhật Bản và Bồ Đào Nha đă xây dựng những nhà thờ công giáo đầu tiên tại Đà Nẵng và Hội An. Tiến sĩ Li Tana khi nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong giai đoạn từ 1604 đến 1635. cho biết khoảng thời gian nầy có 70 Châu Ấn thuyền Nhật Bản, tức thuyền có phép xuất dương đến Đàng Trong. Tuy nhiên khoảng thời gian ngắn từ 1611 đến 1622 có đến 51 chiếc. ( Xem LI TANA, Xứ Đàng Trong, Nhà Xuất bản Trẻ, 1999, trang 60,61 ) Thời kỳ nầy trùng khớp với giai đoạn bế quan tỏa cảng, cấm đạo công giáo tại Nhật Bản. Sách Lịch sử công giáo Nhật Bản có ghi :

Mối quan hệ giao thương nở rộ với Cochin China là nguồn gốc định cư của người Nhật Bản ở Touron (bây giờ là Đà Nẵng) và Faifo (Hội An). Các tu sĩ ḍng Tên đầu tiên được gởi từ Macao đến những hải cảng này là Diego Carvalho bị trục xuất khỏi Nhật bản vào năm 1614 và Francesco Busomi. Cả hai đến vào tháng Giêng năm 1615, Cha Carvalho săn sóc giáo hữu Nhật Bản ở Faiko( sic) .( Faifo, Hội An). Tuy nhiên, một năm sau Ngài trở về Macao, lại có thể xâm nhập vào Nhật Bản và đă chết tử đạo ở Sendai vào năm 1624, Cha Busomi định cư ở Touron ( Đà Nẵng) nơi Ngài đă xây dựng một Thánh đường, vài tháng sau Thánh đường bị người bản xứ thiêu hủy, Busomi ẩn nấp trong nhà của một giáo dân Công giáo người Nhật ở Faiko( Hội An ).

Các vị thừa sai mới, đến vào năm 1617: Pedro Marquez, sinh tại Nagasaki, Cha là người Bồ Đào Nha và Mẹ là Nhật Bản và Paul Saiṭ, người sau này tái nhập vào Nhật Bản và đă chết trên cọc (tử đạo) vào năm 1633. Mặc dầu chính quyền cũng khá chống đối tôn giáo mới, tân ṭng người bản địa cũng như người Nhật Bản vẫn được rửa tội. Báo cáo mục vụ trong năm 1621 kể rằng : trong năm ấy đă có 82 người bản xứ và 27 người Nhật đă nhận phép rửa.

Năm 1631, Thánh đường ở Faiko bị phá hủy do lệnh chính quyền. Vào thời điểm ấy, nhiều người tị nạn đă đến và trong năm 1633, số lượng người Nhật gia tăng lên 300 người, thái độ của nhà cầm quyền địa phương là cương quyết duy tŕ sự chống đối với việc rao giảng Đức tin, chỉ dụ cấm đạo, ban hành chống giáo dân Công giáo bản địa và các vị thừa sai của họ, không bắt buộc những người định cư Nhật Bản phải thi hành, những người đóng vai tṛ như ngoài lănh thổ. Trong hoàn cảnh này, giáo dân Nhật Bản có thể che dấu các vị thừa sai bị gây ưu phiền, tuy vậy, Busomi và Marquez vẫn bị cưỡng bách phải rời xứ sở tạm thời.

Ở Cochin China, t́nh h́nh giáo dân Công giáo Nhật Bản không bao giờ hứa hẹn, họ sống trong sự sợ hăi triền miên, phải bị khủng bố và một số trong họ đă bị đẩy vào chỗ chết với giáo hữu bản địa. Năm 1658, một số kytô hữu nổi bậc đă bắt đầu di cư sang xứ sở khác, năm 1665, mọi thừa sai nước ngoài đều bị trục xuất và sự khủng bố bao gồm mọi kytô hữu, bản địa cũng như Nhật Bản. Tiếc thay, một số người Nhật giàu có, những người đă là trụ cột của giáo hội, chịu thua mối đe dọa nhà cửa và tài sản phải bị tịch thu, đă bỏ đạo bằng cách thực hành Efumi.( đạp Thánh giá) Trong hoàn cảnh đau buồn này, cộng đồng kytô hữu Nhật Bản suy sụp và trở nên tuyệt giống vào cuối thế kỷ 17.” ( Bản dịch từ A History of the Catholic Church in Japan, tác giả Joseph Jennes, CICM. Bản dịch tiếng Việt , xem Lịch sử Giáo Hội Công giáo Nhật Bản, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội Quư 4, 2008 trang,235,236)

Năm 1602, Dinh trấn Thanh Chiêm được xây dựng và Hội An là cánh cửa mở ra thế giới. Chính sách ngọai thương của Chúa Nguyễn Phúc Nguyên, con trưởng Chúa Nguyễn Hoàng đă giúp kiều dân Nhật Bản tại Hội An được tự do sống theo phong tục và đạo giáo ḿnh nhờ đó mà giáo dân Nhật, Việt dựng được những cơ sở thờ tự đầu tiên tại Cửa Hàn và Hội An. Để giúp đở phần thiêng liêng : hôn nhân và rửa tội, cha giám tỉnh Ḍng Tên tại Ma cau đă gửi một đoàn truyền giáo đến Turon ( Cửa Hàn) và Hội An ( Faifoo). Phát xuất từ Macau ngày 6 – 1 -1615, phái đoàn do cha Francesco Busomi cầm đầu đă đến Cửa Hàn ngày 18 -1- 1615, sau đó đến Hội An. Đây là một ngày đáng ghi nhớ.

Một thời gian ngắn sau, linh mục Gaspar Luis, qua bản phúc tŕnh viết bằng tiếng Ư, năm 1621 về công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong cho thấy các giáo sĩ gặt hái nhiều thành quả. Do ‘’nhờ thông thạo ngôn ngữ’’ , bảy người ( 4 cha, 3 thầy ) đă xây dựng hai cơ sở. Trong một năm tám mươi hai người bản xứ và 27 người Nhật đă đón nhận đức tin trong đó có nhiều bậc vị vọng.

Tại nhà bà lớn Gioanna, có các lớp giáo lư hẳn hoi, người giáo dân hiểu đạo thấu đáo, không như trước đây học theo thông ngôn họ chỉ biết qua quít. Dần dần họ nhận ra đạo không phải của người Bồ ‘’ mà là đạo chung của mọi người, v́ thế xứng đáng được xứ Đàng Trong tin theo’’

Nhờ quen thân với Hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ, linh mục Francisco Pina thiết lập nhà thờ đầu tiên cho người Việt tại Dinh trấn Thanh Chiêm ( Chiêm Thượng theo Chu Thuấn Thủy, Dinh Cham theo các Giáo sĩ Tây phương).

Hội An, Dinh Chăm là cái nôi của Đạo thánh Đức Chúa Trời Đất tại vùng Đất Quảng nầy. Đây là căn cứ xuất phát của các đoàn truyền giáo ra phía Bắc đến bờ sông Gianh, ranh giới phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài hoặc đi về phía nam đến Dinh Trấn Biên Phú An, mà Đèo Cả là ranh giới hai nước Chiêm, Việt.

NHỮNG GIÁO SĨ D̉NG TÊN TIÊU BIỂU

* LM FRANCESCO BUZOMI ( 1576 – 1639 ) Vị khai sinh Giáo hội Đàng Trong.

* LM FRANCESCO DE PINA ( 1585 – 1525 ) Người tiên phong trong việc h́nh thành chữ quốc ngữ viết theo mẫu tự La tinh.

* LM CRISTOFORO BORRI ( 1583 -1632) Một nhà khoa hoc viết cuốn Kư sự Đàng Trong 1621 rất nổi tiếng.

* LM PEDRO MARQUEZ ( 1575 – 1670 ) Hoạt động giúp công đồng Nhật Bản

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ( Đắc Lộ ). Hình ảnh mới tìm thấy ở Avignon.

* LM ALEXANDRE DE RHODES ( 15-3-1593 - 5-11-1660) Cha Đắc Lộ đến Hội An năm 1624. Lần hai 1640, trong thư viết năm 1641 th́ Lễ Giáng Sinh năm 1640 ngài mừng lễ ở Hà Lam và ăn Tết tại Cát lâm, Bàu Bàng ? ( Baobam)

Lần ba, đến Hội An 1-1642. Ra Huế dâng quà nhưng không được ở. Về lén lút ở Cửa Hàn, thăm giáo hữu và tổ chức HỘI THẦY GIẢNG như ở Đàng Ngoài . Nhận lời tuyên thệ của 10 thầy ngày 1-7-1643 . Họ khấn giữ ḿnh độc thân, để tài sàn chung và vâng lời thầy Bề Trên.

Lần bốn 1644, năm tháng sau, trở lại Hội an và chứng kiến cái chết anh dũng của vị tử đạo tiên khởi miền Nam : thầy Anrê Phú Yên ngày 26 tháng 7 năm 1644. Được lệnh bị trục xuất nhưng vẫn nấn ná sau bị bắt và bị trục xuất vĩnh viển. Ngày chia ly đau đớn , giáo dân khóc lóc thảm thiết ‘’ Tôi phải bỏ Đàng Trong trong cả thể xác nhưng tâm hồn tôi, mẵi măi ở cả hai nơi Đàng Trong và Đàng Ngoài.’’ Ngài rời Đàng Trong vĩnh viễn ngày 3- 7- 1645.

* LM GIROLAMO MAJORICA .( 1591 – 1656 ) Sau ra Đàng Ngoài, tác giả nhiều sách chữ Nôm.

* CÁC VỊ KHÁC ; ANTONIO DE FONTES, GASPAR LUIS, GABRIEL DE MATTOS, MATHIAS MACHIDO, MICHEL MARCHI, METELLO SACCANO với các bản tường tŕnh giá trị.

Kể từ khi phái đoàn truyền giáo do cha Busomi cầm đầu cho đến khi cha Đắc Lộ rời Đàng Trong tức 1615 đến 1645, biết bao dâu bể, vui buồn. Giáo Hội tuy gặp gian nan thử thách nhưng vẫn tiến đều. Năm 1626 con số tín hữu đă lên 15.000. Năm 1639 lúc cha Buzomi và các bạn bị trục xuất con số lên đến 40.000. Khi cha Louis Chevreuil, cha chính, đại diện Đức Cha Lambert de la Motte đến Hội An năm 1664, con số giáo dân lên đến 50.000.

Các cha Ḍng Tên c̣n đào luyện những người con ưu tú cho Giáo hội, những giáo dân nhiệt thành truyền giáo, trong đó không ít người mới trở lại

Tại kinh đô Kim Long , bà Minh Đức Vương Thái Phi.(1568-1649) là người bảo vệ và là cột trụ giáo đoàn Thuận Hóa (Hóa, Huế ).

Tại vùng Quảng Nam, lịch sử ghi lại những nhân vật công giáo nổi tiếng sau :

* Công chúa Maria Mađalêna Ngọc Liên là mẹ đở đầu giáo hội Quảng nam và Phú Yên.
* Ông Anrê già ( senior) hoặc Sơn (?) , lănh tụ công giáo , chịu nhiều đau khổ v́ đức tin cùng với Á Thánh An rê.
* Thầy giảng Anrê. + 1644. Tử đạo tiên khởi miền Nam. đợi lên đài vinh quang hiển thánh.
* Thầy Inhaxiô, Y Nhă ( 1609 – 1645 ) một thầy giảng lừng danh đem nhiều người trở về với Chúa.
* Joăo Vuang ( 1588- 1663) Một nhà nho, một thi sĩ, một chứng tá đức tin trong máu đào.
* Alexù Dậu , Cha Nhật , mẹ Việt, chết v́ đức tin .
* Raphael Rhodes. Mới 13 tuổi đă giúp cha Đắc Lộ và sau nầy nâng đở giáo đoàn Đàng Ngoài.
* Lữ y Đương ( Đang, Đoan ? ) + 1686 là thầy giảng, rồi linh mục, tác giả Sấm Truyền Ca bằng văn vần danh tiếng.

Giáo đoàn Hội An đóng góp nhiều cho việc đặt nền móng xây dựng Giáo hội Việt Nam và là nhịp cầu giao lưu Đông Tây. Nhiều môn học như lịch sử, địa lư, thiên văn, toán học, y học, khoa học kỷ thuật của Âu Châu được du nhập.

Trong khi đó các giáo sĩ thích nghi văn hoá, đem thi ca, tuồng kịch đạo đức vào đời sống tôn giáo : Ngắm sự thương khó, rước kiệu, trồng Thánh giá thay cây nêu, tôn kính Chúa Ba Ngôi ba ngày Tết. Điều ngày nay chúng ta ước mơ ‘’ Hội nhập văn hoá’’

Tại Dinh trấn Thanh Chiêm ( Chiêm Thượng. Dinh chăm) cha Pina đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ vào nhưng năm 1620 – 1623, mở đường cho nước Việt về sau phát triển và tiến nhanh vào việc hội nhập thế giới.

Vào năm 1670, Đàng Ngoài và Đàng Trong con số giáo dân đă vượt 300.000 vậy mà chưa ai lănh nhận Bí tích Thêm Sức v́ không có giám mục. Bức xúc trước t́nh cảnh đó, linh mục Đắc Lộ đă phúc tŕnh cho Ṭa Thánh và xin Ṭa Thánh lập giáo phận, cử giám mục.

Ngày 9 tháng 9 năm 1659, hai giáo phận Đàng Trong (Cocincina ) và Đàng Ngoài ( Tonkin, Đông Kinh ) được thiết lập. Đức cha Pierre Lambert de la Motte được chỉ định làm giám mục Đàng Trong. Hội Thừa sai Paris mới được thành lập đă gửi người đến Hội An. Mối quan hệ giữa Ḍng Tên và Hội Thừa sai có nhiều gây cấn. Vào thời kỳ đó, người Nhật công giáo suy yếu, ảnh hưởng Bồ cũng không c̣n với sự nhập cuộc của nhiều cường quốc hàng hải mới như Ḥa Lan, Anh quốc, Pháp quốc. Ḍng Tên không c̣n đũ nhân sự, nên giáo dân trực thuộc ḍng nầy cũng giảm nhiều. Ngược lại, ảnh hưởng các thừa sai Pháp mạnh hơn nên cha De Courtaulin cho xây dựng một nhà thờ mới thật to lớn bằng gổ lim ( bois de fer) tại Rue des Chinois, phố người Tàu ( Đại Đường Nhai), nay là đường Nguyễn Thái Học và Trần Phú. Nhà thờ nầy là nơi phong chức giám mục cho Đức cha Guillaume Mahot MEP năm 1682 “Nhà thờ Hội An khá đẹp và khá tỷ lệ. Đây là một nhà rường, với các gian chạm trổ mộc đến độ tinh xảo. Nhà thờ được nâng bởi hai hàng cột, mỗi bên 6 chiếc, cách nhau khoảng 15 bộ ( pieds) làm thành gian chính nhà thờ, là nơi dành riêng cho quư bà. C̣n các ông th́ hai gian bên. Gian cuối nhà thờ là một nhà nguyện cao hơn ba bậc cấp để kẻ xa người gần đều thấy linh mục” ( Xem Documents historiques de la Cochinchine tome 1, trang 271). Chỉ tưởng tượng cũng đă h́nh dung một ngôi nhà gổ tuyệt đẹp. Lạ lùng nhất là vị trí chổ ngồi của các bà, gian chính giữa.

Các giám mục , giám mục ngưới Pháp đến làm việc tại Hội An thời gian nầy : Đức cha Lambert de la Motte, Đức Cha Laneau, Đức cha Guillaume Mahot (1671- 1684). Các linh mục Louis Chevreuil ( 1664- 1665) , Vachet, Courtaulin, Antoine Hainques ( 1665- 1670), Pierre Brindeau ( 1669- 1671), Claude Guiart ( 1671- 1673).

D. THẾ KỶ 18. MỘT THẾ KỶ SÔI ĐỘNG.

Chính sách tiêu diệt hoặc bao dung cho Đạo Đức Chúa Trời đất tùy thuộc vào tính khí của các Chúa nhà Nguyễn. Có lúc cho phép, có lúc nghiêm khắc nhất là những Chúa tôn sùng văn hóa Trung Hoa.

Trong khi đối ngoại gặp khó khăn đối nội cũng hết sức căng thẳng. Đức cha Francois Perez đă yêu cầu Ḍng Phan sinh Philippin đến hổ trợ. Do xáo trộn tranh chấp giữa các ḍng tu, Đức cha Elzear Achards de la Baume phải đến giải quyết.Thống kê 1747 cho thấy Hội An trực thuộc 4 nhóm khác nhau, v́ có tới bốn Hội ḍng : Ḍng Tên, Ḍng truyền giáo, ḍng Phan sinh, Hội thừa sai Paris. Thời gian nầy có các Đức cha Francois Perez ( 1691-1728), Đức cha Alexandris ( 1728- 1738), Đức giám mục phó Valerium Rist , ḍng Phan Sinh. Các linh mục thừa sai Pháp như Pierre Langlois, Flory. ..Ở Huế và Hội An cũng có mấy linh mục Ḍng Tên như Gioan Baptista Sanna , làm việc 12 năm tại vùng nầy và chết năm 1726.

B́nh yên chưa thấy đâu th́ năm 1750 ,Vơ Vương ra lệnh trục xuất toàn bộ giáo sĩ . Dân chúng oán thán v́ chính sách khắc nghiệt của các Chúa Nhà Nguyễn gây nên cuộc nổi loạn Tây Sơn vào năm 1774. Trên khúc ruột Miền Trung nầy chiến tranh giữa Tây Sơn, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đă giết chết quá nữa dân số v́ nạn binh đao, đói kém, dịch bệnh. Cuộc chiến đă xóa sổ hầu như toàn bộ những làng công giáo và các cơ sở tôn giáo vùng Đà Nẵng và Hội An.

Giáo dân vùng đát nầy lưu tán khắp nơi , nhiều người di dân theo Chúa Nguyễn vào Đồng Nai.

E. THẾ KỶ 19 BÁCH HẠI VÀ THỬ THÁCH.

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, đạo thánh chưa kịp phục hồi th́ năm 1835 vua Minh Mạng đă ra lệnh triệt phá đạo công giáo và công việc đó chỉ chấm dứt sau Phong trào Văn thân “B́nh Tây Sát Tả” vào năm 1886.

Cộng đồng đạo thánh tại Hội An có thể coi như bị tận diệt: không nhà thờ, không linh mục, không lời kinh tiếng hát…Một lần nữa, giáo dân trốn lên vùng rừng núi hay dùng thuyền bè chạy vào vùng đất mới Đồng Nai, Gia Định, Lục Tỉnh. Ngày nay tộc họ giáo xứ Miền nam chắc chắn có ghi tên những lưu dân bất đắc dĩ của xứ Hội An nầy.

F. THẾ KỶ 20. TỪ ĐỐNG TRO TÀN VÀ THẾ KỶ 21: VUI MỪNG VÀ HY VỌNG.

Linh mục thừa sai Pierre Auguste Gallioz Thiết.

Vào đầu thế kỷ 20, các linh mục thừa sai Paris quy tụ các giáo dân c̣n sót hoặc có công ăn việc làm tại Hội An như một họ nhánh của Trà Kiệu. Theo sự t́m hiểu của linh mục Phêrô Lê như Hảo : “ Măi tới năm 1914, một số giáo dân quy tụ về mới dựng được một nhà nguyện trên một g̣ hoang, gần khu nghĩa trang, nhưng không có linh mục phụ trách. Thỉnh thỏang mới có cha ở Phước Kiều về dâng thánh lễ” ( Tư liệu Hội An công giáo, kỹ niệm 385 năm ,lm Lê Như Hảo, trang 7) Linh mục phụ trách vùng nầy lúc bấy giờ là Joseph Lalanne tức cố Lân, cha sở họ Trà Kiệu và các vùng phụ cận. Tiếp theo là linh mục Pierre Auguste Gallioz MEP tức cố Thiết, coi sóc họ Phước Kiều và Vĩnh Điện, La Nang , Hội An.

1. NHIỆM KỶ LINH MỤC PIERRE AUGUSTE GALLIOZ THIẾT (1935- 1953)

Đến năm 1935, linh mục Gallioz chính thức xây dựng kiên cố nhà thờ Hội An bằng gạch đá với hai ngôi tháp xinh xinh. Năm 1938, linh mục Gallioz được chấp thuận cho nới rộng khu đất nằm trên ba con đường Gouverneur Général Charles,( Nguyễn Trường Tộ) Oscar Mouliè ( Lư Thường Kiệt) và Pasteur. Ngài lập cô nhi viện chăm sóc các em mồ côi. Năm 1953, quá lao tâm lao lực, ngài đă qua đời và được an táng tại khu nghĩa trang bên cạnh nhà thờ.

2. NHIỆM KỶ LINH MỤC PHAO LÔ NGUYỄN TƯỞNG

Linh mục Phaolô Nguyển Tưởng .

Linh mục Phao lô Nguyễn Tưởng, gốc xứ Nhà Đá , B́nh Định làm quản xứ tiếp tục công việc của các linh mục thừa sai Paris. Đây là thời kỳ hoàng kim của Giáo xứ. Hiệp định Geneve chấm dứt chiến tranh, ḥa b́nh trở lại trên vùng đất Quảng Nam, giáo xứ Hội An trở nên một vị trí thuận lợi v́ nơi đây là thủ phủ hành chánh tỉnh Quảng Nam. Từ thời Đức Cha Phêrô Maria làm giám mục Qui Nhơn, phong trào ṭng giáo ở rộ. Số giáo dân vụt tăng cao với những anh em tân ṭng các vùng Cẩm Hải, Cẩm Nam, Cẩm Kim, Bàn Thạch, Cẩm Châu, Cẩm Hà, Vĩnh Xuân… Các linh mục trong vùng như cha Phaolô Vơ Hữu Tư ( La nang), Giacôbê Nguyễn Đ́nh Thuận ( Vĩnh Điện), Phanxicô Nguyễn Quang Sách ( Xuyên Quang), Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn ( Phú Hương) tiếp tay giúp đở… . Nhà cô nhi Hội An nới rộng đến 6000 mét vuông và các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô như Sr Florence hoạt động năng nổ. Cha Tưởng xây trường Tiểu học Chân Phước Thiện . Các phong trào thanh niên công giáo , Hùng Tâm sinh hoạt đền đặn.

Song song với Hội An, họ Lê Lợi do linh mục Antôn Bùi Ngọc Trợ ( gốc Hà Nội ) thành lập từ năm 1954 dành cho giáo hữu miền Bắc di cư cũng hoạt động mạnh với nhà thờ, nhà xứ, pḥng phát thuốc miễn phí, xây dựng Trường trung Tiểu học Lê bảo Tịnh hơn 500 học sinh.

Từ khi Đức Cha Phêrô Maria về làm giám mục Đà Nẵng năm 1963, Hội An trở thành Giáo hạt Hội An gồm : Hội An, Vĩnh Điện, La Nang, Ái Nghĩa, Phú Hương, Ô Gia, Hoằng Phước, Hà Tân. Các giáo xứ phía Nam sông Thu Bồn, từ Trà Kiệu trở vào c̣n thuộc hạt Tam Kỳ.

Cuộc đảo chánh lật đổ nền Đệ Nhất Cọng Ḥa cuối năm 1963, lụt lớn năm Th́n 1964, chiến tranh leo thang năm 1965 gây nhiều tổn thất cho giáo xứ. Giáo dân tân ṭng bị các nhóm “cách mạng 1963” đánh đập, giết chết, phải lưu tán, ngược lại Hội An lại trờ thành nơi thu hút dân chạy loạn từ vùng quê Quảng Nam. Tại Cẩm Hà cha Giacôbê Nguyễn Thành Tri xây dựng một nhà thờ dành cho giáo dân tỵ nạn lụt lội và chiến tranh.

Cha Phaolô Tưởng hoạch định nhiều công tŕnh lớn như việc xây dựng nhà thờ mới nhưng ngày14 tháng 4 năm 1964, ngài đột ngột qua đời đang khi ngủ. Linh mục Phaolô Vơ Hữu Tư , cha sở La Nang được Bề trên yêu cầu kiêm nhiệm Hội An cho đến 1965.

3. NHIỆM KỶ LINH MỤC GIUSE LÊ VĂN LY ( 1965- 1970)

Linh mục Giuse Lê Văn Ly xây dựng nhà thờ mới.

Năm 1965, Cha Giuse Lê Văn Ly , gốc Trà Kiệu từ Hà Tân về làm chính xứ Hội An. Lúc đó nhà thờ Hội An cũ chỉ có diện tích 144 mét vuông không đủ chổ cho giáo dân mỗi ngày một đông nên năm 1965 cha Giuse đă cho phá nhà thờ 1935 xây lại nhà thờ mới trên nền cũ với diện tích 720 mét vuông tồn tại đến nay. V́ nằm ngay đầu phi đạo, nên chính quyền cũ không cho làm tháp chuông, sợ tai nạn máy bay.

Các linh mục phụ tá tăng cường gồm có Linh mục Antôn Trần Văn Trường, Giuse Vũ Dần, Phanxicô Xaviê Trần Quang Châu, Gioan Baotixita Đào Duy Khải. ( tuyên úy phụ trách Cẩm Hà).

Năm 1970, cha Giuse Lê Văn Ly nhậm xứ An hải.

4. NHIỆM KỶ LINH MỤC PHAOLÔ TRƯƠNG ĐÁC CẦN ( 1970 – 1974)

Linh mục Phao lô Trương Đắc Cần , gốc Gia Hựu, B́nh Định được chuyển về Hội An. Tuy đang thời kỳ chiến tranh, với tinh thần trẻ trung , hiểu biết và cầu tiến, ngài cũng cố cơ sở vật chất như làm tường rào, cổng nhà thờ, mua lô đất 3200 mét “Cây Xăng” của tộc Trần Thanh với giá 170.000 đồng ( trên 20 cây vàng vào thời điểm đó). Ngài quan tâm giới trẻ , giáo dục thanh thiếu niên, dạy nghề , tạo công ăn việc làm và nhiều công tác cứu trợ giúp ngưới nghèo, nạn nhân chiến tranh..

5. NHIỆM KỲ LINH MỤC PHÊRÔ LÊ NHƯ HẢO.( 1974 – 2003)

Năm 1974, linh mục Phêrô Lê Như Hảo, gốc Phú hạ, quản xứ Trà Kiệu, được thuyên chuyển về Hội An. Với tài thao lược sẳn có, ngài bắt đầu thực hiện nhiều dự án như nhựa hóa sân nhà thờ, làm hang đá Đức Mẹ v.v. Nhưng biến cố 1975 đă khiến bộ mặt giáo xứ đổi đời. Di tản chiến thuật, di tản chiến tranh, di tản kinh tế, di tản chính trị…đă khiến thị xă Hội An tiêu điều và giáo dân từ 2.216 tụt xuống con số dưới 1000. “ Tiềm năng nhân sự xuống cấp . Hoàn cảnh xă hội đ̣i hỏi khả năng xoay xở của Cha, sự kiên tŕ chịu đựng và sự hy sinh công của lo cho giáo dân và một số đồng bào nghèo..Dù không gặp thuận tiện như các vị tiền nhiệm, Cha đă cố gắng vận động tài chánh đề lo trùng tu nhà thờ, hang đá Đức mẹ, các ngôi mộ của các giáo sĩ truyền giáo tiên khởi, mở rộng nhà xứ để có địa điểm sinh hoạt…” ( Trích Hội An công giáo trang 11,12)

Giáo xứ mất hầu hết ruộng đất, cô nhi viện, trường học, đất đai giáo họ Lê Lợi… trong chế độ mới. Nhẫn nại, ngài hướng dẫn giáo dân vào cuộc sống đất nước bằng tinh thần đối thoại, tôn trọng lẫn nhau giữa đạo đời và các tôn giáo bạn . Tuy kinh tế khó khăn năm 1995, ngài xây dựng tháp chuông và những công tŕnh nội thất nhà thờ. Một công tŕnh quan trọng khác là nhà xứ Hội An và “ giảng đường giáo lư”.

Ngài kiên tŕ chấp nhận mọi sự theo thánh ư Chúa. Khi đất nước đi vào giai đoạn đổi mới, năm 2000, phố cổ Hội An trở thành Di sản Văn hóa thế giới, du khách t́m đến và Hội An trở nên phồn thịnh, giàu có, sinh hoạt của giáo xứ Hội An cũng thuận lợi hơn. Vào năm Thánh 2000, cha Phêrô đă đón tiến các đoàn hành hương và triển lăm tài liệu lịch sử liên quan đến Giáo xứ Hội An.

Do tuổi già, sức yếu, ngài đă nghỉ hưu vào năm 2003, sau 29 năm chia sẻ buồn vui với giáo xứ Hội An.

6. NHIỆM KỶ LINH MỤC BONAVENTURA MAI THÁI ( 2003-2006 )

Một linh mục vừa du học Pháp Quốc về đă được Đức Cha Phaolô Tịnh điều đến thay thế cha Phêrô : linh mục Bônaventura Mai Thái, quê Thanh B́nh, Đà Nẵng. Với sức trẻ và hiểu biết, ngài được nhiều người ủng hộ trong chương tŕnh canh tân.

Về vật chất, ngài quét vôi lại thánh đường, lớp lại mái ngói, kiện toàn hệ thống âm thanh cho ca đoàn , xây dựng “ ngôi nhà sinh hoạt mới khang trang” kiên cố bên hông nhà thờ . Về phần hồn, cũng cố lại các giáo khóm, các đoàn thể, đặc biệt là Legio Mariae, giới trung niên và hợp thức hóa nhiều đôi hôn nhân.

Biên bản bàn giao ngày 28 tháng 10 năm 2006 cho biết giáo xứ có 1.225 người và 384 hộ.

Tháng 10 năm 2006, ngài được điều động về giáo xứ “ anh cả” Thanh Đức tại Đà Nẵng.

7. NHIỆM KỶ LINH MỤC ANTÔN NGUYỄN TRƯỜNG THĂNG (2006- ? )

Tháng 11 năm 2006, linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng, gốc An Ngăi và Tôma Vơ Minh Danh, gốc An Sơn được được Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri, vừa được thụ phong Giám mục Đà Nẵng, điều về coi sóc Giáo xứ Hội An. Một thời gian ngắn sau đó, Đức cha Giuse giao thêm Giáo họ Phước Kiều, G̣ Nỗi. Giáo xứ Hội An, bổng nhiên trở thành một xứ với diện tích trên 25 cây số vuống từ Điện Ngọc, qua Cửa Đại, đến Văn Ly (Điện Quang, G̣ Nỗi).

Hai cha tiếp tục sự nghiệp của các vị tiền nhiệm.

Sau đây là hiện t́nh Giáo xứ Hội An: THỐNG KÊ ĐẾN: 01/8/2010.

I. TỔNG GIÁO DÂN: 1646 người/ 587 hộ (có sổ nhân danh)

Nam: 749 người
Nữ: 897 người

(Gồm 06 giáo khóm & Họ đạo Phước Kiều – Gò Nỗi)

1/ Giáo Khóm: Đức Mẹ Vô Nhiễm: 270 người/ 104 hộ

Nam: 118 người
Nữ: 152 người

2/ Giáo Khóm: Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời: 93 người/ 38 hộ

Nam: 41 người
Nữ: 52 người

3/ Giáo khóm Thánh Giuse: 338 người / 118 hộ

Nam: 171 người
Nữ: 167 người

4/ Giáo Khóm Lê Bảo Tịnh: 271 người / 95 hộ

Nam: 123 người
Nữ: 148 người

5/ Giáo Khóm Tôma Thiện: 211 người / 69 hộ

Nam: 102 người
Nữ: 109 người

6/ Giáo Khóm Anrê Phú Yên: 226 người/ 79 hô

Nam: 92 người
Nữ: 134 người

7/ Họ Đạo Phước Kiều: 131 người/ 41 hộ

Nam: 58 người
Nữ: 73 người

8/ Họ Đạo Gò Nổi: 106 người/ 43 hộ

Nam: 44 người
Nữ: 62 người

II. MỤC VỤ BÍ TÍCH TỪ 11- 2006 – THÁNG 8 -2010

1/ Rửa tội cho 201 người ( 77 tân tòng) .

2/ Thêm Sức:

* Đức Cha Giuse Thêm Sức cho 77 người
* Cha Antôn Thêm Sức cho 77 người tân tòng.

3/ Hôn Phối: Làm Phép Hôn phối & gỡ rối: 85 đôi.

III. Văn hóa, giáo dục . Theo Thống Kê 31/12/2009

Cấp I, II, III có 225 em.

Sinh Viên Trung Cấp, Cao Đẳng Đại Học: 44 em.

Ngành Nghề Chuyên Môn:

* Giáo Dục: 12 người
* Y tế :07 người

IV. Hội Đoàn :

Legio Mariae , Thiếu nhi Thánh Thể, Giới trẻ , Trung niên , Lăo Thành , Vệ sinh Môi Trường ; Bác ái, Trợ Tang ; ba Ca đoàn, Ban Lễ Sinh… Con số th́ đông, sinh hoạt tương đối

V.Công tác trùng tu ,xây dựng cơ sở vật chất, từ thiện bác ái.

Ba năm qua tu sửa hang đá Đức Mẹ, đường khuyết tật, trải nhựa sân nhà thờ, xây mới tầng hai pḥng thánh, bốn pḥng giáo lư., lư hương công giáo. Mua đất Phước Kiều ( 800 mét). Sửa chữa đền thánh Phước Kiều. Nhà Nước cho nhận lại 2700 mét đất “ Cây Xăng”.

Xây dựng 23 căn nhà Đồng Tâm trong đó 5 gia đ́nh không công giáo.

Cộng đoàn nữ tu Phao lô thuốc tỉnh ḍng Đà Nẵng với cộng đoàn Đắc Lộ tiếp tục phục vụ trong ngành giáo dục, phụng vụ và công tác từ thiện, giúp đỡ các gia đ́nh khó khăn, t́m học bổng cho trẻ em nghèo và duy tŕ nồi cháo t́nh thương từ nhiều năm.

Ơn gọi không nhiều , hiện nay có một thầy Đại chủng sinh, một số nữ tu Mến Thánh Giá và tập sinh các ḍng.

Tuy là thành phố du lịch nhưng giáo dân thành đạt kinh tế không nhiều, đa số có công việc rất khiêm tốn.

KẾT LUẬN

Tháng 12 năm 2008, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam công nhận Nhà thờ và Khu mộ Giáo sĩ Hội An là Di tích văn hóa cấp tỉnh Quảng Nam tại thành phố Hội An ( Di sản văn hóa thế giới) nhưng cơ sở giáo xứ c̣n khiêm tốn , chưa đủ khả năng quảng bá, thua xa các di tích Phật giáo.

Đối với ngưới công giáo Việt Nam và toàn cầu , Giáo xứ Hội An xứng đáng là di sản đức tin công giáo thế giới. Nơi đây từ thế kỷ 17 đă có bao nhiêu vị truyền giáo “ra đi không hẹn ngày về” chỉ v́ mục tiêu làm sáng danh Chúa, cứu rỗi mọi người theo lệnh của Chúa Cứu Thế “ Hăy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế giới” Mc 16,19.

Giáo xứ Hội An xứng đáng là nơi t́m về của nhiều dân tộc công giáo Nhật, Bồ Đào Nha, Avignon (lănh địa Đức Giáo Hoàng), Trung Quốc, Tây Ban Nha, Ấn Độ, Pháp, Ư, Đức, Tiệp Khắc…những nước đă cung cấp nhiều giáo sĩ cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam vào thế kỷ 17, 18, 19, 20.

Giáo xứ Hội An hôm nay tuy bé nhỏ nhưng nhờ lịch sử lâu dài đáng gọi là “ Giáo xứ đầu đàn, cái nôi của Giáo Hội Việt Nam”. Chưa đầy năm năm nữa, giáo xứ chính thức mừng 400 năm. Giáo phận Đà Nẵng nói riêng và Giáo Hội Việt Nam phải làm ǵ cho xứng với lịch sử hào hùng của các bậc tiền bối tại vùng đất Quảng, thành Đà nầy?

Hội An ngày 02 tháng 8 năm 2010.

Bài viết nhân ngày hành hương Năm thánh 8-8-2010 tại nhà thờ Chính tòa Đà Nẵng.

Linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng
Quản xứ Hội An.

Nguồn : http://antontruongthang.com

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

.................................

Giáo Xứ Hội An, Di tích Lịch Sử Cấp Tỉnh, Thành Phố

2009-06-05 07:44:25

Nhà thờ Thiên Chúa giáo và khu mộ các giáo sĩ phương Tây , thuộc khối phố 6, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam được nhận danh hiệu Di tích Lịch sử và Văn hóa cấp tỉnh , thành phố. Quyết định trên đă được ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Nam Nguyễn Đức Hải kư ngày 7 tháng 4 năm 2008. Số danh mục : 253.

GIÁO XỨ HỘI AN, DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ

Ngày áp Đại lễ Giáng Sinh 2008, linh mục quản xứ Hội An và đại diện giáo dân tham dự cuộc gặp gở thân mật với các vị đại diện Uûy Ban Nhân Dân phường Cẩm Phô và Trung tâm Bảo tồn Di tích Thành phố Hội An Trong cuộc gặp gở nầy , linh mục Quản xứ Antôn Nguyễn Trường Thăng, đại diện Giáo xứ Hội An đón nhận Bảng xếp hạng Di tích cấp tỉnh , thành phố của Uûy Ban nhân dân tỉnh Quảng Nam. Nộâi dung như sau : Nhà thờ Thiên Chúa giáo và khu mộ các giáo sĩ phương Tây , thuộc khối phố 6, phường Cẩm Phô, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam được nhận danh hiệu Di tích Lịch sử và Văn hóa cấp tỉnh , thành phố. Quyết định trên đă được ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Nam Nguyễn Đức Hải kư ngày 7 tháng 4 năm 2008. Số danh mục : 253.

Nh́n lại quá khứ, mặc dầu Giáo hội công giáo có mặt tại Quảng nam, Đà Nẵng từ thế kỷ 16, trải qua bao biến cố, đến nay, số giáo dân của giáo phận Đà Nẵng chỉ là thiểu số 65.000 người so với dân số trên 2. 300.000 người của thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam.

Tại vùng đất nầy, khi các Chúa Nguyễn muốn “ dung thân vạn đại” đă thực hiện chính sách mở cửa ra nước ngoài. Quả họ đă nh́n xa trông rộng, dân tộc Việt Nam bắt đầu nghĩ đến việc làm giàu một cách khác thay v́ chỉ đề cao nông nghiệp “ con trâu cái cày” tại một vùng đất mà thiên tai “nắng hạn , mưa lụt “ đe dọa quanh năm. Chính sách ngoại thương đă thu hút nhiều nhà buôn từ khắp nới trên thế giới đổ về. Trong khi các thương gia t́m mua hoặc bán những sản vật quư. Các nhà thám hiểm t́m hiểu khám phá về vùng đất mới lạ. Các tay phiêu lưu chính trị t́m cách gây ảnh hưởng hoặïc nḥm ngó với ư đồ thực dân. Giáo hội truyền giáo vâng theo lệnh Chúa và lời mời gọi cũng lên đường đem Tin Mừng đức tin đến cho các dân tộc chưa biết Chúa .

Vào thời trung cổ , thương gia A rập đă biết đến vùng đất nầy, trong truyện kể của các thủy thủ và các tay phiêu lưu, họ đặt biệt lưu tâm đến các sản vật nhất là trầm hương của vương quốc Champa. Trong thế kỷ 15 sau khi Vasco de Gama ṿng quanh mũi Hảo Vọng, người Bồ Đào Nha với các thuyền buồm trưng cờ Thập Tự Chinh đánh phá các pháo đài và chiếm thương trường của người A Rập Hồi giáo ở vùng vịnh Péc xích và Tây Aán Độ, họ tiến dần về phía đông. Tại đây người Bồ gặp một đế quốc lớn là Trung Quốc, không dễ nuốt, họ liền từ bỏ việc xử dụng vũ lực mà chỉ chú tâm đến thương mại. Họ kư các hiệp ước ḥa b́nh, thuê đất đai, chẳng hạn Ma Cau làm thương điếm . Thuyền Bồ Đào Nha, Trung Hoa, Nhật Bản ...qua lại dập d́u trên con “ đường tơ lụa trên biển” nầy. Giáo sư Pierre – Yves Manguin qua tác phẩm Người Bồ Đào Nha trên duyên hải Việt nam và Chămpa ( Les Portugais sur les cotes du Vietnam et du Champa) đă cung cấp nhiều bản đồ hải tŕnh . Cù lao Chàm, Đại chiêm Hải Khẩu ( Hội An) Cửa Hàn là những địa điểm buộc tàu bè phải dừng lại để tiếp tế nước ngọt, nhiên liệu ( củi đốt), thực phẩm trên các chuyến đi dài ngày từ Malacca đến Nhật Bản và ngược lại. Chính v́ thế mà những từ Sài phố ( chợ củi), Sài Giang ( sông chợ củi), g̣ sài ( g̣ chất củi) lại trở thành địa danh quan trọng. Vùng đất nầy kéo dài từ Thanh Chiêm đến La Nghi (Hội An) cảng Thanh Hà ngày xưa. Khi thuyền cập bến các linh mục tuyên úy trên các thuyền buồm, giáo dân công giáo thuộc nhiều quốc tịch đă đem lại những thông tin về một tôn giáo ở phương Tây và dân chúng gọi tôn giáo mới nầy là đạo của người Bồ Đào Nha: Hoa Lang đạo.

Một vài người đă nhập đạo nhờ các cuộc tiếp xúc nầy. V́ vậy Hội An không phải là vùng trắng công giáo trước năm 1615.

Chính cộng đồng công giáo Nhật bản có ảnh hưởng mạnh nhất. Người Nhật Bản, trong số đó có nhiều người công giáo, đến đây buôn bán, định cư, và cưới vợ người Việt. T́nh h́nh cấm đạo tại Nhật Bản càng lúc càng tăng đă đưa thêm nhiều kiều dân Nhật đến Hội An. Cha Đắc Lộ trong cuốn Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài có ghi lại “ Có rất nhiều giáo dân ( Nhật), kể từ năm 1614 bắt đầu có sắc lệnh cấm đạo, đă kéo nhau lũ lượt đi, nhất là vào mùa chay, và cả ngoài mùa chay nữa, mỗi năm ba hay ba bốn lần, để được xưng tội với các cha ḍng biết nói tiếng Nhật và rước lễ, và mỗi lần có tới bốn chiếc tàu. Họ tự do đi, lấy cớ buôn bán. Và cứ thế gần mười năm nay, họ tiếp tục và rất được măn nguyện và yên ủi về thiêng liêng..” ( Xem Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài. Bản dịch Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Tủ sách Đại kết,TP HCM 1994, tr. 36 tt ) . Mười năm tức là 1624, năm cha Đắùc Lộ đến Đàng Trong.

A. NHỮNG NGÔI NHÀ THỜ CÔNG GIÁO TẠI HỘI AN

Chính cộng đồng Nhật Bản và Bồ Đào Nha đă xây dựng những nhà thờ công giáo đầu tiên tại Đà Nẵng và Hội An. Ngày nay, khi nói đến giao thương giữa Đàng Trong và Nhật Bản, các sử gia Nhật, Việt hoặc vô t́nh hoặc cố ư, lờ đi sự kiện nầy và v́ thế không giải thích được lư do tại sao giai đoạn đầu thế kỷ 17 lại có lắm Châu Aán Thuyền đến Hội An như vậy. Tiến sĩ Li Tana khi nghiên cứu lịch sử xứ Đàng Trong giai đoạn từ 1604 đến 1635. cho biết khoảng thời gian nầy có 70 Châu Aán thuyền Nhật Bản, tức thuyền có phép xuất dương đến Đàng Trong. Tuy nhiên khoảng thời gian ngắn từ 1611 đến 1622 có đến 51 chiếc. ( Xem LI TANA, Xứ Đàng Trong, Nhà Xuất bản Trẻ, 1999, trang 60,61 ) Thời kỳ nầy trùng khớp với giai đoạn bế quan tỏa cảng, cấm đạo công giáo tại Nhật Bản. Sách Lịch sử công giáo Nhật Bản có ghi :

Mối quan hệ giao thương nở rộ với Cochin China là nguồn gốc định cư của người Nhật bản ở Touron (bây giờ là Đà Nẵng) và Faifo (Hội An). Các tu sĩ ḍng Tên đầu tiên được gởi từ Macao đến những hải cảng này là Diego Carvalho bị trục xuất khỏi Nhật bản vào năm 1614 và Francesco Busomi. Cả hai đến vào tháng giêng năm 1615, Cha Carvalho săn sóc giáo hữu Nhật Bản ở Faiko.( Faifo, Hội An). Tuy nhiên, một năm sau Ngài trở về Macao, lại có thể xâm nhập vào Nhật Bản và đă chết tử đạo ở Sendai vào năm 1624, Cha Busomi định cư ở Touron ( Đà Nẵng) nơi Ngài đă xây dựng một Thánh đường, vài tháng sau Thánh đường bị người bản xứ thiêu hủy, Busomi ẩn nấp trong nhà của một giáo dân Công giáo người Nhật ở Faiko.

Các vị thừa sai mới, đến vào năm 1617: Pedro Marquez, sinh tại Nagasaki, Cha là người Bồ Đào Nha và Mẹ là Nhật Bản và Paul Saiṭ, người sau này tái nhập vào Nhật Bản và đă chết trên cọc (tử đạo) vào năm 1633. Mặc dầu chính quyền cũng khá chống đối tôn giáo mới, tân ṭng người bản đại cũng như người Nhật Bản vẫn được rửa tội. Báo cáo mục vụ trong năm 1621 kể rằng, trong năm ấy đă có 82 người bản xứ và 27 người Nhật đă nhận phép rửa.

Năm 1631, Thánh đường ở Faiko bị phá hủy do lệnh chính quyền. Vào thời điểm ấy, nhiều người tị nạn đă đến và trong năm 1633, số lượng người Nhật gia tăng lên 300 người, thái độ của nhà cầm quyền địa phương là cương quyết duy tŕ sự chống đối với việc rao giảng Đức tin, chỉ dụ cấm đạo, ban hành chống giáo dân Công giáo bản địa và các vị thừa sai của họ, không bắt buộc những người định cư Nhật Bản phải thi hành, những người đóng vai tṛ như ngoài lănh thổ. Trong hoàn cảnh này, giáo dân Nhật Bản có thể che dấu các vị thừa sai bị gây ưu phiền, tuy vậy, Busomi và Marquez vẫn bị cưỡng bách phải rời xứ sở tạm thời.

Ở Cochin China, t́nh h́nh giáo dân Công giáo Nhật Bản không bao giờ hứa hẹn, họ sống trong sự sợ hăi triền miên, phải bị khủng bố và một số trong họ đă bị đẩy vào chỗ chết với giáo hữu bản địa. Năm 1658, một số kytô hữu nổi bậc đă bắt đầu di cư sang xứ sở khác, năm 1665, mọi thừa sai nước ngoài đều bị trục xuất và sự khủng bố bao gồm mọi kytô hữu, bản địa cũng như Nhật Bản. Tiếc thay, một số người Nhật giàu có, những người đă là trụ cột của giáo hội, chịu thua mối đe dọa nhà cửa và tài sản phải bị tịch thu, đă bỏ đạo bằng cách thực hành Efumi. Trong hoàn cảnh đau buồn này, cộng đồng kytô hữu Nhật Bản suy sụp và trở nên tuyệt giống vào cuối thế kỷ 17.” ( Bản dịch từ A History of the Catholic Church in Japan, tác giả Joseph Jennes, CICM. Bản dịch tiếng Việt , xem Lịch sử Giáo Hội Công giáo Nhật Bản, Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, Hà Nội Quư 4, 2008 trang,235,236)

Quá rơ ràng, những ngôi nhà thờ công giáo đầu tiên mọc lên tại Cửa Hàn và Hội An thường nằm trong khu phố người Nhật Bản. Xác định lại vị trí các khu phố nầy là xác định được địa điểm nhưng ngôi nhà thờ đó. Điều nầy các chuyên gia c̣n đang tranh cải. Những ngôi nhà thờ nầy lần lượt bị phá hủy, năm 1617 tại Cửa Hàn và 1631 tại Hội An. Trong khi đó nhờ quen thân với Hoàng tử Nguyễn Phúc Kỳ, cha Pina thiết lập nhà thờ đầu tiên cho người Việt tại Dinh trấn Thanh Chiêm ( Chiêm Thượng theo Chu Thuấn Thủy, Dinh Cham theo các Giáo sĩ Tây phương).

Khi Ṭa Thánh lập giám mục Tông ṭa, Đức cha Lambert de la Motte được chỉ định làm giám mục Đàng Trong năm 1659. Hội Thừa sai Paris được thành lập và gữi người đến Hội An. Mối quan hệ giữa Ḍng Tên và Hội Thừa sai có nhiều gây cấn. Vào thời kỳ đó, người Nhật công giáo suy yếu, ảnh hưởng Bồ cũng không c̣n với sự nhập cuộc của nhiều cường quốc hàng hải mới như Ḥa Lan, Anh quốc, Pháp quốc, ḍng Tên không đũ nhân sự, nên giáo dân trực thuộc ḍng nầy cũng giảm nhiều. Ngược lại, ảnh hưởng các thừa sai Pháp mạnh hơn nên cha De Courtaulin cho xây dựng một nhà thờ mới thật to lớn bằng gổ lim tại Rue des Chinois, phố người Tàu ( Đại Đường Nhai), nay là đường Nguyễn Thái Học và Trần Phú. Nhà thờ nầy là nơi phong chức giám mục cho Đức cha Guillaume Mahot năm 1682 “Nhà thờ Hội An khá đẹp và khá tỷ lệ. Đây là một nhà rường, với các gian chạm trổ mộïc đến độ tinh xảo. Nhà thờ được nâng bởi hai hàng cột, mỗi bên 6 chiếc, cách nhau khoảng 15 bộ ( pieds) làm thành gian chính nhà thờ, là nơi dành riêng cho quư bà. C̣n các ông th́ hai gian bên. Gian cuối nhà thờ là một nhà nguyện cao hơn ba bậc cấp để kẻ xa người gần đều thấy linh mục” ( Xem Documents historiques de la Cochinchine tome 1, trang 271). Chỉ tưởng tượng cũng đă h́nh dung một ngôi nhà gổ tuyệt đẹp. Lạ lùng nhất là vị trí chổ ngồi của các bà, gian chính giữa.

Vào thời Đức cha Achards de la Baume đến giải quyết tranh chấp các Ḍng tại Đàng Trong, thống kê 1747 cho thấy Hội An trực thuộc 4 nhóm khác nhau, điều đó cũng cho thấy có ít nhất 4 nhà nguyện tại vùng Hội An v́ có tới bốn Hội ḍng : Ḍng Tên, Ḍng truyền giáo, ḍng Phan sinh, Hội thừa sai Paris.( Xem Ḍng Tên trong xă hội Đại Việt 1615-1773. Đỗ Quang Chính ,SJ. trang 276-278.)

Năm 1750 lệnh Vơ Vương trục xuất toàn bộ giáo sĩ và sau đó, cuộc chiến tranh Tây Sơn, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn nổ ra trên khúc ruột Miền Trung nầy đă xóa sổ hầu như toàn bộ những công tŕnh công giáo cũng như các di tích. Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đấùt nước, đạo thánh chưa kịp phục hồi th́ năm 1835 vua Minh Mạng đă ra lệnh triệt phá đạo công giáo và công việc đó chỉ chấm dứt sau Phong trào Văn thân “B́nh Tây Sát Tả” vào năm 1886.

Giáo xứ Hội An có thể nói bị tận diệt. Vào đầu thế kỷ 20, các linh mục thừa sai Paris quy tụ các giáo dân c̣n sót hoặc làm việc tại Hội An lại. Theo sự t́m hiểu của linh mục Phêrô Lê như Hảo : “ Măi tới năm 1914, một số giáo dân quy tụ về mới dựng được một nhà nguyện trên một g̣ hoang, gần khu nghĩa trang, nhưng không có linh mục phụ trách. Thỉnh thỏang mới có cha ở Phước Kiều về dâng thánh lễ” ( Tư liệu Hội An công giáo, kỹ niệm 385 năm ,lm Lê Như Hảo, trang 7) .Linh mục phụ trách vùng nầy lúc bấy giờ là Joseph Lalanne tức cố Lân, cha sở họ Trà Kiệu và các vùng phụ cận. Tiếp theo là linh mục Pierre Auguste Gallioz MEP tức cố Thiết, coi sóc họ Phước Kiều và Vĩnh Điện, La nang , Hội An.

Trong khi quy hoạch Faifoo (Hội An) , nơi có công sứ Pháp trú đóng, qua giấy “ giao kèo “ Contrat số 913, kư ngày 13 tháng 3 năm 1930, địa sở Hội An qua cha Joseph Lalanne Lân làm chủ thêm các lô đất cạnh nghĩa trang Pháp trên đường Gouverneur Général Charles ( Nguyễn Trường Tộ hiện nay). Đến năm 1935, linh mục Gallioz chính thức xây dựng kiên cố nhà thờ Hội An bằng gạch đá với hai ngôi tháp xinh xinh. Năm 1938, linh mục Gallioz được chấp thuận cho nới rộng khu đất nằm trên ba con đường Gouverneur Général Charles,( Nguyễn Trường Tộ) Oscar Mouliè ( Lư Thường Kiệt) và Pasteur. Năm 1953, quá lao tâm lao lực, ngài đă qua đời và được an táng tại khu nghĩa trang bên cạnh nhà thờ.

Linh mục Phao lô Nguyễn Tưởng, gốc xứ Nhà Đá , B́nh Định làm quản xứ tiếp tục sự nghiệp , xây thêm nhà thờ Cẩm Nam, bị lụt năm th́n 1964 ( ?) d́m xuống sông. Năm 1964, ngài đột ngột qua đời và cũng được an táng tại nghĩa trang bên cạnh nhà thờ Hội An. Lm Antôn Bùi Ngọc Trợ và giáo dân di cư miền Bắc xây dựng nhà thờ Lê Lợi, sau năm 1975, đất đai bị phân tán. Tại Cẩm Hà cha Nguyễn Tri xây dựng một nhà thờ dành cho giáo dân tỵ nạn lụt lội và chiến tranh, nay đă bị xung công. Riêng nhà thờ Hội An cũ chỉ có diện tích 144 mét vuông không đũ chổ cho giáo dân mỗi ngày một đông thêm. Năm 1965 cha Giuse Lê văn Ly gốc Trà Kiệu đă phá xây lại nhà thờ mới trên nền cũ với diện tích 720 mét vuông như hiện nay.V́ nằm ngay đầu phi đạo, nên chính quyền cũ không cho làm tháp chuông, sợ tai nạn máy bay. Phải đợi đến năm 1995 linh mục Phêrô Lê như Hảo mới xây dựng thêm tháp với đồ án mới, độ cao bị hạn chế như hiện thấy. Ngày 15 tháng 2 năm 2005, Uûy ban nhân dân tỉnh Quảng nam chứng nhận giấy sử dụng đất số AB 306449 của giáo xứ với diện tích 4.187,4 m2.

Khi công nhận di tích lịch sử nhà thờ công giáo Hội An, chúng ta nên hiểu theo nghĩa rộng, nhà thờ Hội An như là biểu tượng cho sinh hoạt lâu đời của giáo hội công giáo tại thành phố lịch sử, di sản văn hóa thế giới nầy.

B. VỀ KHU NGHĨA TRANG

Thực ra chỉ có linh mục Pierre Auguste Gallioz đă nằm xuống tại đây năm 1953. Sau đó cha Phaolô Nguyễn Tưởng năm 1964. Sau năm 1975, do nhu cầu sinh sống nhiều ngôi mộ bị phá hoại, linh mục Lê như Hảo đă cho di dời ba ngôi mộ lâu đời các giáo sĩ tại phường Sơn Phong ( Sơn Phô, nôm na gọi là ḷ heo) và khi cải táng ghi tên ba vị giám mục Guillaume Mahot, Francois Perez và Valery Rist. Theo lời kể của những người tham gia cải táng hoặc chứng kiến khi hài cốt được đưa về quàn tại nhà thờ : “ sọ và xương rất to, dài”chứng tỏ đây là những người nước ng̣ai”. Việc ghi tên nầy gây ra nhiều tranh luận trong giới quan tâm đến lịch sử như linh mục Đỗ Quang Chính, người viết lịch sử Ḍng Tên, Lê ngọc Bích... V́ lư do Đức cha Francois Perez được an táng tại Mỹ Xuyên ( Kẻ Thá? Kẻ tả? Kẻ tha?) cách Hội An trên 10 cây số. Đức cha Guillaume Mahot Mep chắc không nằm trong nghĩa trang Ḍng Tên! Đức cha Valery Rist th́ chưa đồng thuận chết và chôn ở đâu!

Sau khi t́m hiểu, chúng tôi rất may có trong tay tài liệu của Albert Sallet, bác sĩ viện trưởng quân đội thuộc địa,một người được mệnh danh là nhà “ Quảng Nam học” v́ ông chuyên viết những đề tài lịch sử, hoặc phong tục, thắng cảnh vùng Quảng Nam đăng trên tạp chí nổi tiếng Bulletin des Amis du vieux Huế ( Tạp chí những người bạn cố đô Huế ). Vào năm 1919, tập 6, trong bài Hội An cổ, sau khi nói về các di tích Chăm, ông chuyển qua các di tích Nhật Bản và phần ba nói về các ngôi mộ người Aâu châu..

Bác sĩ Albert Sallet viết như sau “ Trong cụm dân cư Sơn Phố, về phía đông đồn lính khố xanh, người ta bắt gặp một thửa vườn trồng trọt có ba ngôi mộ bên ngoài xem giống như ba khối chử nhật gồm sỏi đá và vôi. Các ngôi mộ đặt gần như hướng Nam Bắc. Hai trong số đó là mộ chính nối nhau. Ngôi mộ phía Nam không c̣n dấu vết ghi chú ǵ c̣n lại nữa, c̣n cái kia là của cha Sana và phía mặt trên ngôi mộ có biển đá đen mà sự vô tâm của con người c̣n ác hơn cả nguy hại của thời gian, đă xóa vài góc làm mờ hay mất hẳn một số chữ nho. Tôi có đồ lại và gữi cho Huế Cổ kính.

Tôi không biết ǵ về Sana, ngoài phần ghi trên bia đá và những ǵ cha Cadière kể về vị linh mục kiêm thầy thuốc, là người đi tiên phong trong việc cứu tế tại Phố ( Hội An) ..... Hai ngôi mộ mỗi cái đo được khoảng 2m70 chiều dài trên 1m30 chiều rộng, ngôi mộ không c̣n dấu tích là của một linh mục người Aâu khác.

Cái mộ thứ ba kích thước nhỏ hơn, nằm dựa bên mộ cha Sana, phía bên phải chứa hài cốt thầy giảng của ông” . ( Bản tiếng Pháp Bulletin des amis du Vieux Huế, 6, 1919 pp.516.517. Bản dịch của Đặng như Tùng, Những người bạn của Cố đô Huế Tập 6, 1919, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, tr.376. 377 . Xin phép thêm vài từ khác bản dịch, chữ thẳng). Cha Gioan Baotixita Sana hoặc Sanna là một linh mục Ḍng Tên làm ngự y cho Chúa Nguyễn và làm từ thiện ở Hội An 12 năm cho đến khi chết vào năm 1726. Vị linh mục nầy và các cha thừa sai Paris không nhất trí với nhau trong một số công việc mục vụ. ( Xem sách Ḍng Tên trong xă hội Đại Việt của linh mục Đỗ Quang Chính )

V́ khu mộ nằm tại Sơn Phong (hoặc Sơn Phố ) mà đây là mộ của các linh mục Ḍng Tên, từ đó ta có thể đặt giả thuyết, đây chính là nơi có nhà nguyện đầu tiên của cha linh mục ḍng Tên, và nơi có nhiều kiều dân Nhật sinh sống.

Bên cạnh mộ cha Sanna có bia mộ c̣n vị giáo sĩ người Aâu không bia mộ kia là ai? Chúng ta phải nghĩ ngay đến một linh mục cùng Ḍng Tên khác, trước đó vào năm 1625, có linh mục Francisco de Pina, chết đuối tại biển Đà Nẵng và được đưa về an táng linh đ́nh tại Hội An. Mà nếu đây là di hài của ngài th́ khu mộ các giáo sĩ phương Tây tại nhà thờ Hội An sẽ vô cùng giá trị, v́ ngài là người đầu tiên có công h́nh thành việc viết chữ quốc ngữ bằng mẫu tự La Tinh, giúp đất nước Việt Nam tiến bộ vượt bậc về văn hóa, văn chương.

Từ nay khu mộ nhỏ bé sẽ trở thành một nơi lưu dấu kỷ niệm.

Người công giáo Việt Nam sẽ nhớ về công khó bao nhiêu vị truyền giáo “ra đi không hẹn ngày về” chỉ v́ mục tiêu làm sáng danh Chúa, cứu rỗi mọi người theo lệnh của Chúa Cứu Thế “ Hăy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế giới” Mc 16,19.

Nơi đây, cũng là nơi t́m về của nhiều dân tộc công giáo Nhật, Bồ Đào Nha, Avignon : lănh địa Đức Giáo Hoàng, Trung Quốc, Tây Ban Nha, Aán Độ, Pháp, Ư, Đức, Tiệp Khắc...những nước đă cung cấp nhiều giáo sĩ cho công cuộc truyền giáo tại Việt Nam.

Ước mong các giáo xứ thuộc giáo phận Đà Nẵng cũng như cả thế giới sẽ giúp Hội An có thêm nhiều tư liệu và kinh phí để trùng tu nhà thờ và khu mộ. Tuy ngày nay mới là di tích lịch sử và văn hóa của tỉnh Quảng Nam, nhưng trong tương lai gần, sớm trở thành một địa chỉ du lịch, một trung tâm hành hương giáo hội Việt Nam và giáo hội toàn cầu.

Hội An ngày 18 tháng 2 năm 2009

Linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng
Quản xứ Hội An.

Nguồn : http://antontruongthang.com/

...............................

Lược Sử Giáo Xứ Hội An (*)

< Bài đăng trên báo Toà Thánh "L'Osservatore Romano" >

 

Xin đính chính về bản tin này: Bài viết về Á thánh Anrê Phú Yên được trích đăng từ báo L'Osservvatore Romano.Nhưng bài "A BRIEF HISTORY OF HOI AN PARISH" (Lược Sử Giáo Xứ Hội An) do linh mục Antôn Nguyễn Trường Thăng biên soạn. Ngoài ra chúng tôi xin cập nhật chân dung Á thánh Anrê Phú Yên, tác phẩm cũng của cha Antôn, hoạ lại căn cứ trên các tư liệu lịch sử. Xin chân thành cáo lỗi cùng cha Antôn, quí vị và các bạn về những sự sai sót này. BBT giaophandanang.org

A BRIEF HISTORY OF HOI AN PARISH

HOI AN THE WORLD HERITAGE

Archaeological studies in Hoi An in the 1990s proved that more than 2000 years ago Hoi An was an embryonic port town of the Sa Huynh people.

From the 2nd to the 15th centuries, Hoi An was the land of the Champa Kingdom. In these centuries, Hoi An became a prosperous commercial port town in Asia. Merchant boats from Arabian countries and China came to Hoi An for trade. Cham people were brilliant sailors. The excavation of a shipwreck at Butuan, Philippines, in 1972 prouved that Cham merchants brought to the Philippines the Song ceramics of 11th century. Officially, China had known the Philippines since 13 th century. By 1471, Hoi An belonged to Viet Nam. In the 16th and the 17th centuries, Hoi An commercial port was one of the international trade centers in Southern Vietnam. Foreign merchant ships came to Hoi An in great numbers and a bustle for annually commercial fairs, each lasted from 4 to 6 months. Right in this town, Japanese, Chinese, Dutch, Indian traders set up their emporiums or established their own quarters for permanent habitation.

On the 4th, December 1999 the Ancient Town of Hoi An was inscribed on the World Heritage list.

HOI AN THE CATHOLIC CHURCH HERITAGE

The Catholic Church reached Vietnam in the 16th century, thanks to the work of missionaries from Portugal, Spain, France… and others catholics of Asia. This is the essential chronology of the spreading of the Christian faith:

1580 A group of Franciscans from the Philippines moved to CochinChina

1615 (January 18th) The Mission of CochinChina officially began with the arrival of the Jesuits: the Italian Francesco Buzomi and the Portuguese Diego Carvalho at Da Nang (Touron) and Hoi An (Faifoo). At the end of 1615: 300 catholics in this area.

1617 The Jesuits Cristoforo Borri and Francisco Pina come to Hoi An.

1621 15.000 catholics in Cochinchina.

1621 Francisco Pina invented the new method to transcribe Vietnamese language with latin alphabets at Thanh Chiem (Dinhcham, near Hoi An)

1624 Alexandre de Rhodes, from Avignon, country of the Pope, arrived at Hoi An.

1627 Alexandre de Rhodes, S.J., arrived in Tonkin (northern Vietnam).

1630 Prohibition of Christianity. Fr. de Rhodes expelled from Tonkin.

1640 Edict against Christianity in Tonkin.

1644 July 26, Andrew of Phu Yen, the 19- year-old catechist, executed at

Dinh Tran ( Dinhcham) : the first martyr of VietNam.

1650 Fr. de Rhodes suggested Propaganda to send in Bishops and to create a local Vietnamese clergy.

1651 Alexandre de Rhodes published the Latin-Annam (Vietnamese)- Portuguese dictionary and the "Catholic Catechism in Eight Days" in Rome.

1659 Etablisment of the two dioceses : Tonkin and Cochinchina.

1663 Persecutions began

1668 The first two priests of Tonkin and Cochinchina ordained

1670 – 1671 Visit of the Apostolic vicariate Lambert de la Motte in Tonkin and Cochinchina ( Hoi An). First Synod of CochinChina

1676 The Dominicans of the Philippines began their missionary activities in eastern Tonkin

1679 The Apostolic Vicariate of Tonkin split into two Apostolic Vicariates: one still entrusted to the Fathers of the Foreign Missions of Paris, the other to the Dominicans of the Philippines

1698 Persecutions

1700 Franciscans from the Philippines came to Cochinchina.

1750 All missionaries in Cochinchina expelled (Hoi An)

1751 Franciscans from Manila returned to Hatien ( South Viet Nam, near Cambodia border)

1774 Civil wars between Tay Son, Nguyen and Trinh lords.

1802 Union of Tonkin and Cochinchina under the Annam Empire: relative freedom

1821-1841 Annam ruled by Emperor Minh Mang. Edit of persecutions began in 1835.

1856 – 1861 Intervention of Spanish and French in Viet Nam. French occupation in the 6 provinces of the South Viet Nam.

1861 – 1883 Many martyrs in this period.

1884 Treaty between Annam and France, acknowledging the sovereignty of the Emperor of Annam. Full freedom for missionaries and Christians

1887 Tonkin, Annam, Cambodia and Cochinchina became French Indochina colony.

1909 Beatification of the Martyrs of Annam

1933 First Plenary Council held at Hanoi

1954 Division of Vietnam

1960 Establishment of the Sacred Hierarchy

1975 -1976 End of the Vietnamese war. Unification of Viet Nam under the Communist regime.

1979 Msgr. Trinh Van Can, Archbishop of Hanoi is appointed Cardinal

1980 Unification of the Vietnamese Catholic Hierachy.

1988 Canonization of the 117 martyrs, including 11 Spanish missionaries and 10 French missionaries.

2009 350 years Hierachy of Viet Nam.

2015 400 years of the evangelisation in Viet Nam.

PRAY FOR THE CHURCH OF VIETNAM AND HOI AN PARISH

From the number of 10 catholics in the summer 1615 to 7 millions today, the Catholic Church recognizes and loves Hoi An parish as the cradle of the Catholic faith in VietNam. Surpassing centuries of war and persecution, actually, Hoi An parish counted only 1400 catholics in a large area of 25 square kilometers. In the heart of everyone : Hoi An, the market of trade between many countries in the world, is also the converging place between Vietnamese religious and cultural traditions with the catholic faith. Here, at Hoi An new challenges emerge to the Catholic Church. The Catholic Church of Viet Nam after overcoming centuries of incomprehensions and sufferings, begins to harvest good fruits: to be a good witness of Christ in her country and in the world.

BLESSED ANDREW of PHU YEN

( 1625-1644 )

THE FIRST MARTYR OF VIETNAM

Martyr - AD 1644

Blessed Andrew came from the province of RanRan (Phú Yên), today in Viet Nam, and was gifted with intelligence and a good heart. On the insistence of his mother, Fr de Rhodes, a famous Jesuit missionary, agreed to include him among his students. Andrew soon surpassed his fellow pupils. Together with his mother, he received Baptism in 1641. He would have been about 15 years of age, having been born in 1625 or 1626. At the time of his death in 1644, he was 19 or 20. In 1642 Andrew become one of Fr de Rhodes' closest co-workers and, after a year of further formation, he joined the Maison Dieu ("House of God") catechist association which Fr de Rhodes had instituted. Its members made a public promise to spend their entire lives serving the Church by helping priests and spreading the Gospel.

 

Blessed Andrew of Phu Yen

by Italian painter Giacinto Brandi 1652

Before the end of July 1644, Mandarin Ong Nghe Bo returned to the province which he governed and where Andrew was living. He had orders from the King of Annam to prevent the expansion of Christianity in his kingdom. Fr de Rhodes, unaware of the Mandarin's intentions, paid him a courtesy visit, but was quickly informed that the King of Annam was angered at the great number of Cochin-Chinese who were following the Christian law. Fr de Rhodes must therefore leave the country and no longer teach Christian doctrine to the Cochin-Chinese; since the latter were the subjects of the King, they would incur the most severe penalties.

Fr de Rhodes left the palace and went directly to the prison where an elderly catechist was already incarcerated. Meanwhile the Mandarin had sent soldiers to Fr de Rhodes' house in search of another catechist, but he had left on an apostolic mission. They found young Andrew instead. In order not to return empty-handed to Ong Nghe Bo, they beat Andrew, bound him and transferred him to the Governor's palace.

On 25 July 1644 Andrew was taken to the Mandarin, who tried in various ways to make Andrew "desist from that foolish opinion of his, and give up the faith". But he replied that he was a Christian and most ready to undergo any suffering rather than abandon the law that he professed. Indignant at Andrew's inflexibility, the Mandarin ordered that he be taken to prison. The young Andrew was so serene and joyous at being able to suffer for Christ that people who came to see him recommended themselves to his prayers. He would not hear of this, but asked them to pray that God might give him the grace to be faithful to the end and to "respond with fullness of love to the infinite love of his Lord, who gave his life for men, by giving his own life".

The next day, 26 July, Andrew was taken to the Governor's public audience, where he was sentenced to death. In the afternoon, a captain led Andrew down the streets of Ke Cham to the place of execution, a field outside the city. Fr de Rhodes, many Portuguese and Vietnamese Christians, and even pagans followed the procession and witnessed the killing. Andrew exhorted the Christians to remain firm in their faith, not to be saddened by his death, and to help him with their prayers to be faithful to the end. He was executed with some blows of a lance and, finally, when he was about to be beheaded with a scimitar, he cried out the name of Jesus in a loud voice. Andrew accepted the sacrifice of his life for the faith and love of Christ.

Taken from:

L'Osservatore Romano

Weekly Edition in English

8 March 2000, page 2

* Nguồn : Trang nhà Giáo phận Đà Nẵng

 

................

Nhà thờ Công Giáo Hội An được xây dựng từ năm 1935.
Ảnh photo Vĩnh Tân chụp năm 1950

Dưới đây là trích đoạn tư liệu của Linh Mục AnTôn Nguyễn Trường Thăng, Người coi sóc giáo xứ Hội An từ tháng 11 năm 2006.

E. THẾ KỶ 19 BÁCH HẠI VÀ THỬ THÁCH.

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất đất nước, đạo thánh chưa kịp phục hồi th́ năm 1835 vua Minh Mạng đă ra lệnh triệt phá đạo công giáo và công việc đó chỉ chấm dứt sau Phong trào Văn thân “B́nh Tây Sát Tả” vào năm 1886.

Cộng đồng đạo thánh tại Hội An có thể coi như bị tận diệt: không nhà thờ, không linh mục, không lời kinh tiếng hát…Một lần nữa, giáo dân trốn lên vùng rừng núi hay dùng thuyền bè chạy vào vùng đất mới Đồng Nai, Gia Định, Lục Tỉnh. Ngày nay tộc họ giáo xứ Miền nam chắc chắn có ghi tên những lưu dân bất đắc dĩ của xứ Hội An nầy.

F. THẾ KỶ 20. TỪ ĐỐNG TRO TÀN VÀ THẾ KỶ 21: VUI MỪNG VÀ HY VỌNG.

Linh mục thừa sai Pierre Auguste Gallioz Thiết.

Vào đầu thế kỷ 20, các linh mục thừa sai Paris quy tụ các giáo dân c̣n sót hoặc có công ăn việc làm tại Hội An như một họ nhánh của Trà Kiệu. Theo sự t́m hiểu của linh mục Phêrô Lê như Hảo : “ Măi tới năm 1914, một số giáo dân quy tụ về mới dựng được một nhà nguyện trên một g̣ hoang, gần khu nghĩa trang, nhưng không có linh mục phụ trách. Thỉnh thỏang mới có cha ở Phước Kiều về dâng thánh lễ” ( Tư liệu Hội An công giáo, kỹ niệm 385 năm ,lm Lê Như Hảo, trang 7) Linh mục phụ trách vùng nầy lúc bấy giờ là Joseph Lalanne tức cố Lân, cha sở họ Trà Kiệu và các vùng phụ cận. Tiếp theo là linh mục Pierre Auguste Gallioz MEP tức cố Thiết, coi sóc họ Phước Kiều và Vĩnh Điện, La Nang , Hội An.

1. NHIỆM KỶ LINH MỤC PIERRE AUGUSTE GALLIOZ THIẾT (1935- 1953)

Đến năm 1935, linh mục Gallioz chính thức xây dựng kiên cố nhà thờ Hội An bằng gạch đá với hai ngôi tháp xinh xinh. Năm 1938, linh mục Gallioz được chấp thuận cho nới rộng khu đất nằm trên ba con đường Gouverneur Général Charles,( Nguyễn Trường Tộ) Oscar Mouliè ( Lư Thường Kiệt) và Pasteur. Ngài lập cô nhi viện chăm sóc các em mồ côi. Năm 1953, quá lao tâm lao lực, ngài đă qua đời và được an táng tại khu nghĩa trang bên cạnh nhà thờ.

Nhà thờ Công giáo Hội An xây dựng từ năm 1965

Linh mục Giuse Lê Văn Ly xây dựng nhà thờ mới.

Năm 1965, Cha Giuse Lê Văn Ly, gốc Trà Kiệu từ Hà Tân về làm chính xứ Hội An. Lúc đó nhà thờ Hội An cũ chỉ có diện tích 144 mét vuông không đủ chổ cho giáo dân mỗi ngày một đông nên năm 1965 cha Giuse đă cho phá nhà thờ 1935 xây lại nhà thờ mới trên nền cũ với diện tích 720 mét vuông tồn tại đến nay. V́ nằm ngay đầu phi đạo, nên chính quyền cũ không cho làm tháp chuông, sợ tai nạn máy bay.


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Hội An

< 11/7/2007 by TTV >

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

         

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hính ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com