Giáo phận Đà Nẵng

Nhà thờ Giáo xứ Trà Kiệu

 

Nhà thờ Giáo xứ Trà Kiệu

Xem thêm "Tập h́nh nhà thờ Trà Kiệu"

 

Địa chỉ :      Duy Sơn, Duy Xuyên, Quảng Nam  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh Mục Gioan Nguyễn Văn HOÀNG (26/9/2014)
Phó xứ     : Linh mục Phaolô Lê Tấn Kính (7/10/2012)
Phó xứ     : Linh mục Phaolô Hồ Quang Phúc (9/2014)

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

 

Bổn mạng

 

Số giáo dân

 

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Tóm lược đôi nét về giáo xứ Trà Kiệu (Phạm Cảnh Đáng)

-  Tin tức sinh hoạt

* Đại Hội Đức Mẹ Trà Kiệu 2014 (30/5/2014)
* Đại hội Hành hương Đức Mẹ Trà Kiệu năm 2012 (30/5/2012)
* Giáo xứ Trà Kiệu hành hương Năm Thánh về Nhà thờ Chính Ṭa
* Tháng Hoa 2010 - Hướng về Đại Hội Hành Hương kỷ niệm 125 năm Đức Mẹ Trà Kiệu, 30-31-5-2010

 

Lược sử Giáo xứ Trà Kiệu

Nguồn : Trang nhà Giáo phận Đà Nẵng

 

              Giáo xứ Trà Kiệu nằm trên hai địa bàn thôn Kiệu Châu và Trà Châu, thuộc xă Duy Sơn, Huyện Duy Xuyên, Tỉnh Quảng Nam,cách thành phố Đà Nẵng 40 cây số về hướng Tây Nam. Cho đến nay vẫn chưa thể biết đích xác là Giáo xứ Trà Kiệu được h́nh thành vào năm nào. Tuy nhiên, căn cứ vào một ít tư liệu có được, cũng có thể phần nào nói lên được sự h́nh thành và phát triễn của giáo xứ qua ḍng thời  gian.

 

I.                  Giai đoạn h́nh thành:

         “ Tin Mừng” đă đến với giáo xứ Trà Kiệu vào thời điểm nào và vị giáo sĩ nào đă đặt chân lên mảnh đất Trà Kiệu trước tiên th́ cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính xác. Việc thành lập giáo xứ Trà Kiệu được căn cứ vào  một số tư liệu gần đây.

          Trước hết là tập “ Nguyên Trà Kiệu ngủ xă phong tặng tiền hiền sự tích Chủ Văn bảng tổng hợp Nhất Quyển.” được thiết lập vào năm Khải Định nhị niên. Đây là văn bảng  do con cháu đứng ra kê khai công đức của bậc tiền nhân . Trong bảng tổng hợp có đoạn viết về các bậc tiền bối đă dày công vun đắp xây dựng nên Xă Trà Kiệu Thượng như sau:

         “ Đến đời Lê Thần Tông ( 1619-1643) có các tộc tổ của xă là : Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Đăng Ứng, Đinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh ( v́ Lê Văn, Nguyễn Viết nguyên đă thờ phụng Thiên Chúa) theo đạo Công giáo, nên lên xây dựng Thánh Đường riêng biệt để lễ bái tại nội thành Chiêm, cùng thuộc bổn xă.”. Tuy nhiên, theo quan niệm thời đó  là “ Đi đạo là  bỏ Ông bỏ Bà” nên việc sắc phong cho các vị tộc tổ theo đạo công giáo gặp trở ngại v́ thế phải thêm một bản tŕnh bổ sung, nội dung như sau: “Tuy 7 vị tộc tổ  Trà Kiệu Thượng theo đạo Thiên Chúa, xây dựng thánh đường riêmg biệt, nhưng hàng năm, xuân thu nhị kỳ, vẫn đến thờ tiền hiền để tưởng nhớ đến hương hồn tổ tiên.” Nhờ sự xác nhận đó mà nhà Vua ban điệu sắc thứ tư cho 7 vị tộc tổ Công giáo thời Lê Thần Tông. Điệu sắc này văn c̣n được lưu giữ tại nhà ông Lưu Văn Trọng.

         Một bản viết tay của Linh mục Joseph Lalanne xác nhận về các vị “ Tiền hiền làng Trà Kiệu”, có chữ kư và con dấu của Lư trưởng Nguyễn Thanh Hương xác nhận, nội dung như sau:

          “ Tiền hiền làng Trà Kiệu là

1.     Lưu Văn Tâm

2.     Nguyễn Thanh Cảnh

3.     Nguyễn Quang Hoa

4.     Nguyễn Đăng Ứng

5.     Đinh Công Triều

6.     Lê Văn Càng

7.     Nguyễn Viết Bỉnh

          Các Đấng ấy lập sở làng Trà Kiệu từ năm 1630 đến 1640 đời Vua Lê Thần Tông. Nhà thờ trước hêt được xây dựng ở vườn ông thầy Long, sau đời Đức Cha Lợi làm cha sở Giáo xứ Trà Kiệu th́  dời qua chỗ đương c̣n.

          Qua những chứng cứ trên th́ Giáo xứ Trà Kiệu có thể được h́nh thành vào khoảng 1630, nhưng những linh mục đă đến ở trong thời gian này th́ chưa biết được. Măi đến 70 năm sau ngày thành lập giáo xứ, mới thấy có nhắc đến tên  một linh mục ḍng Phan Sinh cai quản giáo xứ Trà Kiệu .

1.     Linh Mục ḍng Phan Sinh Jeannes Baptista de Castelhove từ Trung Quốc sang, làm quản xứ Trà Kiêu vào năm 1714.

2.     Theo sách “Giáo hội Công Giáo ở Việt Nam” th́  vào ngày 2 tháng 4 năm 1722, Cha Felipe de la Conception từ Manila sang và được cử đến Trà Kiệu. Ngài xây cất nhà thờ Trà Kiệu kính thánh Philiphê

3.     Linh mục Phan sinh thứ ba đến cai quản Trà Kiệu là cha Pedro Garcia.

 

II.              Giai đoạn ổn định và phát triển (1862-1975)

 

                 Dựa vào  những tư liệu quí hiếm c̣n lưu giữ, đó là những quyển sổ rửa tội  trước tiên là bằng chữ Hán hiện do ông Lê Văn Nhung và Ông Lê Thái Hưng lưu giữ, tiếp theo bằng chữ La tinh và sau cùng là bẵng chữ Quốc ngữ hiện lưu giữ tại Giáo xứ Trà Kiệu. th́  từ năm 1862 trở đi ta có thể ghi nhận các Linh mục quản xứ Trà Kiệu như sau:

 

1.     Linh Mục Trung- Quản xứ trà kiệu từ năm 1862 – 1863: Ngài là người đầu tiên lưu lại  bút tích trong sổ Rửa tội của Giáo xứ Trà Kiệu

2.     Linh mục Triết – từ năm 1863 – 1867: Ngài làm quản xứ Trà Kiệu được 5 năm . Ngài mất vào năm 1905 tại Giáo xứ  Phú Thượng.

3.     Linh mục Tân – từ năm 1867 – 1869 :  Trong giai đoạn này Giáo xứ Trà Kiệu phát triễn mạnh. Số giáo dân cả giáo xứ và họ nhánh lên đến 4000 người, riêng Trà Kiệu là 700.

4.     Linh mục thừa sai Louis Maria Galibert ( tên Viêt Nam là Cố Lợi ) từ năm 1869 – 1877 : Ngài tổ chức lại tu viện Mến Thánh giá và từ đó tu viện chính thức đi vào hoạt động có nề nếp, có tổ chức gồm 1 bà nhất và 16 nữ tu.Ngài cũng mua một khu đất  vuông vức bên hông nhà thờ để xây dựng cô nhi viện

5.     Linh mục thừa sai Jean Baptise Bruyere ( tên Việt Nam là Cố Nhơn ) từ năm 1877 – 1912: Ngài là một linh mục thông minh lanh lẹ, có óc tổ chức và khôn ngoan. Ngài luôn sống trong sự phó thác và tin tưởng vào Mẹ Maria. Có lẽ nhờ thế mà Thiên Chúa, qua tay Mẹ Maria, đă cứu Giáo xứ Trà Kiệu thoát khói cơn sóng hủy diệt của Văn thân vào năm 1885. Để nhớ măi hồng ân cao cả này, Cố Nhơn đă trùng tu lại ngôi thánh đường, bắt đầu từ năm 1889 và hoàn thành năm 1892. Ngài mất tại bệnh viện Sài G̣n và an táng tại Lăng Cha cả. Hiện nay hài cốt ngài được cải táng về Vườn Nghĩa, bên cạnh Nhà thờ Giáo xứ Trà Kiệu.

6.     Linh mục thừa sai Pierre Auguste Gallioz ( tên Việt Nam là Cố Thiết ) từ năm 1912 – 1916: Ngài ở giáo xứ Trà Kiệu được 5 năm th́ chuyển đi Hội An và mất tại đó vào ngày 15 tháng 10 năm 1953.

7.     Linh mục Augustin Tardieu ( tên Việt Nam là Cố Phú ) từ năm 1916 – 1921: Ngoài công tác mục vụ, cố Phú c̣n lo đến việc phát triễn giáo xứ , giáo phận bằng cách mua thêm ruộng đất cho nhà chung ở các nơi như Phú Nhuận, Trà Lư, An Lộc..để có điều kiện gia tăng ngân quỹ chi dùng cho giáo phận và giáo xứ. Ngài được tấn phong Giám mục vào ngày 1 tháng 5 năm 1930 và cai quản giáo phận Quy Nhơn. Ngài qua đời vào năm 1942 và an táng tại Làng Sông.

8.     Linh mục Giuse Lalanne ( tên Việt Nam gọi là Cố Lân ) từ năm 1922 – 1938 :  Ngài là một linh mục hiền lành và nhân đức. Bước chân truyền giáo không mỏi mệt của Ngài được Chúa ban cho một mùa thu hoạch dồi dào. Ngoài các giáo họ cũ Cha c̣n tạo dựng nên được nhiều giáo họ tân ṭng như Phong Thử, Tư Phú, Kỳ Lam, La Nang và Ái Nghĩa. Để đáp ứng nhu cầu mục cụ, Ngài xây dựng nguyện đường tại Phước và xây dựng lại Đền Đức Mẹ trên đồi Bữu Châu vào năm 1927. Ngài cũng đă để lại di bút về tiền hiền làng Trà Kiệu. Ngài từ trần tại Trà Kiệu vào năm 1938 và được an táng trọng thể tại Vườn Nghĩa của Giáo xứ.

9.     Linh mục thừa sai Phaolo Valour ( tên Việt là Cố Lực ) từ năm 1938 – 1944 : Ngài quan tâm đến việc giáo  dục, phổ biến rông rải việc học chữ quốc ngữ. Ngài xây dựng trường học, xin các nữ tu ḍng mến thánh giá G̣ Thị ra dạy học.. Niên khóa đầu tiên khai giảng vào năm 1940-1941 với hai lớp học. Cũng trong năm này ngài cho trồng các cây me tây để che mát sân trường và sân nhà thờ.

10.                        Linh mục Phaolo Nguyễn văn Như – từ năm 1944 – 1947: Ngài ở Trà Kiệu đến 1947 th́ đi di tản đến Giáo Xứ Tân An, Tiên Phước, Tam Kỳ.

11.                        Linh mục Phaolo Nguyễn Tường – từ năm 1947 – 1949: Ngài tổ chức gánh đất , bồi đắp khu đất ở bờ suối phía bắc, nay khu đất đó là Trạm y tế xă Duy Sơn. Ngài mất  1964 và an tang tại khuôn viên thánh đường giáo xứ Hội An.

12.                        Linh mục Pierre Jeanningros ( tên Việt Nam gọi là Cố Vị ) từ năm 1949 – 1953: Ngài mở rộng cô nhi viện , xây tường rào khuôn viên thánh đường và xây dựng chợ Trà Kiệu.

13.                        Linh mục Amedee Benoit ( tên Việt Nam gọi là Cố Sáng ) từ năm 1953 – 1954: Ngài  là người rất hăng say phục vụ cho các tín hữu. Ngài bị trúng đạn và mất khi đi thăm một quân nhân đang hấp hối. Thi hài cha được an táng trong khuôn viên Thánh đường Trà Kiệu.

 

14.                        Linh mục thừa sai Giuse Viot ( tên Việt Nam gọi là Cố Nhơn ) từ năm 1954 – 1955: Ngài nhiệt t́nh trong công tác mục vụ và đặc biết rất yêu thương trẻ em.

15.                        Linh mục thừa sai Donate Beliard ( tên Việt Nam gọi là Cố Phước ( từ năm 1955- 1957:  Ngài tiếp tục công tác mục vụ và lo cứu giúp những người nghèo khổ không phân biệt lương giáo.

16.                        Linh mục Benedicto Nguyễn Đ́nh Hiến – từ năm 1957 – 1958: Ngài khuyến khích con em trong giáo xứ đi vào các ḍng tu, xây dựng hai trung tâm truyền giáo mới đó là Xuân Thạnh và Xuyên Quang.

17.                        Linh mục Martino Nguyễn Hộ - từ năm 1958 – 1961: Ngài chuyên tâm công tác mục vụ và truyền giáo. Năm 1959. Trà Kiệu được chọn làm Trung Tâm Thánh Mẫu giáo phận và Ngài đă đứng ra tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Trà Kiệu lần thứ 1.

18.                        Linh mục Simon Huỳnh Sánh – từ năm 1961 – 1962: Ngài được cử làm Tổng Đại diện giáo phận và kiêm Cha quản xứ Trà Kiệu. Ngài bệnh và mất tại Trà Kiệu năm  1962 và an táng trong khuôn viên Thánh đường giáo xứ.

19.                        Linh mục Phero Lê Như Hảo – từ năm 1963 – 1974: Ngài lo công tác trùng tu kiến thiết Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu. Ngài xây dựng ngôi đền Mẹ trên đồi Bữu Châu, xây dựng khán đài, ao sen, nhà thủy tạ và con đường núi sọ quanh nhà thờ núi. Năm 1970  Ngài bắt tay xây dựng lại ngôi nhà thờ chính, có hai tầng, tầng trên là Thánh đường, tầng dưới là  nơi hội họp. Ngài đứng ra tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Trà Kiệu làn thứ hai. Hiên nay ngài hưu dưỡng tại Ṭa Giám Mục.

20.                        Linh mục Giacobe Nguyễn Thành Tri – từ năm 1974 – 1975: Ngài về Trà Kiệu chưa được một năm th́ xăy ra biến cố 1975 và sau đó Ngài chuyển về Giáo phận Quy Nhơn.

 

III. Giai đoạn từ năm 1975 - 2010

1.     Linh mục Anton Nguyễn Trường Thăng – từ năm 1975 – 1989: Trong giai đoạn khó khăn này Ngài đă đón nhận cộng đoàn nữ tu ḍng Thánh Phaolo và đại chủng sinh đến t́m đất sống ở Trà Kiệu. Năm 1984 Ngài lại đón nhận Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi về hưu dưỡng và ĐGM đă mất và an táng tại Vườn Nghĩa, cạnh Nhà thờ Trà Kiệu vào ngày 21/1/1988. Cha Antôn bắt đầu công tŕnh chống sụt lở  trên Đền Đức Mẹ. Ngài cũng là người có công sưu tầm một số cổ vật Chàm và làm thành một pḥng trưng bày có giá trị.

2.     Linh mục Phaolo Mai Văn Tôn – từ năm 1989-2000 : Ngoài công tác mục vụ, Ngài vận động quyên góp để thực hiện công tŕnh chống sụt lở trên Đền Đức Mẹ. Ngài cũng cho xây dựng căn nhà hai tầng rộng rải để có nơi cho các em học giáo lư. Năm 1998 Ngài được Đức Giám Mục Giáo phận cho đi học tại Philipines, và đến năm 2003, Ngài về nhận nhiệm sở Phú Hương, rồi chuyển lên Thuận Yên. Chẳng bao lâu, Ngài lâm bệnh và qua đời vào tháng 11 năm 2005.

3.     Linh mục An Phong xô Nguyễn Hữu Long ( 2000- 2003 ). Ngài là một linh mục rất hăng say công tác mục vụ. Ngài thăm viếng từng gia đ́nh giáo dân để nắm rơ và giúp cho mọi người sống đạo tốt đẹp hơn. Ngài cho củng cố lại bờ kè đă được Cha Phaolô Tôn khởi sự, chống sụt lở cho Ngôi Thánh Đường và xây dựng thêm pḥng học giáo lư cho các em. Năm 2003 Ngài rời Trà Kiệu về làm cha giáo Đại Chủng Viện ở Huế.

4.     Linh mục Giuse Châu Ngọc Tri (2003-2006) : Ngài là một linh mục năng động, giúp các hội đoàn tái sinh hoạt, tổ chức nhũng ngày lễ lớn mang tính cộng đồng, mang lại một bầu khí hân hoan sống động. Ngài cho tu sửa lại hội trường, nhà xứ, nhà truyền thống, củng cố lại lối đi sân vườn và trang trí lại Đền Đức Mẹ trên đồi Bửu Châu. Từ mùa hành hương năm 2004, Nhà nguyện Phước Viện Mến Thánh Giá được chọn làm Nhà nguyện Thánh Thể, đặt Ḿnh Thánh Chúa 24/24. Ngày 13/5/2006 Ngài được bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo phận Đà Nẵng.

5.     Linh mục Giuse Nguyễn Thanh Sơn ( 2006-2007)  : Dù chỉ ở Trà Kiệu một thời gian ngắn, ngoài công tác mục vụ, Ngài quan tâm đến khu vực quanh đồi Đức Mẹ đang bị chặt phá gây nên sụt lở và cho xây dựng một bờ tường cao bao quanh đồi Đức Mẹ để bảo vệ.

6.     Linh mục Phaolo Đoàn Quang Dân.( 9/72007 - …..) Ngài là vị linh mục hiện đang điều hành giáo xứ. Ngoài công tác mục vụ chăm lo đời sống giáo dân. Ngài tiếp tục công tŕnh xây dựng giáo xứ. Hiện nay Ngài đang tu bổ lại Ngôi Thánh đường Trà Kiệu đang xuống cấp và cho sơn lại để chuẩn bị kỷ niệm 125 Đức Mẹ hiện ra tại Trà Kiệu.

Sau khi giáo họ Ḥa Lâm nâng lên hàng Giáo xứ và tách rời khỏi Trà Kiệu vào năm 2007, hiện nay Giáo xứ Trà Kiêu có 870  hộ với 3.500 giáo dân. Trà Kiệu là Trung Tâm Thánh Mẫu của Giáo phận, nên cần phải có một qui hoạch tổng thể lâu dài. Hiện nay, chính quyền đă trả lại quyền quản lư ṭan khu vực Nhà thờ Núi, đặt ra cho Trà Kiệu những nỗ lực mới, đồng thời cũng mở ra những hướng đi mới cho vùng đất giàu lịch sử đạo đời này.

Hằng năm, Đại Hội Hành Hương kính Đức Mẹ Trà Kiệu diễn ra vào cuối Tháng Hoa, vào dịp lễ Đức Mẹ Đi Viếng Bà Thánh Isave. Khách hành hương biết đến Trà Kiệu mỗi ngày một đông hơn, làm cho bầu khí hành hương thêm rộn ràng. Trà Kiệu cũng là Kinh đô Simhapura- Sư Tử Thành của Vương Quốc Chămpa cho đến thế kỷ 11, và cách đó 25 km về hướng Tây, là Thánh địa Mỹ Sơn, Di sản Văn hóa Thế giới, thu hút hằng trăm ngàn khách du lịch quốc tế hàng năm. V́ thế, về Trà Kiệu không phải chỉ là hành hương tôn giáo, mà c̣n mang tính văn hóa, lịch sử, giao lưu gặp gỡ giữa nhiều nền văn hóa và qua nhiều thời đại. 

 

...................................

Tóm lược đôi nét về giáo xứ Trà Kiệu

Duy-Trà Phạm Cảnh Đáng

Nguồn :  http://danchuausa.net/

I. HOÀN CẢNH LỊCH SỬ

Trà Kiệu một giáo xứ bé nhỏ, ẩn ḿnh ở chốn nông thôn rừng núi, nhưng là một Giáo xứ được Mẹ Maria che chở một cách đặc biệt. Trà Kiệu cũng là một Giáo xứ kỳ cựu nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam.

Trước năm 1009 th́ chính địa giới của Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay là Kinh Đô của Vương Quốc Chămpa tức là Chiêm Thành, và được gọi là Sư Tử Thành (Simhapura). Sau năm 1009 th́ Kinh Đô Chiêm Chúa được dời vào Đồ Bàn (B́nh Định).

Do cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, nhất là từ năm 1470, sau cuộc b́nh Chiêm đại thắng của vua Lê Thánh Tông, dân tộc Việt Nam từ các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh... được khuyến khích di dân vào Nam để khai hoang vỡ hóa những vùng đất do Chiêm Thành để lại.

Và theo phả hệ của các chư tộc tại Trà Kiệu th́ vào thời kỳ này (1470 - 1479) có 13 vị Thỉ Tổ theo bước chân Nam tiến của vua Lê, đă đưa vợ con gia đ́nh vào vùng đất Chiêm Động (tức vùng Trung huyện Duy Xuyên ngày nay) mà khai cơ thác thổ. Rồi sau đó lại có nhiều vị Thứ Thế Tiền Hiền vào đây tiếp tay khai phá và tạo nên một vùng đất canh tác bao la rộng lớn gần 2000 mẫu, nên sau đó mới phân cương định giới và lập xă hiệu là Trà Kiệu xă.

Ranh giới Trà Kiệu như sau:

- Nam khóa Tào sơn (Nam trùm núi Ḥn Tàu)
- Bắc cự Sài thủy (Bắc đạp sông Chợ Củi (Câu Lâu)
- Đông lâm Quế hạt (Đông giáp khu đông Quế Sơn)
- Tây chấm Tùng sơn (Tây gối núi Dương Thông)

Đến năm Thành Thái thứ 11 (1905) xă Trà Kiệu v́ quá rộng lớn nên mới được chia ra làm 5 xă riêng biệt gồm có: Trà Kiệu Trung - Trà Kiệu Đông - Trà Kiệu Nam - Trà Kiệu Tây - Trà Kiệu Thượng (gọi chung là ngũ Trà). Xă Trà Kiệu Thượng tức là xă dành cho anh em công giáo sống riêng ở trên Thành Chiêm (tức là Giáo Xứ Trà Kiệu ngày nay). Đất đai tài sản của xă Trà Kiệu ngày trước được chia đều cho 5 xă theo số lượng nhân khẩu. Duy chỉ có nhà thờ tiên tổ (sau gọi là nhà thờ ngũ xă), và đất đai từ đường (7 mẫu, 3 sào) th́ vẫn giữ nguyên để con cháu ngũ xă về niệm hương lễ bái công đức các bậc tiền bối nhân dịp xuân thu nhị kỳ...

Trải qua bao đời biến đổi, 4 xă Trà Kiệu Đông, Trà Kiệu Nam, Trà Kiệu Trung và Trà Kiệu Tây, đă thay đổi tên hiệu, không c̣n gọi là Trà Kiệu nữa. Duy chỉ có xă Trà Kiệu Thượng (tức là Giáo xứ Trà Kiệu) th́ cho đến nay vẫn c̣n giữ tên "Trà Kiệu" thuở ban đầu.

II. SỰ H̀NH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN GIÁO XỨ TRÀ KIỆU:

Giáo xứ Trà Kiệu cách Thành phố Đà Nẵng chừng 40km về phía Tây Nam. Trên con đường xuyên Việt Bắc-Nam (quốc lộ số 1), khi đến trạm Nam Phước (tức Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), rẽ về hướng Tây theo tỉnh lộ 610 (đường đi khu di tích Mỹ Sơn) chừng 7km, khách hành hương sẽ đến Giáo xứ Trà Kiệu hay c̣n gọi là Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu.

Giáo xứ Trà Kiệu tọa lạc trên một phần đất vuông vức, mỗi bề dài khoảng 1km, lại nằm giữa một cảnh quan thôn dă an b́nh và xinh đẹp. V́ trước đây Trà Kiệu là Kinh đô huy hoàng của Chiêm quốc với cảnh núi đồi sông nước rất nên thơ và tráng lệ.

"Điện các huy hoàng trong ánh nắng,
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh".

Thế nhưng hôm nay đền đài thành quách của Chiêm quốc đă điêu tàn đổ nát, một số nền móng lâu đài đă được Trường Viễn Đông Bác Cổ khai quật, đào bới. Một số thành lũy đă đứt nối oằn oại dưới những ngôi nhà của cư dân.

Nếu thật chú ư chúng ta mới có thể nhận ra được một vài di tích c̣n sót lại nhưng không trọn vẹn, đó là:

- Ở phía Đông Giáo xứ có ḥn Bửu Châu (hay c̣n gọi là Non Trược, hay Non Trọc) mà người ta tin rằng đó là kỳ đài của kinh thành. Ḥn Bửu Châu án ngữ ngay sau hậu cung của Chiêm Chúa. Ngày nay Ḥn Bửu Châu đă trở thành Đền Mẹ Trà Kiệu - Trung tâm Thánh Mẫu (Hoàng cung tọa lạc ở xóm Hoàng Châu, quay mặt về hướng Đông).

- Ở phía Bắc là dăy thành đất chạy song song với con sông Thu Bồn, từ chân đồi Bửu Châu lên hướng Tây, đến chân núi Kim Sơn (Ḥn Bằng) dài độ 1000 mét. Trên mặt thành đất này dân cư đă xây dựng nhà cửa và ngôi chợ Hàm Rồng ở vào khoảng giữa.

- Ở phía Tây có rặng đồi Kim Sơn và dăy thành lũy chạy dọc theo con suối Hố Diêu vào phía nam dài độ 500 mét. Dăy thành này hiện là khu nhà thờ, nhà xứ, cô nhi viện, Phước viện và cư dân.

- Ở phía Nam có dăy thành cao, rộng, chạy từ hướng Tây xuống hướng Đông đến hồ Hoàng Châu, giáp với cổng thành phía Đông. Dăy thành này dài trên một kilômét và hiện nay là khu dân cư thuộc phái nam của giáo xứ.

Tại giáo xứ Trà Kiệu hiện nay c̣n có một số địa danh quen thuộc, mà chúng ta cần biết đó là: Đồi Bửu Châu, Đồi Kim Sơn, Hàm Rồng, Ḥn Gành, Bến Giá, Ḥn Ấn...

* Bước đầu truyền giáo:

Hiện nay chúng ta không thể biết chính xác là vào thời điểm nào "Tin Mừng" được rao giảng tại Trà Kiệu, và vị giáo sĩ truyền giáo nào đă đặt chân đến Trà Kiệu trước tiên.

Theo một số sử gia th́ trước khi các linh mục Ḍng Tên do Cha Buzomi dẫn đầu, đến Hội An để chính thức tổ chức công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong (1615), th́ đă có các linh mục ḍng Phanxicô đến truyền giáo tại Hội An và các vùng phụ cận. Và sử liệu cũng có ghi là vào năm 1558, một linh mục ḍng Phanxicô đă rửa tội cho bà chị quan trấn thủ Quảng Nam với thánh hiệu là Phanxica (Bà Phanxica là chị của quan trấn thủ Quảng Nam, là con của Chúa Nguyễn Hoàng). Một điều khác là sử liệu cũng cho chúng ta biết là Trà Kiệu đă được các Cha ḍng Phanxicô cai quản cho đến khoảng năm 1810 mới bàn giao lại cho các Linh mục thừa sai Hội Truyền Giáo nước ngoài Ba-lê (MEP). Hơn nữa Hội An là cửa ngơ của Trà Kiệu, v́ trước đây Hội An, Cửa Đại (Chiêm) là cửa ra vào kinh đô Trà Kiệu của Vương Quốc Chàm (Champa). Cho măi đến thời kỳ Chúa Nguyễn quản trấn Quảng Nam, th́ Trà Kiệu vẫn là nơi giao lưu buôn bán phồn thịnh với Hội An nhờ ḍng sông Thu Bồn, Bà Rén. Trà Kiệu c̣n là khu dân cư đông đúc trù phú nhất tỉnh (nhất Trà Kiệu, nh́ La Qua, ba Tú Tràng...) là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh, là kinh đô của Chiêm quốc (Sư tử Thành) có phong cảnh nên thơ và trữ t́nh. Thuyền bè buôn bán, ngao du, từ Hội An lên Trà Kiệu, Thu Bồn rất tấp nập. Kể cả thuyền rồng của các Chúa Nguyễn cũng thường xuyên lên xuống, và thường ghé lại Trà Kiệu nên có địa danh "Bến giá" (để cho thuyền rồng nhà Chúa đậu lại).

Do hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi như thế, chúng ta có thể nghĩ rằng: Trà Kiệu đă được ghi vào lược đồ truyền giáo của các Linh mục ḍng Phanxicô rất sớm. Ngoài Hội An và vùng phụ cận th́ Trà Kiệu có thể là nơi các Linh mục ḍng Phanxicô đặt chân lên sớm nhất. Tuy nhiên đây cũng là bước khởi đầu, chỉ có tính cách giao lưu thăm ḍ chưa được tổ chức chu đáo. Phải đợi cho đến khoảng năm 1628 - 1630 Tin Mừng mới được bén rể và phát triển tại Trà Kiệu. Giáo xứ sơ khai được h́nh thành, qua sự kiện một số gia đ́nh con cháu trong xă (Trà Kiệu), lên sống riêng biệt ở trên Nội Thành Chiêm để tạo lập giáo đường mà đọc kinh cầu nguyện, không c̣n tham dự lễ bái ở Đ́nh thờ tổ tiên nữa.

* Giai đoạn từ 1630 đến 1862

- Thời gian thành lập Giáo xứ:

Về việc thành lập Giáo xứ Trà Kiệu, chúng tôi căn cứ vào một số tư liệu gần đây như tập "Nguyên Trà Kiệu ngũ xă phong tặng tiền hiền sự tích"... và một số tư liệu khác, th́ Giáo xứ Trà Kiệu có thể được h́nh thành vào khoảng năm 1630.

Giai đoạn này cũng rất ít tư liệu và không rơ ràng, cho măi đến năm 1862, là năm mà các sinh hoạt của Giáo xứ c̣n được lưu lại (như Sổ Rửa tội, bút tích của các Cha Quản xứ...)

Trước hết là tập "Nguyên Trà Kiệu ngũ xă phong tặng Tiền Hiền sự tích Chủ Văn bảng tổng hợp Nhất Quyển" được thiết lập vào năm Khải Định nhị niên (1917) tại Trà Kiệu ngũ xă, do Lư trưởng của 5 xă Trà Kiệu lúc bấy giờ (Trà Kiệu Thượng - Trung - Tây - Nam - Đông) kư nhận và đóng dấu, được Chánh tổng Mậu Ḥa Trung kư tên và đóng dấu xác thực, đồng thời được con cháu của các chư tộc kư nhận. Các bảng báo tŕnh này đă được nhà vua (Khải Định) phê duyệt, và ban sắc phong công đức.

Nội dung tư liệu này có 2 phần:

- Phần đầu là phần do chính quyền sở tại Lư trưởng báo tŕnh chung về công đức của các vị tiên tổ đă dày công khai hoang vỡ hóa, chiêu dân lập ấp, để xây dựng nên xă Trà Kiệu Thượng (tức Giáo xứ Trà Kiệu ngày nay). Theo bảng kê khai th́ có 11 chư tộc, trong đó có 7 tộc tiền hiền từ thời Lê Hồng Đức và 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long.

* 7 tộc tiên tổ thời Lê Hồng Đức ghi theo thứ tự như sau:

1. Lưu Văn Tâm

2. Nguyễn Thanh Cảnh

3. Nguyễn Quang Hoa

4. Nguyễn Đăng Ứng

5. Đinh Công Triều

6. Lê Văn Càng

7. Nguyễn Viết Bỉnh

* 4 tộc hậu hiền từ thời Gia Long ghi theo thứ tự như sau:

8. Phạm cảnh Tộc

9. Nguyễn văn Tộc

10. Trần Tộc

11. Đoàn công Tộc

Các vị tiền hiền hậu hiền Trà Kiệu Thượng đă khai canh khai khẩn được 221 mẫu ruộng, cả công tư điền thổ, và thứ thế sinh hạ nhơn đinh tráng lăo 157 người.

- Trong phần thứ hai là 11 bảng kê khai công đức Tiền hiền và phả hệ chư tộc cũng như sinh hạ kế thế của 11 chư tộc kể trên. Các bảng kê khai này do chính con cháu trong tộc họ ḿnh tự đứng ra kê khai.

Theo bản khai tŕnh th́ có 7 vị tộc tổ của xă Trà Kiệu Thượng (Giáo xứ Trà Kiệu) trong đó có 5 vị nguyên là con cháu của 13 vị thủy tổ khai cơ tiền hiền từ thời Hồng Đức (Lê Thánh Tông, 1470 - 1479): Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Đăng Ứng và Đinh Công Triều. Họ là những người địa phương, đă định cư tại Trà Kiệu từ trước kia và nay v́ theo đạo Chúa nên tách ra, lên ở riêng trên Nội Thành Chiêm.

C̣n 2 vị tộc tổ Lê Văn Càng và Nguyễn Viết Bỉnh th́ đă có đạo rồi nhưng ở nơi khác cùng đến (thời Lê Thần Tông) ở chung với 5 vị tổ mới theo đạo. Tất cả 7 vị đến lập cư tại Nội Thành Chiêm, cùng thuộc bổn xă Trà Kiệu, để sinh sống, xây dựng nguyện đường để đọc kinh cầu nguyện. Đoạn văn trong tờ khai tŕnh đă viết:

"Chi Lê Triều Thần Tông niên gian, dân xă chư tộc tiên tổ thủy tổ Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Đăng Ứng, Đinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (do Lê văn, Nguyễn viết nguyên phụng Thiên Chúa giáo) ṭng Thiên Chúa giáo, biệt lập giáo đường lễ sở tại bổn xă nội thành xứ:.

Nghĩa là: "Đến đời Lê Thần Tông (1619 - 1643) có các tộc tổ của xă là: Lưu Văn Tâm, Nguyễn Thanh Cảnh, Nguyễn Quang Hoa, Nguyễn Đăng Ứng, Đinh Công Triều, Lê Văn Càng, Nguyễn Viết Bỉnh (v́ Lê văn, Nguyễn viết nguyên đă thờ phụng Thiên Chúa) theo đạo Công Giáo, nên lên xây dựng Thánh đường riêng biệt để lễ bái, tại nội thành Chiêm, cùng thuộc bổn xă". Chữ "Ṭng Thiên Chúa giáo" ở đây là dành riêng cho 5 vị ở trên.

Đồng thời chúng tôi cũng sưu t́m được một trang thủ bút quư hiếm của Linh mục Lalanne (cố Lân), Cha quản xứ Trà Kiệu (từ năm 1922 - 1938) về việc chính thức công nhận các vị tiền hiền của Giáo xứ Trà Kiệu. Đó là bản viết tay của Linh mục Joseph Lalanne, xác nhận về các vị "Tiền hiền làng Trà Kiệu", có chữ kư và con dấu của Lư trưởng Nguyễn Thanh Hương xác thực. Bản xác nhận này được viết vào ngày 2 tháng 7 năm 1925 tại Giáo xứ Trà Kiệu và có nội dung như sau: (xem thêm bản gốc)

"Tiền hiền làng Trà Kiệu là:

1. Lưu Văn Tâm.

2. Nguyễn Thanh Cảnh.

3. Nguyễn Quang Ba (Hoa).

4. Nguyễn Đăng Ứng.

5. Đinh Công Triều.

6. Lê Văn Càng.

7. Nguyễn Viết Bỉnh".

Các đấng ấy lập sở làng Trà Kiệu từ năm 1630 đến 1640 đời vua Lê Thần Tông (1619 - 1943). Nhà thờ trước hết được xây dựng ở vườn ông thầy Long, sau đời Đức Cha Lợi làm Cha sở Giáo xứ Trà Kiệu th́ dời qua chỗ đương c̣n...

Giáo xứ Trà Kiệu chắc chắn đă được rao giảng Tin Mừng trước khi các vị tiền bối của chúng ta lên ở riêng trên Nội thành Chiêm để giữ đạo (1630). Thời điểm rao giảng Tin Mừng ở Trà Kiệu chậm nhất cũng là vào thời kỳ 1615 đến 1628. V́ theo như Cha Đắc Lộ (Alexandre de Rhode) cho biết th́ vào năm 1625 việc rao giảng Tin Mừng đă được loan báo khắp các khu dân cư lớn ở xứ Nam. Cha ghi như sau: "Năm 1625 đạo Công Giáo được rao giảng khắp các xứ lớn ở miền Nam. Chúng tôi (Cha Đắc Lộ) tất cả là 10 Cha Ḍng. Công việc thật vất vả, nhưng chúng tôi không lấy ǵ làm nặng nhọc, v́ Đấng mà chúng tôi phụng sự đă nâng đỡ chúng tôi tỏ tường, giúp chúng tôi thu hoạch được những kết quả vượt khả năng và ước muốn của chúng tôi...

Sau khi 7 vị sáng lập Giáo xứ Trà Kiệu đă tách ra ở riêng trên nội thành Chiêm, th́ công việc đầu tiên của các vị là xây dựng "Nhà nguyện" để cùng đọc kinh cầu nguyện chung với nhau. Chúng ta cũng không biết chính xác là nhà nguyện ban đầu này được xây dựng từ năm nào, nhưng theo ông Cao Đức Phong (Câu kinh) th́ đă quả quyết là "có từ lâu... và biết rơ một điều là nhà thờ đă có trước thời 1681 - 1682". Và cũng theo khẩu truyền, th́ ngôi nhà nguyện đầu tiên này được xây dựng tại phái (khóm) Đông trên khu đất vườn ông Trương Tạ, và hiện nay là khu vườn nhà ông thầy Long (Xem thêm phần Thánh đường Trà Kiệu).

Duy-Trà Phạm Cảnh Đáng

Nguồn :  http://danchuausa.net/duc-me/tom-luoc-doi-net-ve-giao-xu-tra-kieu/ 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Trà Kiệu

H́nh chụp ngày 7/11/2007 - Credit of TTV

Xem toàn album

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

 

 

 

 

 

           

 

 

 

 

 

 

 

 

Xem thêm : Xem toàn album

 

Hính ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com