Giáo Phận Đà Nẵng

Ṭa Giám Mục Giáo phận Đà Nẵng

 

Địa chỉ : 156 Trần Phú, HT. 143, Thành Phố Đà Nẵng

Tel

(511)-810-312

(511)-871-856

E-mail

admin@giaophandanang.org

Web Site

http://giaophandanang.org

Thành lập

18/1/1963

Diện tích    :11,690 km2

Số Giáo dân

62,228

Số Giáo hạt

5

Số Giáo xứ : 44

Linh mục 85  
Tu sĩ nam   Tu sĩ nữ :

Tư liệu :  Lược sử Giáo Phận Đà Nẵng
                H́nh ảnh Giáo Phận Đà Nẵng
                Đôi Ḍng Lịch Sử Giáo Phận Đà Nẵng - Marcello Đoàn Minh
                Lược Sử Giáo Phận Đà Nẵng - Vietnamese Missionaries in Asia
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Đà Nẵng
                Danh sách Linh mục Giáo phận Đà Nẵng

-  Tin tức sinh hoạt

* Thánh Lễ Tạ ơn kỷ niệm 49 năm thành lập Giáo phận Đà Nẵng
*
Thánh Lễ Truyền Dầu Năm Linh Mục 2010 tại GP Đà Nẵng
* H́nh ảnh lễ truyền dầu tại Giáo Phận Đà Nẵng

 

Lược sử Giáo Phận Đà Nẵng

Theo Lịch Công Giáo Giáo Phận Đà Nẵng Năm Phụng Vụ 2012

Nguồn : Website GP Đà Nẵng (18/4/2012)

A- BUỔI SƠ KHAI

Hai địa danh Cửa Hàn và Hội An được ghi nhớ trong lịch sử truyền giáo Việt Nam kể từ ngày 18.01.1615, khi các vị thừa sai Ḍng Tên là Cha Francesco Buzomi, quốc tịch Ư, Cha Diego Carvalho và Thầy Antonio Dias, Bồ Đào Nha, 2 Thầy Giuse và Phaolô, người Nhật, theo tàu Bồ Đào Nha từ Macao đến Việt Nam cập bến Cửa Hàn - Đà Nẵng, rồi vào Hội An -Quảng Nam. Lịch sử Giáo phận Đà Nẵng có thể nói đă bắt đầu từ thời điểm đó. Theo từng thời kỳ truyền giáo, vùng đất này thuộc về các giáo phận: Đàng Trong (1659) do Đức Cha P. Lambert de la Motte làm Đại diện Tông Ṭa; Đông Đàng Trong (1844); giáo phận Đông (1850) và Quy Nhơn (1924).

Miền đất khai nguyên của công cuộc truyền giáo Việt Nam này đă chứng kiến bao nhiêu biến cố liên quan đến Giáo hội Việt Nam sơ khai:

- 10 tín hữu đầu tiên được rửa tội vào lễ Phục Sinh năm 1615 tại Hội An.

- Cuộc họp lần I giữa các vị thừa sai Ḍng Tên tại Hội An năm 1619 để phân chia trách nhiệm mục vụ.

- Cái chết của Cha Francesco de Pina tại Cửa Hàn năm 1625.

- Hội Thầy Giảng được Cha Alexandre de Rhodes thành lập năm 1640 tại Hội An, nhận lời khấn giữ luật độc thân, phục vụ dân Chúa của hơn 10 Thầy Giảng đầu tiên vào năm 1642, và cái chết oai hùng của vị Tử Đạo tiên khởi tại Đàng Trong: Thầy Giảng Anrê Phú Yên vào ngày 26.7.1644 tại Phước Kiều, Quảng Nam.

- Công nghị đầu tiên tại Đàng Trong do Đức Cha Lambert de La Motte triệu tập tại Hội An (năm 1672).

- Nơi dừng chân và ẩn náu của các vị thừa sai đến truyền giáo và cũng là một trong những trung tâm truyền giáo mạnh nhất của Giáo đoàn Đàng Trong, từ Sông Gianh trở vào.

- Nơi an nghỉ của các vị thừa sai thời danh: Đức Cha Guillaume Mahot (01.6.1684), Đức Cha F. Perez (7.1729), Đức Cha Valère Rist (1737).

- Những cuộc bách hại triền miên (1802-1885) do các chỉ dụ và lệnh cấm đạo của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và đặc biệt hoạt động bài Công giáo của phong trào Văn Thân, với hàng ngàn gương chứng nhân đức tin và những mồ chôn tập thể.

- Cuộc hiển linh của Đức Trinh Nữ Maria tại Trà Kiệu, giải cứu các tín hữu đang trong ṿng nguy khốn do các cuộc tấn công bằng vũ lực của quan quân triều đ́nh (ngày 10-11/9/1885).

- Đặc biệt, về phương diện văn hóa xă hội, địa danh Hội An – Thanh Chiêm đă gắn liền với một công tŕnh lớn về văn hóa : nơi khởi đầu các nghiên cứu và áp dụng chữ Quốc ngữ được khởi xướng do Cha F. de Pina, có mặt tại Hội An từ những năm 1622-1623, và được hoàn bị với những nỗ lực không mệt mỏi của Cha Alexandre de Rhodes, có mặt tại Hội An vào những năm 1624, 1640 và từ năm 1642 đến khi bị trục xuất vĩnh viễn khỏi Việt Nam ngày 03.7.1645.

Vùng đất Cửa Hàn – Hội An này thực sự hồi phục khi các cuộc bách hại chấm dứt. Theo Compte Rendu của MEP năm1891, họ đạo Tourane Đà Nẵng được tái lập năm 1885 ngay sau phong trào Văn Thân, và đặc biệt gia tăng dân số khi cuộc di cư của đông đảo đồng bào từ các giáo phận miền Bắc năm 1954, tạo nên những trại định cư và cũng là những tân giáo xứ sau này ngay nội thành Đà Nẵng.

B- THỜI KỲ THÀNH LẬP VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN :

Ngày 18.01.1963, với sắc chỉ In Vitae Naturalis Similitudinem, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đă thành lập tân Giáo phận Đà Nẵng, tách ra từ Giáo phận Quy Nhơn, bao gồm địa giới thị xă Đà Nẵng, Tỉnh Quảng Nam và Tỉnh Quảng Tín (nay là Thành phố Đà Nẵng và Tỉnh Quảng Nam). Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, nguyên Giám mục Quy Nhơn trở thành Giám mục tiên khởi của Tân Giáo phận. Lễ nghi Tuyên sắc thiết lập Tân Giáo phận và bổ nhiệm Giám mục Chính ṭa được tổ chức trọng thể tại Nhà thờ Giáo xứ Đà Nẵng – cũng được chọn làm Nhà thờ Chính Ṭa của giáo phận mới – vào ngày 01.5.1963, với sự hiện diện của Đức Khâm Sứ Ṭa Thánh Salvatore Asta.

Thời kỳ đầu thành lập, ngoài một truyền thống lịch sử lâu đời và đáng quư, Tân Giáo phận Đà Nẵng thực sự chỉ như một hạt giống nhỏ bé giữa cánh đồng rộng lớn. Trên một diện tích 11.555 km2 với dân số 1.100.000 người, Tân Giáo phận có 35 địa sở, 365 họ nhánh với hơn 84.000 giáo dân và 15.000 dự ṭng, với 40 linh mục và một số ít nam nữ tu sĩ thuộc các Ḍng Phaolô, Mến Thánh Giá và Giuse. Cơ sở vật chất cũng rất thiếu thốn: không có Ṭa Giám mục, không chủng viện, không nhà hưu, rất ít cơ sở giáo dục, xă hội... Mọi sự đều đang ở phía trước và đang chờ sự quán xuyến đầy khôn ngoan và tận tụy của vị Chủ chăn mới và cộng đoàn Dân Chúa giàu truyền thống đạo hạnh này.

Được thiết lập trong thời gian diễn ra Công đồng Chung Vatican II, ngay khi nhậm chức Giám mục Chính Ṭa, Vị Chủ Chăn đă xác định đường hướng mục vụ cho Tân Giáo phận phận: “Tôi rất vui mừng v́ việc thiết lập Địa phận Đà Nẵng trùng năm với việc triệu tập Công Đồng Vatican Đệ Nhị. Lịch sử Đà Nẵng sẽ gắn liền với lịch sử Công đồng Vatican II. Cũng như Giáo hội sau Công Đồng sẽ có một bộ mặt mới và một tinh thần mới, th́ Đà Nẵng của Công Đồng Vatican II cũng sẽ có một bộ mặt và một tinh thần mới : bộ mặt và tinh thần thực thụ của Chúa Kitô” (Trích Diễn văn nhậm chức của ĐGM Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, ngày 01.5.1963).

Do đấy, cũng tại miền đất này, từ sau khi trở thành giáo phận, đă là một trong những điểm sáng của việc áp dụng các canh tân theo tinh thần Công đồng Vatican II trong đời sống giáo hội địa phương: công cuộc truyền giáo và các cuộc trở lại đông đúc của các lương dân trong vùng; các đoàn thể Công giáo Tiến hành và phong trào Tông đồ Giáo dân liên tục xuất hiện, những quy chế hoạt động được thiết lập; các cơ sở sinh hoạt của Giáo phận, nhà thờ, nhà xứ, các cơ sở bác ái, xă hội, giáo dục được xây dựng.

Theo hoàn cảnh thực tế của thời cuộc, có thể nh́n đời sống của Giáo phận Đà Nẵng qua 3 giai đoạn tương đối rơ nét. Mỗi một giai đoạn chừng như gắn liền với từng biến cố trong đời sống dân sự, và kéo dài trong một thời kỳ với tất cả những yếu tố quen thuộc: những khó khăn, khủng hoảng của buổi đầu, những thích nghi để tồn tại và khai thông để phát triển.

1. Từ ngày thành lập 18.01.1963 đến 29.3.1975

Thời gian này chỉ vỏn vẹn 12 năm, Giáo phận tân lập được thiết kế giữa một thời điểm nóng bỏng của lịch sử dân tộc, khi cuộc chiến mỗi lúc một lan rộng và hậu quả càng thêm bạo tàn.

a/ Cơ chế:  Để tổ chức việc điều hành giáo phận, Đức Giám mục tiên khởi đă thực hiện có qui củ ngay sau khi nhậm chức. Vào ngày 14.5.1963, Ngài đă tổ chức một cuộc họp toàn thể linh mục và ấn định chức danh Tổng Đại Diện, thiết lập thêm một giáo hạt mới – Giáo hạt Hội An, cùng với 2 giáo hạt đă có: Đà Nẵng và Tam Kỳ. Năm 1971, thành lập thêm Giáo hạt Ḥa Khánh. Ban Cố Vấn và Hội Đồng Kinh tế cũng được thành lập theo đ̣i hỏi của Giáo luật, cùng với các Phụ trách Truyền Giáo và Công giáo Tiến Hành theo nhu cầu. Năm 1969, phê chuẩn Quy chế Hội đồng Mục vụ Giáo phận và ban hành quy chế và thành lập Hội Đồng Linh mục.

b/ Các đoàn thể Công giáo Tiến hành

Từ ngày 18.8.1963, ban Chấp hành Công giáo Tiến hành Địa phận đă được bầu. Các đoàn thể Công giáo Tiến hành đă được thành lập và hoạt động hữu hiệu : Legio Mariae, Bác ái Vinh sơn, Phan sinh Tại thế, Liên minh Thánh Tâm, Hiệp hội Thánh Mẫu, Hùng tâm Dũng chí, Thiếu nhi Thánh Thể, Thanh Sinh Công, Hướng đạo… Quy chế Hội Đồng Giáo xứ được ban hành ngày 30.5.1971 và 38 Hội đồng Giáo xứ trong toàn Giáo phận được thành h́nh. Một “đại hội giáo dân” đă được triệu tập gồm khoảng 400 đại biểu tham dự gồm các HĐGX của 38 giáo xứ, Ban chấp hành CGTH và các hội đoàn, Đại diện các ủy ban Phát triển, Công lư ḥa b́nh, Phụng vụ, Thông tin, Truyền bá Phúc Âm, Giáo dục… vào ngày 22.8.1971 tại Tiểu chủng viện Gioan Đà Nẵng và đă bầu cử Hội đồng Giáo dân Địa phận.

c/ Các cơ sở quan trọng:

- Tiểu chủng viện Thánh Gioan, được xây dựng tại An Thượng, khai giảng niên khóa đầu tiên năm 1965, nhưng măi đến năm 1968 mới hoàn thiện. Đức Cha Phêrô Maria giao cho các Linh mục thuộc Tu hội Xuân Bích đảm nhận việc giảng huấn.

- Ṭa Giám mục và Nhà Hưu dưỡng các linh mục được xây dựng và đưa vào xử dụng từ năm 1970.

Những cơ sở trên đây Nhà Nước đang xử dụng làm Trường Đại học Kinh tế.

- Đại Chủng viện Ḥa B́nh tại Ḥa Khánh được xây dựng làm phân khoa triết học cho Đại Chủng viện Xuân Bích Huế và tiếp nhận khóa đầu tiên năm 1972. Sau năm 1975, cơ sở này bán lại cho Nhà Nước làm Trường Đại học Bách Khoa.

- Bệnh viện An B́nh và Nhà Ḍng Thánh Gioan Thiên Chúa phụ trách bệnh viện, được xây dựng cạnh Toà Giám mục hoàn tất năm 1974. Khi chuẩn bị đưa vào sử dụng, th́ giao cho Uỷ ban Quân quản Thành phố Đà Nẵng mượn làm nơi tiếp nhận thương binh. Đến nay, cơ sở này do Bộ Quốc pḥng xử dụng làm Trường Dạy Nghề.

d/ Việc huấn luyện đào tạo:

Giáo phận đă có những bước tiến rơ rệt cả về nhân sự lẫn cơ sở. Một vài số liệu minh họa cho sự gia tăng đáng quư này:

- Số Linh mục : Năm 1963 : 40 vị - Năm 1975: 105 vị (có 6 linh mục ngoại quốc), trong đó đă có nhiều linh mục trở về sau thời gian dài du học tại Ư, Pháp, Mỹ…

- Số Đại chủng sinh : Năm 1963 : 30 thầy. Năm 1975 : 73 thầy, học tại Giáo hoàng học viện Đà Lạt, Đại Chủng viện Xuân Bích Huế, trong đó, số chủng sinh ban Triết cùng chủng sinh của 6 giáo phận miền Trung học tại Đại Chủng viện Ḥa B́nh được thành lập tại Giáo phận.

- Tiểu Chủng sinh : Năm 1975 : 238 chủng sinh học tại Tiểu Chủng viện Thánh Gioan thuộc Giáo phận.

- Nam Tu sĩ: Năm 1963 : vài tu sĩ thuộc ḍng Giuse (Nha Trang). Năm 1975: 8 tu sĩ thuộc các cộng đoàn đang được thành lập: Đồng Công, Gioan Thiên Chúa và Salesien.

- Nữ Tu sĩ: Năm 1963: 200 Nữ tu ḍng Thánh Phaolô và Mến Thánh Giá Quy Nhơn. Năm 1975: 308 nữ tu Ḍng Thánh Phaolô, Mến Thánh Giá Quy Nhơn, Mến Thánh Giá Huế, Con Đức Mẹ Đi Viếng, Con Đức Mẹ Vô Nhiễm,Thừa Sai Bác Ái Vinh Sơn.

- Giáo dân: Năm 1963: 84.000 người thuộc 35 giáo xứ của 3 giáo hạt. Năm 1975: 94.580 người thuộc 4 giáo hạt Đà Nẵng, Ḥa Khánh, Hội An, Tam Kỳ.

- Các khóa huấn luyện: Giảng viên Truyền giáo, Tông đồ giáo dân, Chuẩn bị hôn nhân…

- Các cơ sở giáo dục: Năm 1963: Vài trường Tiểu học & 01 Trường Trung học Sao Mai. Năm 1970, trong phúc tŕnh của Ban Văn hoá Giáo dục, toàn Giáo phận có 16 trường trung học với 11.170 học sinh, 40 trường tiểu học với 23.190 học sinh.

- Các cơ sở giáo dục hướng nghiệp: nhiều khoá đào tạo nghề do cơ quan Caritas tổ chức. Một Trường hướng nghiệp được khởi công xây dựng từ năm 1974 tại Ḥa Khánh và được giao phó cho các tu sĩ Ḍng Salesien điều khiển, nhưng chưa hoàn thành.

e/ Lănh vực xă hội, y tế, bác ái

- Ngoài Dưỡng đường Thánh Phaolô do các nữ tu Phaolô phụ trách, từ cuối thập niên 1960 cũng đă xuất hiện một số bệnh viện tư nhân do người Công giáo thành lập như Bệnh viện Têrêxa, Bảo sanh viện Khánh Vân… Và đặc biệt, năm 1972, Đức Cha Phêrô Maria đă cho xây dựng một bệnh viện mang tên An B́nh và giao cho các Tu sĩ Ḍng Gioan Thiên Chúa phụ trách, nhưng chưa đi vào hoạt động.

- Các cơ sở bác ái xă hội cũng bắt đầu được xây dựng và hoạt động: nhà dưỡng lăo, nhà cô nhi do các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô và Ḍng Mến Thánh Giá Quy Nhơn phụ trách. Ngoài ra, những công cuộc cứu trợ và các nỗ lực tạm cư cho các nạn nhân băo lụt năm 1964, nạn nhân chiến tranh vào các năm 1968, năm 1972-1974 cũng đă được thực hiện chu đáo.

- Cơ sở in ấn đă được thành lập mang tên Nhà in Thanh Công từ những năm 1962 do Cha Antôn Bùi Hữu Ngạn phụ trách và hoạt động cho tới năm 1975. Từ cơ sở ấn loát này, nhiều tài liệu về giáo lư như bộ Giáo lư Lời Chúa do Cha Antôn Trần văn Trường chủ biên, các tài liệu huấn luyện đoàn thể, đặc biệt về phong trào Hùng Tâm Dũng Chí, Hướng Đạo… đă được in ấn và phổ biến rộng khắp cả nước.

Có thể lược tóm giai đoạn này bằng một bản tin đă được đăng trong Bản Thông Tin Địa Phận tháng 10.1968: “Ba yếu tố đă làm thay đổi bộ mặt Địa phận Đà Nẵng, trước hết là trận băo lụt kinh khủng tháng 9 và tháng 11.1964 (Năm Th́n), nhiều người thuộc các địa sở Trung Phước, Ô Gia, Phú Hương… đă di cư xuống thành phố. Rồi đến chiến cuộc ác liệt cũng từ năm 1964-1965, giáo hữu thuộc các xứ miền quê đă về các nơi an toàn tương đối để lánh nạn. Và sau cùng là biến cố tết Mậu Thân năm 1968, nhiều nguời ở ngoài địa phận đă vào đây lánh nạn”. Những biến cố thời sự cùng với những đ̣i hỏi canh tân theo tinh thần Công đồng Vatican II, cũng như các tiến bộ văn minh kỹ thuật đă tạo nên một bộ dạng mới rất đặc biệt của giáo phận non trẻ Đà Nẵng, giáo phận của Công Đồng.

2. Từ năm 1975 đến năm 1993

Sau biến cố lịch sử năm 1975, Giáo phận Đà Nẵng bước qua một khúc quanh mới.

Biến cố nổi bật trước hết trong giai đoạn này chính là việc tấn phong Giám mục Phó Giáo phận vào ngày 06.6.1975 cho Đức Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Quang Sách. Đức Tân Giám mục trông coi mục vụ Giáo xứ Chính Toà, cũng đồng thời là Tổng Đại diện từ thời điểm này.

Tất cả cơ sở giáo dục và từ thiện của Giáo phận đều phải bàn giao cho Chính quyền Cách mạng. Tiểu Chủng viện ngưng sinh hoạt. Đại Chủng viện Hoà B́nh tại Hoà Khánh được dời về Giáo xứ Phú Thượng, và chỉ đào tạo được một một lớp duy nhất cho đến năm 1982 th́ giải thể.

Năm 1980, Hội Đồng Giám mục Việt Nam được thống nhất hai miền Nam-Bắc với hội nghị đầu tiên lịch sử. Thư chung năm 1980 ra đời nói lên sự chọn lựa và định hướng mục vụ cho Dân Chúa tại Việt Nam trong những tháng ngày đầy gian nan thử thách.

Năm 1984, các cơ sở chủ yếu của Giáo phận như Ṭa Giám mục, Tiểu chủng viện Thánh Gioan, Nhà Hưu dưỡng các linh mục bị buộc phải giao cho Nhà Nước xử dụng cho đến ngày nay. Cũng từ đó, Đức Giám mục Giáo phận Phêrô Maria phải chuyển đến lưu trú tại Nhà xứ Giáo xứ Chính Ṭa một thời gian ngắn, rồi được đưa về an dưỡng tại Giáo xứ Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu cho tới khi qua đời. Tuy vẫn là Giám mục Giáo phận cho đến phút cuối đời, nhưng thực sự kể từ khi phải về an trí tại Trà Kiệu, công việc điều hành giáo phận hầu như được giao phó cho Đức Cha Phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách.

Đức Cha Phanxicô Xaviê, Giám mục Phó với quyền kế vị, trở thành Giám mục Chính Toà thứ 2 của Giáo phận Đà Nẵng vào ngày 21/01/1988, ngày Đức Giám mục Tiên khởi Phêrô Maria được Chúa gọi về.

Trước hết, do t́nh trạng bị hạn chế hoạt động của Đức Cha Phêrô Maria trong việc điều hành Giáo phận, nhiều công việc mục vụ, nhất là việc các cuộc thăm viếng và ban các bí tích Thêm sức đều do Đức Cha Phó đảm nhiệm. T́nh trạng thiếu hụt linh mục thực sự ảnh hưởng đến mọi sinh hoạt của giáo phận. Cho đến năm 1993, Giáo phận chỉ có 49 linh mục, nghĩa là đă có hơn ½ số linh mục trước đây đă thuyên chuyển đến các giáo phận khác hoặc qua đời từ tháng 4 năm 1975.

T́nh trạng các giáo xứ cũng nhiều biến động. Một số đông giáo hữu đă di dân đến nhiều vùng miền khác ở miền nam và cao nguyên để sinh sống, một số khác hồi cư về các miền quê ở Quảng Nam, đối mặt với những khó khăn cả vật chất lẫn tinh thần, không ít người đă phải xa nhà thờ, xa Giáo Hội v́ nhiều lư do khác nhau. T́nh trạng này đă xóa sổ một số giáo xứ được thiết lập trong chiến tranh, đa số nằm ở vùng ven thành phố Đà Nẵng về phía bắc giáo phận, và bù lại, một số giáo xứ khác vốn bị xóa tên trong thời kỳ chiến tranh, nay được tái lập. Tổng số giáo dân đă sụt giảm đáng kể, từ con số 94.580 người vào đầu năm 1975, nay chỉ c̣n khoảng 40.000 người vào năm 1976, và nhích lên 46.000 người theo thống kê năm 1993. Tổng số giáo xứ lúc này là 36, thuộc 4 giáo hạt.

Những qui định và hạn chế liên quan đến việc đào tạo, phong chức thuyên chuyển và bổ nhiệm linh mục, tập trung huấn luyện và sinh hoạt giáo lư, đoàn thể… cũng gây ra sự thiếu hụt về nhân sự. Các hoạt động tôn giáo mang tính công cộng và tập trung đều khó có thể thực hiện trong giai đoạn này. Nhân sự cho lănh vực tông đồ giáo dân như chức việc giáo xứ, giáo lư viên, trưởng các đoàn giới… cũng rất hạn chế. Phần đông là thành viên cựu trào của các đoàn thể trước năm 1975. Tuy vậy, v́ nhu cầu cấp bách từ các xứ đạo, đặc biệt cho việc dạy giáo lư tại các xứ đạo có nhiều họ nhánh ở vùng quê xa, cũng đă h́nh thành một cách âm thầm và kiên tŕ các “khóa” đào tạo bằng nhiều h́nh thức tại các giáo xứ hoặc giáo hạt. Các lớp giáo lư cũng bắt đầu được tái lập. Đặc biệt, từ năm 1992, Ban Giáo lư Giáo phận được tái lập do Cha Antôn Trần Văn Trường phụ trách, việc đào tạo giáo lư viên cũng như các thành viên tông đồ giáo dân khác được tái khởi động.

Một biến cố đáng nhớ trong giai đoạn này là vào những ngày đầu tháng 01 năm 1988, Cha Phanxicô Xaviê Đặng Đ́nh Canh và Giuse Vũ Dần là hai linh mục cuối cùng của Giáo phận được rời trại cải tạo sau tṛn 13 năm bị giam giữ. Cũng trong thời gian này, ngày 10/01/1988, Cha Giuse Nguyễn Trí Dũng được thụ phong linh mục tại Nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng, sau 13 năm Giáo phận vắng bóng tân linh mục. Từ đó về sau, hầu như hằng năm đều có lễ phong chức. Năm 1989 thêm 2 tân linh mục, năm 1990 được 3 vị, năm 1991 có 1 vị, năm 1992 thêm 3 vị. Từ năm 1993 đến năm 1998, mỗi năm thêm 01 vị.

Ngày 21/01/1988, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Giám mục Tiên khởi của Giáo phận từ trần tại Trà Kiệu, hưởng thọ 80 tuổi. Tang lễ Đức Cố Giám mục được tổ chức tại Giáo xứ Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu vào ngày 23.01.1988, với sự tham dự của hàng ngàn giáo dân và nhất là sự hiện diện của 5 vị Giám mục miền Trung: Đức Cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, TGM Huế, Đức Cha Stêphanô Nguyễn Như Thể, Phó TGM Huế, Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Qui Nhơn, Đức Cha Alexis Phạm Văn Lộc, Giám mục Kontum, Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung, Giám mục Phó Kontum, cùng đồng tế với Đức Cha P.X. Nguyễn Quang Sách, Giám mục Đà Nẵng. Tất cả những vị này cũng “t́nh cờ” có mặt bên giường bệnh của Ngài vào giờ hấp hối và lâm chung trước đó 2 ngày, v́ một cuộc họp về việc phong thánh cuối cùng bị huỷ bỏ. Đức Cha Phêrô Maria được an táng với một ngôi mộ đơn sơ tại Vườn Nghĩa, trong khuôn viên Nhà thờ Trà Kiệu, nơi Đức Mẹ đă hiện ra vào năm 1885, bên cạnh những anh em linh mục của ḿnh.

Cũng vào năm 1988 này, Giáo phận đón tiếp Đức Hồng Y Roger Etchegaray, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đến viếng thăm một số Giáo phận tại Việt Nam. Chuyến viếng thăm của Ngài mở đầu cho những thay đổi tích cực hơn về chính sách tôn giáo tại Giáo Hội Việt Nam. Giữa những khó khăn về đời sống đức tin, Ngài đă lớn tiếng kêu gọi người giáo dân Việt Nam: “Chúa trồng chúng ta ở đâu, chúng ta hăy nở hoa nơi ấy”. Và ngày 19/6/1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă phong thánh cho 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam tại Quảng trường Thánh Phêrô như một tuyên dương tinh thần sống đức tin của Dân Việt qua các thời đại, đồng thời cũng khích lệ Dân Chúa tại Việt Nam sống đức tin cách kiên cường giữa mọi gian nan thử thách trong thời hiện đại.

Đức Cha Ph.X. Nguyễn Quang Sách, trong bài giảng Thánh lễ Tạ ơn ngày 18.01.1993, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo phận, với sự hiện diện đáng quư của 2 Đức Cha Phaolô Huỳnh Đông Các, Giám mục Qui Nhơn và Đức Cha Phêrô Trần Thanh Chung, Giám msục Kontum, đă chia sẻ : “Điều đáng mừng là rất nhiều gia đ́nh, lâu nay v́ lư do chủ quan hay khách quan, đă ngưng sinh hoạt tôn giáo, th́ nay từng nhóm xin sinh hoạt trở lại. Bên cạnh đó, điều ưu tư của Ṭa Giám mục mong đợi chính quyền tạo điều kiện cho những nơi có những nhóm đông người trở lại được phép xây dựng nhà nguyện để có nơi tập họp, kinh lễ… và có thêm linh mục để chăm sóc phần hồn cho họ…” (Trích trong Lịch Giáo phận Đà Nẵng Mừng 30 năm thành lập, tập II, trang III).

3. Từ năm 1993 đến nay

a/ Nhân sự và đào tạo:

Mừng 30 tuổi, tuổi “tam thập nhi lập”, Giáo phận chuyển sang một giai đoạn mới. Đất nước cũng bắt đầu chuyển sang thời kỳ “đổi mới”, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh hoạt tôn giáo.

Ngày 29/6/2000, Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh được tấn phong Giám mục phó tại Nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng và trở thành Giám mục Chính Ṭa thứ 3 của Giáo phận vào ngày 06.11.2000, thay thế Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách, đến tuổi nghỉ hưu theo giáo luật. Sáu năm sau, việc cai quản Giáo phận bước sang thời kỳ “chuyển giao thế hệ”, khi Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri được bổ nhiệm làm Giám mục Chính Toà thứ 4 của Giáo phận ở tuổi 50, thay thế Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh cũng vừa đến tuổi nghỉ hưu. Lễ tấn phong và nhiệm chức của Ngài được tổ chức ngày 04/8/2006.

Việc phong chức và bổ nhiệm các linh mục dần dần đi vào ổn định và diễn ra đều đặn hằng năm. Gần 20 năm bị đóng cửa, năm 1994, Đại Chủng viện Huế được chiêu sinh khoá đầu tiên cho ba Giáo phận Huế, Đà Nẵng và Kontum, nên từ Năm Thánh 2000, mỗi năm Giáo phận đều có một khoá ra trường. Năm 2000 có 6 Tân Linh mục, năm 2001 có 8 vị, năm 2003 có 13 vị, năm 2006 có 5 vị, năm 2007 có 2 vị, năm 2008 có 4 vị, năm 2009 có 1 vị và ngày 11.6.2010, dịp bế mạc Năm Linh Mục, có thêm 5 Tân Linh mục. Trong ṿng 10 năm kể từ Năm Thánh 2000 đến nay, Giáo phận có thêm 44 tân linh mục, nghĩa là xấp xỉ bằng con số linh mục phục vụ trong Giáo phận trong những năm “khô khan” trước đó. Tạ ơn Chúa.

Không những số Tân Linh mục dần dần đáp ứng nhu cầu thiếu hụt trầm trọng trước đây, mà Giáo phận cũng bắt đầu có thể gửi linh mục đi tu nghiệp nước ngoài. Năm 1994, hai linh mục đầu tiên được gửi đi học tại Pháp, năm 1998 thêm hai cha nữa cũng đi Pháp. Từ năm 2000 đến năm 2010, có tất cả 8 linh mục được gửi sang tu nghiệp tại Phi-luật-tân. Từ năm 2007, thêm 01 linh mục nữa được gửi đi Pháp và 02 vị được gửi sang học tại Giáo Đô Rôma. Ngoài ra, c̣n có 5 linh mục khác thuộc Giáo phận nhưng nhập Tu hội Xuân Bích và được lần lượt gửi đi Pháp đào tạo chuyên biệt để về giảng dạy trong Chúng viện sau này. Hiện nay, cũng có 2 cha đang học sinh ngữ tại TPHCM chuẩn bị đi tu nghiệp.

Ngoài việc con số linh mục Giáo phận được gia tăng đáng kể, Giáo phận c̣n mời gọi các tu sĩ linh mục thuộc các hội ḍng nam ngoài Giáo phận đến cộng tác mục vụ truyền giáo trong địa bàn Giáo phận. Cho đến nay, Giáo phận đă kư hợp đồng mục vụ với 04 Hội ḍng. Trong năm 2010, Ḍng Chúa Cứu Thế nhận phục vụ tại Giáo xứ Tiên Phước, Ḍng Ngôi Lời nhận Giáo xứ Trung Phước, Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn nhận Giáo xứ Hội Yên, và trong năm 2011 này, Ḍng Thánh Thể chính thức nhận Trung tâm Mục vụ Di dân tại Giáo họ An Ngăi Đông. Ngoài ra, c̣n có linh mục tu sĩ thuộc các Ḍng Đaminh, Ḍng Tên, Ḍng Đồng Công, Ḍng Augustinô cũng đă hiện diện và cộng tác mục vụ với Giáo phận tại các xứ họ đạo gần xa.

Từ khi Đại Chủng viện Huế mở cửa nhận chủng sinh vào năm 1994, th́ tại Giáo phận, việc thi tuyển và huấn luyện các dự tu cũng được tổ chức thay cho Tiểu Chủng viện ngày trước. Hằng năm, các khoá thi tuyển dự tu và tiền dự tu được tổ chức đều đặn. Cuộc thi tiền dự tu nhằm tuyển chọn các học sinh của những năm cuối bậc trung học, được chăm sóc tại gia đ́nh và giáo xứ, cho đến khi thi đậu vào trường đại học hay cao đẳng, sẽ trở thành dự tu, và được tập trung về chăm sóc tại Giáo phận. Cuộc thi tuyển dự tu nhằm tuyển chọn các em đang học đại học hay cao đẳng có ước nguyện làm linh mục giáo phận, và nếu trúng tuyển, cũng được qui tụ về những trung tâm dự tu của Giáo phận. Măn đại học hay cao đẳng, các dự tu sẽ theo học lớp dự bị thêm 1,2 năm nữa trước khi được gửi ra Đại Chủng viện.

Từ năm 1995, các dự tu sống tập trung tại một số giáo xứ nội thành Đà Nẵng như Ḥa Khánh, Hoà Thuận, Tam Ṭa, Chính Ṭa để dễ dàng theo học các trường cũng như có điều kiện sinh hoạt cộng đoàn. Năm 1997, Giáo phận thành lập Ban Ơn gọi và xây dựng một Trung tâm dự tu tại Giáo xứ Ngọc Quang để qui tụ các dự tu về một địa điểm duy nhất, sinh hoạt mục vụ và phụng vụ chung với Giáo xứ Ngọc Quang, với Cha đặc trách cũng là Cha Quản xứ. Từ niên học 2008, Đức Giám mục Giáo phận đă tách nhóm dự tu ra khỏi Giáo xứ Ngọc Quang, và chuyển về Trung tâm Mục vụ Giáo phận, bổ nhiệm ban Giám đốc riêng. Đầu niên học 2010, Đức Giám mục Giáo phận đă chính thức lập cộng đoàn dự tu Giáo phận với Thánh hiệu Gioan Tông đồ, và sinh hoạt như một Tiểu Chủng viện. Hằng ngày, ngoài giờ học tại các trường đại học, cao đẳng, các dự tu c̣n được học thêm những bộ môn cần thiết chuẩn bị cho đời chủng sinh trong tương lai và thực tập mục vụ ở các xứ họ đạo lân cận. Sau khi tốt nghiệp đại học, các dự tu này theo học lớp dự bị trong 1 hoặc 2 năm trước khi vào Đại Chủng viện. Từ nền móng đào tạo này, hiện nay Giáo phận có 21 chủng sinh đang học Đại Chủng viện Huế, 12 chủng sinh thực tập mục vụ, 49 dự tu đă tốt nghiệp hoặc đang học đại học hay cao đẳng và khá đông các em tiền dự tu đang học trung học.

Song song với ơn gọi linh mục giáo phận, vào ngày cầu nguyện cho Ơn Thiên Triệu hằng năm, Ban Ơn Gọi của Giáo phận cũng tổ chức cho các thanh thiếu niên nam nữ có điều kiện t́m hiểu các ḍng tu trong một ngày hội quảng bá các ḍng tu trong và ngoài Giáo phận. Đă có nhiều ơn gọi các ḍng khởi đầu từ những ngày hội Ơn Gọi này, cung cấp nhân sự cho các ḍng tu nam nữ.

Giáo phận trẻ Đà Nẵng không có ḍng giáo phận, nên Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng được xem như “con ruột” trong gia đ́nh Giáo phận. Đồng hành với Giáo phận trong một lịch sử thăng trầm, Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng cũng đă vươn ḿnh lên từ những khó khăn và hạn chế nhất định. Tỉnh Ḍng ngày nay với số tu sĩ, khấn sinh, tập sinh và thỉnh sinh lên tới con số 500 người, phục vụ trong 13 Giáo phận miền Bắc và miền Trung Việt Nam, với khoảng 50 chị em dấn thân truyền giáo ở nước ngoài. Tỉnh Ḍng đă vươn tới khá xa trong công tác giáo dục và bác ái xă hội với hàng chục trường mầm non, khu nội trú, trường khuyết tật, nhà dưỡng lăo, nhà hộ sinh, pḥng khám bệnh và phát thuốc… Tháng 01 năm 2010, Tỉnh Ḍng mừng 50 năm thành lập. Dịp này, Tỉnh Ḍng đă chia sẻ nhân sự để chính thức tái lập Miền Ḍng tiền thân cho Tỉnh Ḍng Phaolô Hà Nội được hồi sinh sau hơn 50 năm “thoi thóp”.

Cùng góp phần cộng tác mục vụ tại Giáo phận Đà Nẵng hiện nay bên cạnh Ḍng Thánh Phaolô, c̣n có Ḍng Mến Thánh Giá Qui Nhơn (03 cộng đoàn), Ḍng Mến Thánh Giá Huế (02 cộng đoàn), Ḍng Đi Viếng Huế (02 cộng đoàn), Ḍng Vô Nhiễm Huế ( 01 cộng đoàn). Giáo phận Đà Nẵng tiếp tục mời gọi các hội ḍng đến cộng tác mục vụ, đặc biệt tại những vùng trung du đất rộng dân thưa, điều kiện kinh tế và văn hoá xă hội c̣n nhiều khó khăn hạn chế.

Mục vụ huấn giáo cũng đă được chú trọng. Từ những năm 90 hoặc sớm hơn nữa, các giáo xứ bắt đầu tổ chức các lớp giáo lư Chúa Nhật cho trẻ em, xây dựng các pḥng giáo lư mới, v́ các trường tư thục công giáo trước đây không c̣n có thể xử dụng chung cho việc dạy và học giáo lư nữa khi nhà nước đang quản lư xử dụng. Chương tŕnh đào tạo các giảng viên giáo lư phát triển mạnh, dưới sự điều hành của Ban Giáo lư Giáo phận. Từ năm 1996 đến năm 2000 đă tổ chức 16 khóa, mỗi khóa học kéo dài vài tuần lễ, số học viên tham dự cũng rất đông. Chương tŕnh Giáo lư cho giai đoạn này được soạn thảo cho từng đối tượng: chuẩn bị nhận Bí tích Thánh Thể và Thêm sức cho trẻ em, cũng như cho dự ṭng và chuẩn bị hôn nhân. Để chuẩn bị cho Năm Thánh 2000 theo tinh thần chung của toàn thể Giáo Hội, Ban Giáo lư Giáo phận đă dọn chương tŕnh giáo lư cho người lớn trong 3 năm liên tiếp: Năm 1997, học về Chúa Kitô; năm 1998, học về Chúa Thánh Thần; năm 1999, học về Chúa Cha.

Thống kê Giáo phận cho thấy con số học viên giáo lư liên tục gia tăng đều ở tất cả các chương tŕnh : giáo lư trẻ em, giáo lư dự ṭng và giáo lư hôn nhân. Nhưng bên cạnh đó, việc tuyển chọn và huấn luyện giáo lư viên mỗi ngày thêm khó khăn do công ăn việc làm trong xă hội công nghiệp, chế độ ngày nghỉ cuối tuần làm cho thời giờ trở nên hạn hẹp, khó có thể tập trung huấn luyện dài ngày. Bắt đầu từ giai đoạn này, các Giáo hạt và Giáo xứ đảm trách vấn đề huấn luyện nhiều hơn, thường được tổ chức vào ban đêm thay v́ ban ngày.

Bên cạnh việc đào tạo giáo lư viên, Giáo phận rồi các Giáo hạt cũng thường xuyên tổ chức những khoá học hỏi hay tĩnh huấn cho các Hội đồng mục vụ. Các đoàn thể Công giáo Tiến hành trước đây và nhiều hội đoàn được hồi sinh, các Phong trào Tông đồ Giáo dân được thiết lập. Đặc biệt, để hỗ trợ cho việc học giáo lư, huấn luyện đức tin và nhân bản cho giới thiếu nhi, ngày 01/7/2011, đúng vào dịp lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Quan Thầy Giáo phận, Đức Cha Giuse đă chính thức quyết định tái lập Liên đoàn Hùng Tâm Dũng Chí Giáo phận với thánh hiệu là Thánh Linh, sau hơn 3 năm chuẩn bị và 35 năm ngừng sinh hoạt, dựa vào tinh thần và ḷng nhiệt thành của các cựu huynh trưởng và các cha cựu tuyên uư phong trào trước đây. Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Ngọc Hiến được đặt làm tuyên uư phong trào cấp Giáo phận. Một năm trước đó, vào ngày 06/6/2010, Liên đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo phận cũng đă được Đức Cha Giuse công bố quyết định thành lập với thánh hiệu là Thánh Tâm sau hơn 2 năm chuẩn bị, với Cha Marcellô Đoàn Minh làm tuyên uư Liên đoàn.

Bên cạnh hai Liên đoàn Hùng Tâm Dũng Chí và Thiếu Nhi Thánh Thể đang hoạt động tại các Giáo xứ, phong trào Hướng đạo sinh Công giáo với Cha Phêrô Nguyễn Ngọc Phi làm tuyên uư, cũng góp phần đáng kể trong việc giáo dục thanh thiếu niên trrong giai đoạn mới này.

Nói đến việc giáo dục đức tin cho Dân Chúa trong giai đoạn này, không thể không nói đến chương tŕnh “Giáo lư Cộng đồng” đă được Đức Giám mục Giáo phận phát động từ đầu năm Phụng vụ 2010, Năm Thánh của Giáo Hội Việt Nam, và cũng để đưa Giáo phận bước vào 3 năm chuẩn bị mừng Kim Khánh Giáo phận vào ănm 2013.

Khởi đi từ những thao thức làm thế nào để có thể tổ chức việc học giáo lư cho người trưởng thành theo ư Giáo Hội, để giúp họ sống đức tin vững vàng hơn và có thể chuyển giao đức tin cho các thế hệ tương lai, Giáo phận đă chọn cuốn “Toát yếu Giáo lư Hội Thánh Công giáo” do Thánh Bộ Giáo lư Đức Tin soạn thảo và Uỷ ban Giáo lư Đức Tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam chuyển ngữ và phát hành làm thủ bản. Toàn bộ 598 câu hỏi thưa trong 4 phần của sách giáo lư này được chia đều cho một chu kỳ 3 năm gồm 150 tuần lễ, trung b́nh mỗi tuần trung b́nh 4 câu, được in vào lịch Phụng vụ và học hỏi đồng bộ trong toàn Giáo phận, đặc biệt trong các Thánh lễ đông đảo ngày Chúa Nhật. Một ban giáo lư gồm các linh mục và tu sĩ được phân công soạn những bài giáo lư cắt nghĩa những câu gốc này cho giới thiếu nhi, giới trẻ, cho cộng đồng và đặc biệt là đầy đủ hơn cho nhóm Tông đồ Giáo dân.

Nếu được quan tâm đúng mức, chương tŕnh sẽ cổ vơ việc học giáo lư trong các gia đ́nh vào giờ kinh tối mỗi ngày, trong các đoàn thể và hội đoàn khi họp hội, nhất là với lớp giáo lư Tông đồ Giáo dân được tổ chức đều đặn mỗi tuần một giờ tại các xứ đạo, chương tŕnh sẽ đáp ứng cách căn bản và lâu dài cho việc huấn luyện tông đồ giáo dân, nhất là đội ngũ giáo lư viên trong cộng đoàn của ḿnh.

Chương tŕnh này cũng đă được phát động cách mạnh mẽ trong giới sinh viên Công giáo tại Đà Nẵng như nội dung ṇng cốt của những cuộc hội họp hay gặp gỡ hằng tuần, để nâng đỡ củng cố đời sống đức tin và đồng hành với các em trong những năm vất vă và đầy thách thức ở ghế giảng đường đại học.

Để tạo ngân quỹ hỗ trợ cho công cuộc đào tạo của giáo phận, nhân chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Đức Giám mục Tiên khởi Giáo phận – 14/5/1909, ngày 14 tháng 5 năm 2007, Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri đă phát động chương tŕnh thành lập một ngân quỹ dành cho việc giáo dục mang tên: “Quỹ Giáo dục Phạm Ngọc Chi”, và 2 năm sau, đúng ngày 14 tháng 5 năm 2009, Quỹ này chính thức được công bố tại Trà Kiệu và bắt đầu đi vào hoạt động. Được công bố thành lập đúng vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, Quỹ chưa được nhân rộng, nhưng hy vọng trong tương lai, với đức độ và công nghiệp của Đức Cố Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, Quỹ sẽ được nhiều người tiếp tay hỗ trợ, để sự nghiệp giáo dục mà Ngài đă thao thức và đầu tư cho Giáo phận trong những năm tháng mới khai sinh, được sinh hoa kết trái trong thời buổi của chúng ta hôm nay, khi Giáo phận chuẩn bị bước vào tuổi 50 vào năm 2013.

Kết quả của những nỗ lực mục vụ truyền giáo của Giáo phận không thể tính toán bằng con số, nhưng phải nh́n nhận rằng, sau những đợt di dân ồ ạt của giáo dân vào miền Nam vào những năm 1972, 1975 và những năm kế tiếp, con số giáo dân cũng gia tăng đáng kể : từ 45.236 người vào năm 1993 đến năm 2011, con số giáo dân được thống kê là 68.628 người.

Khi Thành phố Đà Nẵng trở thành đô thị loại I trực thuộc trung ương, công cuộc đô thị hoá và công nghiệp hoá đă ảnh hưởng rất nhiều đến tâm thức và cung cách sống đạo của giáo dân. Một số giáo xứ phải chuyển đổi nghề nghiệp, thay đổi chỗ ở do di dời giải toả. Bó lưới bỏ thuyền gần như hoàn toàn tại các giáo xứ như Thanh Đức, Nhượng Nghĩa, Ngọc Quang, Gia Phước, Tam Toà… Mất ruộng mất vườn tại các giáo xứ như An Ngăi, Cồn Dầu, Phú Thượng … Các xứ đạo thuộc tỉnh Quảng Nam th́ hầu như không c̣n bao nhiêu giới trẻ. Hầu hết phải bỏ quê hương đi đến Đà Nẵng hay các thành phố lớn khác để học hành hoặc mưu sinh. Điều này đ̣i hỏi các cộng đoàn xứ đạo nhiều cố gắng và nỗ lực thích nghi, đồng thời nhận ra bên cạnh những hoàn cảnh bất lợi trước mắt, cũng tiềm tàng nhiều cơ hội cho tương lai, về phương diện trần thế cũng như sứ vụ thiêng liêng, là sống và làm chứng cho Tin Mừng.

Bên cạnh đó, địa bàn Giáo phận cũng đón nhận người nhập cư từ khắp nơi đến học hành và làm ăn, cùng với hàng trăm ngàn du khách mỗi năm đến tham quan du lịch, đặc biệt là tại hai khu di sản văn hoá thế giới Hội An và Mỹ Sơn, cũng như Thành phố biển Đà Nẵng. Giáo phận bắt đầu quan tâm cụ thể đến lănh vực mục vụ này, như thành lập và đồng hành với các nhóm sinh viên Công giáo tại Thành phố Đà Nẵng từ năm 1995, tổ chức Thánh Lễ tiếng Anh vào mỗi ngày Chúa Nhật bắt đầu từ Lễ Giáng Sinh năm 2006, thành lập thêm Giáo Hạt Hội An bao gồm các giáo xứ ven biển rất sầm uất về ngành du lịch vào năm 2007, thành lập Trung tâm Mục vụ Di dân tại Giáo họ An Ngăi Đông gần Khu công nghiệp Hoà Khánh năm 2009.

b/ Thành lập các Giáo hạt, Giáo xứ , Giáo họ mới :

Nhờ những lớp linh mục trẻ liên tiếp xuất thân từ Đại chủng viện Huế trong những năm qua và sự cộng tác mục vụ của các linh mục tu sĩ, Giáo phận đă có thể tái lập hoặc tách thêm một số Giáo xứ.

- Năm 2005 tái lập Giáo xứ Trung Phước.

- Năm 2006, Giáo xứ Tam Thành được tách ra từ Tam Kỳ.

- Năm 2007, Giáo xứ Hoà Lâm từ Giáo xứ Trà Kiệu.

- Năm 2007, An Thượng được nâng lên thành Giáo xứ.

- Năm 2008, Giáo xứ Phú Hạ tách từ Phú Thượng.

- Năm 2009, Giáo xứ Hội Yên tách từ Giáo xứ An Ngăi.

- Năm 2009, tái lập Giáo xứ La Nang.

- Năm 2009, thiết lập điểm truyền giáo Tam Mỹ

- Năm 2010, thiết lập 3 Giáo họ biệt lập Đông Vinh, Ô Gia và An Ngăi Đông. Cha Quản nhiệm Ô Gia là Giuse Ngô Tấn Lực thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế phải đi nghỉ bệnh, nên Ô Gia trở lại thuộc quyền chăm sóc của Cha Quản xứ Phú Hương.

V́ nhu cầu mục vụ, năm 2007, Đức Cha Giuse đă thiết lập thêm Giáo hạt mới Trà Kiệu, bao gồm các Giáo xứ thuộc Giáo hạt Hội An cũ, và Giáo hạt Hội An từ nay bao gồm các Giáo xứ nằm trên bán đảo Sơn Trà, cộng thêm hai Giáo xứ Cồn Dầu và Vĩnh Điện.

c/ Việc truyền giáo tại các vùng đất mới :

Dưới thời Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh, với sự phát triển của đường Trường Sơn, những vùng đất phía tây Giáo phận thuộc địa bàn Tỉnh Quảng Nam được quan tâm đặc biệt. Đích thân Đức Giám mục và các linh mục quản xứ kế cận đă thực hiện những cuộc viếng thăm mục vụ định kỳ, qui tụ dâng thánh lễ cho giáo dân sống rải rác tại các huyện Đồng Giang, Tây Giang, Nam Giang. Đa số giáo dân ở đây thuộc các giáo phận miền Bắc vào làm ăn hoặc lập nghiệp. Khoảng 60 ngàn đồng bào dân tộc Ca-tu sống rải rác trên các huyện vùng trung du này, nhưng Tin Mừng chưa đến được với họ.

Để đáp ứng nhu cầu mục vụ hiện tại và việc mở mang cánh đồng truyền giáo tại vùng đất rộng dân thưa này, Giáo phận đă giao việc chăm sóc mục vụ một số giáo xứ cho các ḍng tu có linh đạo truyền giáo. Ḍng Chúa Cứu Thế đă nhận Giáo xứ Tiên Phước, Ḍng Ngôi Lời nhận chăm sóc Giáo xứ Trung Phước, và Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn nhận tân Giáo xứ Hội Yên. Hy vọng với đời sống cộng đoàn, việc mục vụ truyền giáo tại vùng đất này sẽ đạt được những kết quả mỹ măn hơn.

d/ Các biến cố quan trọng:

- Năm 1994, Đại Chủng viện Huế được phép mở cửa đón nhận chủng sinh thuộc 3 Giáo phận Huế, Đà Nẵng và Kontum. Việc đào tạo tại đây tiếp tục được giao cho các Cha thuộc Tu hội Xuân Bích.

- Năm 1995, tṛn 380 năm Tin Mừng đến với vùng đất Đà Nẵng, cũng là năm thành lập cộng đoàn Công giáo đầu tiên tại Hội An (1615)

- Năm 1996, Ḍng Thánh Phaolô kỷ niệm 300 năm thiết lập (1696).

- Cùng với Hội Thánh toàn cầu, Giáo phận cử hành Đại Năm Thánh 2000, bắt đầu từ năm 1997, với nhiều cử hành long trọng và hoạt động mục vụ sôi nổi. Ban Năm Thánh của Giáo phận khai triển cho các thành phần dân Chúa sống Năm Thánh về các phương diện: học hỏi và suy niệm Năm Thánh 2000, sống Năm Thánh trong phụng vụ, sống Năm Thánh trong đời thường. Giáo phận cũng mở 5 điểm hành hương, mỗi nơi mang một sắc thái và chủ đề riêng: Giáo xứ Trà Kiệu diễn tả sắc thái Bêlem với chủ đề Maria mầu nhiệm nhập thể; Giáo xứ Tam Kỳ, sắc thái Nazareth với chủ đề sống bác ái, chia sẻ, phát triển cộng đồng; Giáo xứ Hội An, sắc thái cuộc đời rao giảng Tin mừng của Đức Kitô với chủ đề lịch sử rao giảng Tin mừng; Giáo xứ An Ngăi, sắc thái Giêrusalem với chủ đề Mầu nhiệm tử nạn; Giáo xứ Chính Ṭa, sắc thái Giêrusalem với chủ đề Mầu nhiệm Phục sinh.

- Ngày 05/3, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đă phong Chân Phước cho Thầy Giảng Anrê Phú Yên, người chứng thứ nhất trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, đă nhận phúc tử đạo tại làng Phước Kiều, thuộc Giáo xứ Hội An.

- Ngày 06/6, mừng Ngân Khánh Giám mục của Đức Cha P.X. Nguyễn Quang Sách, với lễ phong chức 4 tân linh mục khóa I, hoa quả đầu mùa của Đại Chủng viện Huế thời tái lập.

- Ngày 30/6, Cha Giám đốc Đại Chủng viện Huế Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh thuộc Tu Hội Xuân Bích được tấn phong Giám mục Phó tại Nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng. Ngài chọn khẩu hiệu “Khiêm tốn phục vụ”. Hơn 4 tháng sau, ngày 06/11, Ngài chính thức nhận quyền Giám mục Chính ṭa thứ 3 của Giáo phận thay Đức Cha Phanxicô Xaviê đến tuổi hưu dưỡng.

- Năm 2003, Giáo phận mừng sinh nhất thứ 40, với lễ phong chức cho 13 tân linh mục tại Giáo xứ Thanh Đức, con số kỷ lục trong lịch sử Giáo phận Đà Nẵng.

- Ngày 18/6/2004, Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Quan Thầy Giáo phận, Đức Cha Phaolô Tịnh cử hành thánh lễ khởi công xây dựng công tŕnh Ṭa Giám mục mới - nay là Trung tâm Mục vụ của Giáo phận, trên diện tích 9.000m2 được thành phố Đà Nẵng cấp tại Phường Phước Mỹ, Quận Sơn Trà. Khi công tŕnh đang trong tiến tŕnh hoàn thành, cơn băo Xangsane lịch sử đă đổ bộ vào trung tâm thành phố Đà Nẵng vào ngày 01/10/2006, làm thiệt hại nặng nề nhiều công tŕnh công cộng và tài sản, nhà cửa của dân chúng, cũng như nhà thờ nhà xứ và chính công tŕnh đang xây dựng. Công tŕnh phải tạm dừng lại để tập trung công sức cho việc cứu trợ và phục hồi sau băo. Vào những tháng cuối năm 2011 này, công tŕnh mới được tiếp tục và hy vọng hoàn thành vào mùa hè năm 2012.

- Ngày 13/5/2006, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI bổ nhiệm Cha Giuse Châu Ngọc Tri, Quản xứ Trà Kiệu, Hạt trưởng Hội An làm Giám mục Chính Toà Đà Nẵng. Ngày 04/8/2006, Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri được tấn phong tại Nhà thờ Chính Toà và cũng trong ngày này, Ngài chính thức nhiệm chức Giám mục Chính ṭa thứ 4 của Giáo phận Đà Nẵng, thay thế Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh được Toà Thánh cho nghỉ hưu v́ tuổi tác. Đức Tân Giám mục chọn khẩu hiệu: “Trời mới, Đất mới”.

- Ngày 08/8/2006, Giáo phận mừng Kim Khánh Linh Mục của Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách trong bầu khí đơn sơ gia đ́nh.

- Ngày 26/7/2007, Đức Giám mục Giáo phận đă nâng Nhà thờ Giáo họ Phước Kiều lên thành Đền Thánh Phước Kiều, dâng kính Chân phước Anrê Phú Yên. Đền Thánh và khuôn viên được tôn tạo, nới rộng để đáp ứng nhu cầu hành hương và cử hành đại lễ hằng năm nơi đây, cũng như việc kiến thiết một Đền Thánh mới cho tương lai, khi Chân phước được tôn phong hiển thánh.

- Ngày 14/5/2009, Giáo phận tổ chức mừng kỷ niệm đúng100 năm ngày sinh của Đức Giám mục Tiên khởi Giáo phận Đà Nẵng, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi. Đêm diễn nguyện “T́nh Cha” được tổ chức tại sân Nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng. Các thành phần Dân Chúa nhắc lại công đức của Ngài và nói lên ḷng biết ơn đối với người chủ chăn đă hết ḷng v́ đàn chiên. Thánh Lễ trọng thể được tổ chức ngày hôm sau tại sân Nhà thờ Trà Kiệu, nơi Ngài sống những năm cuối đời và an nghỉ tại đây. Trong dịp này, Đức Giám mục Giáo phận công bố thành lập “Quỹ Giáo dục Phạm Ngọc Chi”, để hỗ trợ các chương tŕnh giáo dục đức tin và văn hoá trong Giáo phận. Ca đoàn Giáo phận mang tên Phạm Ngọc Chi cũng được thành lập trong dịp này.

- Ngày 27/11/2009, tại Nhà thờ Chính Toà, Giáo phận khai mạc Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam, nhân kỷ niệm 350 năm thiết lập hai Giáo phận đầu tiên và 50 năm thiết lập hàng Giáo phẩm Việt Nam. Lễ khai mạc chung của Giáo Hội Việt Nam đă chính thức tổ chức tại Sở Kiện, TGP Hà Nội, vào ngày 24/11/2009, nhằm ngày kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong ngày này, Đức Giám mục Giáo phận cũng công bố chương tŕnh hành hương Năm Thánh 2010 cho từng Giáo xứ về Nhà thờ Chính Toà vào mỗi Chúa Nhật trong suốt Năm Thánh này. Cũng trong ngày này, Đức Giám mục Giáo phận đă công bố chương tŕnh “Giáo lư Cộng đồng” cho toàn Giáo phận. Từng giáo xứ và cộng đoàn đồng loạt học hỏi mỗi tuần một số câu giáo lư theo sách Toát yếu Giáo lư của Hội Thánh Công giáo được in trong lịch phụng vụ của Giáo phận. Mỗi chu kỳ là 3 năm, sẽ học hết 598 câu hỏi thưa trong sách này.

- Ngày 25/02/2010, Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng mừng Kim Khánh thành lập. Thánh lễ Tạ ơn được tổ chức tại Nhà thờ Chính Toà, với sự chủ toạ của Đức TGM Huế và các Đức Giám mục liên hệ, linh mục đoàn Giáo phận và đông đảo giáo dân thân hữu.

- Ngày 30/5/2010, Giáo phận tổ chức mừng Kim Khánh Linh Mục và 10 năm Giám mục của Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh tại Nhà thờ Chính Toà Đà Nẵng.

- Ngày 31/5/2010, một cuộc hành hương long trọng của toàn thể Giáo phận và khách thập phương về Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu nhân kỷ niệm 125 năm Đức Mẹ hiện ra tại đây.

- Từ ngày 06-13/9/2010, chuyến hành hương Thánh Địa đầu tiên được tổ chức cho một số các linh mục và giáo dân trong Giáo phận do chính Đức Giám mục Giáo phận dẫn đầu.

- Ngày 01/01/2011, Giáo phận tổ chức lễ bế mạc Năm Thánh 2010 tại Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu và tham dự Đại lễ bế mạc Năm Thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam tại Trung Tâm Thánh Mẫu La Vang vào ngày lễ Hiển Linh 06/01/2011.

- Ngày 05-06/9/2011, Đức Tổng Giám mục Leopoldo Girelli, Đại diện không thường trực của Toà Thánh đă viếng thăm Giáo phận Đà Nẵng. Ngài đă chủ sự Thánh Lễ tại Nhà thờ Chính Toà, tại Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu và Nhà nguyện các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô. Ngài đă viếng thăm các Giáo xứ Phú Thượng, Chính Toà, Hội An, Phước Kiều, Trà Kiệu và Tam Kỳ, tiếp xúc với các linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân, cũng như thăm viếng xă giao Uỷ Ban Nhân dân Thành phố Đà Nẵng.

e/ Việc xây dựng cơ sở sinh hoạt:

Nhiều nhà thờ bị xuống cấp do thời gian hoặc bị chiến tranh tàn phá nay lần lượt được trùng tu hoặc xây mới: Phước Ấm (1988), Chính Trạch, Nhượng Nghĩa (1991), An Trường, Ngọc Sơn (1992), Hà Lam, Hội Yên, Thuận Yên, (1993), Tam Kỳ, Phú Hương, Chiêm Sơn (1994), Ái Nghĩa, Lộc Ḥa, Thanh B́nh (1995), Hoằng Phước, Tam Thành, Hoà Trung (1996), La Nang, Mỹ Xuyên (1997), Tam Lộc, Trung Phước (1998), Thanh Đức, Ḥa Lâm, Hoà Cường (2000), An Ḥa, Phú Hạ, Tam Lănh (2001), Vân Đơa, Khánh Thọ, Vĩnh Điện (2002), Cẩm Lệ (2003), Hoà Ninh, Phú Thượng, Gia Phước, An Sơn, Cồn Dầu (2005), B́nh Phong (2006), An Thượng (2007), Trường An, Tam Mỹ (2008), Trà Kiệu, Phú Hương, Hà Tân, Kẻ Sen, Đại Hiệp (2010), Xuân Thạnh, Tam Kỳ, Tam Toà (2011) . Ngoài ra, nhiều cơ sở cần thiết cho các sinh hoạt giáo xứ như nhà xứ, pḥng giáo lư, nhà hội tại nhiều nơi cũng đă được tu sửa hoặc xây mới.

f/ Công cuộc Bác ái – Xă hội

Công tác bác ái – xă hội cũng được quan tâm thường xuyên, nhất là khi có thiên tai dịch bệnh. Giáo phận và các tổ chức Giáo Hội qua sự hỗ trợ của những người thành tâm thiện chí khắp nơi, đă hỗ trợ một số địa phương thuộc Tỉnh Quảng Nam xây dựng công tŕnh thuỷ lợi, các cơ sở y tế, giáo dục, làm đường giao thông, xây dựng cầu cống, hỗ trợ làm nhà, chương tŕnh nước sạch, mở lưu học xá, thành lập quỹ khuyến học, tổ chức tiếp sức mùa thi, quán cơm sinh viên… Từ năm 2009, tổ chức Caritas-Đà Nẵng được tái lập và đảm nhận các chương tŕnh bác ái-xă hội của Giáo phận một cách chu đáo bài bản và hữu hiệu hơn.

Một số chương tŕnh bác ái-xă hội do Giáo Hội đảm nhận đă và đang được thực hiện cách thường xuyên, cần sự tiếp tay của mọi người.

· Pḥng khám T́nh Thương:

Đặc biệt, để đáp ứng nhu cầu bệnh nhân nghèo về thành phố Đà Nẵng khám chữa bệnh, Giáo phận hợp lực với Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng mở một Pḥng Khám từ thiện để khám và chữa bệnh cho những bệnh nhân khó khăn, không nơi nương tựa. Pḥng Khám T́nh Thương này được khai trương ngày 15/6/2001, tọa lạc tại số 154 Trần Phú, Đà Nẵng, sát cạnh Toà Giám mục. Pḥng Khám có đội ngũ y-bác sĩ thiện nguyện khá hùng hậu và nhiệt thành, hoạt động đều đặn 3 ngày trong tuần, hằng năm đă khám bệnh và điều trị một số bệnh nhân đáng kể và được tín nhiệm. Ngoài ra, Pḥng Khám c̣n là cầu nối giữa các bệnh nhân nghèo và bệnh viện, để họ được chăm sóc cách chu đáo hơn, nhất là trong các trường hợp chuyên biệt. Để đén với các bệnh nhân ở vùng xa xôi hẻo lánh, Pḥng Khám T́nh Thương cũng đă định kỳ tổ chức các cuộc thăm khám bệnh và phát thuốc từ thiện tại các địa phương vùng sâu vùng xa, không những đem đến sức khoẻ, mà cả niềm vui cho những người thiệt tḥi nhất.

· Trại phong Ḥa Vân

Được thành lập và điều hành từ năm 1967 do một vị Mục sư người Canada, và từ sau năm 1975, thuộc sự quản lư của Nhà Nước. Năm 1995, trại phong có khoảng 100 gia đ́nh với 280 nhân khẩu. Giao thông cách trở từ đất liền đến trại khiến đời sống cư dân ở đây gặp nhiều khó khăn. Để hỗ trợ phần nào những khó khăn của trại và các bệnh nhân, Giáo phận đă lập ra các chương tŕnh và dự án nhằm tiếp nhận tiền bạc, vật dụng từ các ân nhân xa gần, rồi chuyển đến tận tay các bệnh nhân trong trại. Từ năm 1988, để thuận lợi cho việc đi lại, Ṭa Giám mục đă đặt đóng mới một chiếc thuyền máy tặng cho trại sử dụng. Những năm về sau, việc đi lại dễ dàng hơn, nên có nhiều phái đoàn từ thiện được hướng dẫn đến thăm và tặng quà cho bệnh nhân.

Bệnh nhân tại Trại Phong cần được được giúp đỡ nhiều phương diện, do đó, vài ba lần trong năm, Ṭa Giám mục thường kết hợp với Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng đến tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men, sách vở dụng cụ học sinh... và nhất là thực hiện các dự án dân sinh cho đồng bào trong trại: xây sửa nhà riêng, nhà công cộng, khu vệ sinh, hệ thống cầu đường, cổng ngơ tường rào... Không dừng lại ở đó, Ban Bác ái-xă hội Giáo phận cũng đă có những chương tŕnh hỗ trợ, giúp vốn cho người dân trong trại phát triển kinh tế như chăn nuôi, lập vườn, giúp con em trong trại ḥa nhập với cộng đồng qua việc trợ giúp học văn hóa, nghề nghiệp… Năm 1999, Ban BAXH Giáo phận đă xây dựng một lưu học xá diện tích 320 m2 gồm 2 khu vực riêng biệt cho nam nữ tại Ḥa Khánh, thu nhận và nuôi dưỡng khoảng 40 học sinh là con em bệnh nhân của trại. Năm 2001, qua sự hỗ trợ tài chánh của Hội Bạn Người Cùi tại California, Ban BAXH Giáo phận đă phát động chương tŕnh mua đất xây nhà ở giữa các khu dân cư để giúp các con em không mắc bệnh của bệnh nhân có cơ hội ḥa nhập cộng đồng. Mỗi trường hợp được giúp một ngân khoản từ 30 đến 40 triệu đồng để t́m mua đất ở bất cứ địa phương nào thuận tiện, và xây nhà ở. Như thế, con cái của họ được sống giữa cộng đồng xă hội một cách b́nh thường như mọi người, không hề chịu bất cứ một áp lực hoặc phân biệt đối xử nào. Đến nay, tất cả các gia đ́nh bệnh nhân có con em không mắc bệnh đều đă được giúp đỡ. Kết thúc chương tŕnh này, có 50 căn nhà đă được xây dựng từ Huế đến Quảng Ngăi.

Trại Phong Hoà Vân sẽ bị xoá sổ trong tương lai, thay thế bằng khu du lịch sinh thái cao cấp tại vùng đất này. Làng phong Hoà Vân tất cả sẽ được hoà nhập với cộng đồng dân cư, nhưng cũng đừng quên đồng hành với họ trong những năm tháng đầu ngỡ ngàng và những hạn chế nhất định với nếp sống đô thị nhiều khi họ không được tự do chọn lựa.

· Mái Ấm T́nh Thương

Là một cơ sở nhân đạo xă hội do các Nữ tu Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô Đà Nẵng xây dựng và điều hành, tiếp nhận và chăm sóc nuôi dưỡng những người già neo đơn, bất hạnh, tàn tật không nơi nương tựa. Mái Ấm chính thức hoạt động từ ngày 01/3/1996, tọa lạc tại số 18 đường Phan Tứ, Quận Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng. Mái Ấm T́nh Thương đă chăm sóc và nuôi dưỡng hàng chục cụ già và lo lắng cho các cụ cho đến cuối đời. Hiện nay có 40 cụ đang được chăm sóc tại đây trong bầu khí gia đ́nh.

· Nhóm Yêu Thương Phục Vụ (hoạt động pḥng chống HIV/AIDS)

Trước đại dịch HIV/AIDS lan tràn nhanh chóng ở Việt Nam nói chung và Thành phố Đà Nẵng nói riêng, với số người bị lây nhiễm ngày càng nhiều, tiếng gọi thôi thúc lên đường phục vụ những con người xấu số ấy lại càng tha thiết khẩn cấp hơn. Ngày 05/4/2008, với sự hiện diện của Đức Giám mục giáo phận, tại hội trường giáo xứ An Hải, nhóm Yêu thương Phục vụ ra đời và chính thức hoạt động. Như danh xưng của nhóm, các thiện nguyện viên vượt qua những thành kiến, khó khăn từ quan niệm chung và dư luận, t́m mọi cách để đến với những người nhiễm-bệnh, đồng hành và chia sẻ cảm thông nâng đỡ họ, giúp họ có thêm niềm tin hi vọng vui sống. Không những thế, nhóm c̣n đi xa hơn nữa bằng cách luôn ưu tiên công tác truyền thông cộng đồng, giúp mọi người hiểu được tính chất nguy hại của virus HIV và căn bệnh AIDS. Dù mới ra đời với những bước chập chững, nhưng nhờ sự đồng thuận giúp đỡ của nhiều nguồn và của cộng đồng dân Chúa, nhóm Yêu thương Phục vụ đă phát triển mau chóng với những thành quả ấn tượng bước đầu.

· Chương tŕnh “Căn Nhà Đồng Tâm”

Giáo phận Đà Nẵng nằm trong giải đất miềnTrung thường xuyên hứng chịu hậu quả khốc liệt của những cơn mưa băo hằng năm, trong khi ở vùng nông thôn và miền núi, một phần dân chúng đang c̣n phải sống trong những căn nhà tạm bợ, không đủ sức đương đầu với những đợt mưa to gió lớn. Mỗi lần băo lụt qua đi, để lại nhiều hư hại mất mác, dân chúng lại tập trung sửa chữa nhà cửa, những v́ điều kiện hạn chế, nên những căn nhà tạm thời lại tiếp tục làm mồi cho những cơn băo lụt kế tiếp.

Không ai quên được biến cố đau thương lịch sử vào đầu tháng10 năm 2006, siêu băo Xangsane đă lạnh lùng tràn vào thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng, nhiều công tŕnh công cộng bị hư hại nặng, trong đó có hàng chục nhà thờ và cơ sở sinh hoạt, nhất là làm sụp đổ hoàn toàn hàng ngàn ngôi nhà, người dân phải lâm cảnh màn trời chiếu đất.

Vừa nhiệm chức Giám mục Giáo phận chưa tṛn hai tháng, Đức Cha Giuse bắt đầu sứ vụ của ḿnh với cảnh tang thương mất mác này. Ngài đă viết thư mục vụ kêu gọi sự giúp đỡ khắp nơi, và đón nhận được sự quan tâm hỗ trợ của nhiều người. Nhưng vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để việc tái thiết đem lại được hiệu quả lâu dài. Sau khi nghiên cứu luận bàn, Giáo phận Đà Nẵng đề đề ra chương tŕnh “Căn Nhà Đồng Tâm”. Chương tŕnh này chủ trương làm những ngôi nhà kiên cố có khả năng chống băo cho người nghèo. V́ không đủ khả năng thực hiện cùng lúc, nên phải theo một thứ tự ưu tiên sau khi đă làm thống kê xă hội cần thiết. Mỗi căn nhà được thực hiện là một hồ sơ cấp Giáo phận do Ban Bác ái-xă hội chủ tŕ và điều hành, với sự hỗ trợ của các linh mục và giáo xứ địa phương, do chính gia đ́nh nạn nhân thực hiện. Chương tŕnh góp một ngân khoản căn bản làm khởi điểm, đồng thời kêu gọi sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, thân hữu, xóm làng, cộng với khả năng của gia đ́nh, nên giá trị của mỗi ngôi nhà tuỳ thuộc vào kết quả vận động chung góp này.

Ngày 01/12/2006, lễ đặt viên đá xây dựng “Căn nhà Đồng Tâm số 1” đă được tổ chức tại Giáo xứ Hoà Khánh, với sự hiện diện của Đức Giám mục Giáo phận và đông đảo thành phần Dân Chúa. Đặc biệt c̣n có sự hiện diện của phái đoàn Hội Đồng Giám mục Pháp đang viếng thăm Việt Nam do Đức Hồng Y Jean Pierre Ricard, Chủ tịch HĐGM Pháp.

Sau gần 3 năm tiến hành, chương tŕnh đă xây dựng được 518 căn nhà cho các gia đ́nh nạn nhân băo lụt và những gia đ́nh nghèo tại Thành phố Đà Nẵng cũng như Tỉnh Quảng Nam. Ngày 26/7/2009, nhân dịp Lễ kính Chân phước Anrê Phú Yên, sau Thánh lễ tại Đền Thánh Phước Kiều, Đức Giám mục Giáo phận, Quí Cha, Chính quyền địa phương và quan khách đă đến thôn G̣ Nổi thuộc huyện Điện Bàn, Tỉnh Quảng Nam để khánh thành “Căn Nhà Đồng Tâm” thứ 499 và 500 của hai gia đ́nh, một lương một giáo.

Chương tŕnh thể hiện tinh thần liên đới và trách nhiệm giữa mọi người trong cộng đồng dân cư và Hội Thánh, khơi dậy tinh thần tự lập vượt khó nơi chính người nghèo; đồng thời, cũng tạo cơ hội cho các linh mục và các hội đồng giáo xứ thêm gần gũi với các gia đ́nh cần được nâng đỡ trong địa bàn giáo xứ.

· Nồi Cháo T́nh Thương

Nhiều giáo xứ và cộng đoàn trong Giáo phận đă thực hiện chương tŕnh định kỳ nấu cháo dinh dưỡng để hỗ trợ cho các bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện trong khu vực của ḿnh, như Giáo xứ Trà Kiệu, Hà Lam, Tu viện Thánh Tâm Ḍng Thánh Phaolô… Nồi cháo T́nh Thương là công tŕnh chung của rất nhiều người, kẻ góp công, người góp của, thể hiện t́nh liên đới, đức bác ái, sự đồng cảm chia sẻ của người tín hữu cho anh chị em ḿnh.ờMotj bát cháo chẳng là bao, nhưng tinh thần th́o vô giá, chính sự tận tụy, ân cần phục vụ phần nào xoa dịu nỗi khốn khổ đau đớn của những anh chị em đă khó khăn nay lâm cảnh ngặt nghèo.

Ngoài ra, đây cũng là nơi gặp gỡ của các tôn giáo khi cùng thực hiện một nghĩa cử cho đồng bào của ḿnh. Ngày nay, người ta có thể gặp thấy nồi cháo t́nh thương do các tín hữu Phật giáo, Cao đài cùng với người công giáo thay phiên phục vụ tại các bệnh viện.

II- ĐỊA DANH

1/ Nhà Thờ Chính Ṭa Đà Nẵng

Tọa lạc tại số 156 Trần Phú và thường được cư dân địa phương gọi là Nhà thờ “Con Gà”, v́ trên đỉnh tháp nhà thờ có gắn h́nh con gà trang trí cho cột thu lôi và định hướng gió. Ngôi Nhà thờ theo phong cách gothique này được khởi công vào năm 1923 dưới thời Cha Vallet, thường gọi là Cố Ngân, làm Quản xứ Nhà thờ Chính Toà và xây dựng trong suốt 8 năm với sự tham gia của các tay thợ lành nghề. Cùng thời với Nhà thờ là ngôi Nhà xứ được xây dựng sau đó 2 năm, nay được dùng làm Ṭa Giám Mục Đà Nẵng từ năm 1984.

Nhà Thờ Chính Ṭa Đà Nẵng là một trong những công tŕnh kiến trúc gothique kiểu Pháp hiện c̣n nguyên vẹn tại Thành phố Đà Nẵng.

2/ Giáo xứ & Trung Tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu

Nằm giữa 2 di sản thế giới Phố Cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn, Trà Kiệu có một bề dày lịch sử cả đạo lẫn đời. Về lịch sử dân sự, Trà Kiệu nguyên là kinh đô Simhapura -Sư Tử Thành của Vương quốc Champa vào cuối thế kỷ II sau Công nguyên cho đến đầu thiên niên kỷ thứ II. Di tích tường thành vẫn c̣n đó, nhiều hiện vật khảo cổ cũng đă được phát hiện dưới ḷng đất trong khu vực này. Tại Giáo xứ Trà Kiệu ngày nay, một số tượng đá và mănh gốm sứ thời vương quốc Champa đă được thu tập và dần h́nh thành một bảo tàng tư nhân nho nhỏ tại Nhà xứ Trà Kiệu, do công của Cha Antôn Nguyễn Trường Thăng, Quản xứ Trà Kiệu từ 1973-1989.

Về lịch sử Giáo hội Công Giáo, Trà Kiệu và cộng đoàn Dân Chúa Trà Kiệu được biết đến như là “chứng nhân đức tin” trong thời kỳ bách hại của lực lượng “Văn Thân” nhằm triệt phá đạo Công giáo khắp nơi. Cũng chính trong bối cảnh này, xứ đạo Trà Kiệu đă trở thành “linh địa” v́ được sự che chở đặc biệt của Thiên Chúa. Theo một số bút tích và sử liệu của Hội Thừa sai Balê ghi lại, người ta thấy “Một Bà Đẹp” đă xuất hiện trên nóc Nhà thờ Trà Kiệu, ra tay che chở và giải thoát đoàn con cái Chúa giữa lằn bom đạn đang tụ họp ẩn nấp và cầu nguyện trong Nhà thờ, cao điểm là các ngày 10-11/9/1885. Giáo dân thoát nạn một cách lạ lùng. Giáo Hội được b́nh an. Một ngôi đền được dựng nên trên ngọn đồi Bửu Châu vào năm 1892, cách Nhà thờ Trà Kiệu khoảng 500 m, dâng kính Đức Trinh Nữ Maria với tước hiệu “Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu”. Đền thánh ngày nay đă được xây dựng mới vào năm 1967. Tên gọi Đức Mẹ Trà Kiệu nhắc nhỡ các tín hữu về biến cố này và tấm ḷng hiền mẫu của Đức Mẹ.

Năm 1958, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, lúc đó làm Giám mục Qui Nhơn, đă chọn Trà Kiệu làm Trung Tâm Thánh Mẫu của Giáo phận Quy Nhơn và đă tổ chức Đại hội Thánh Mẫu đầu tiên tại Trà Kiệu từ ngày 31/1 đến 02/02/1959. Bốn năm sau, ngày 18.01.1963, khi tân Giáo phận Đà Nẵng được thành lập, tách khỏi Giáo phận Mẹ Quy Nhơn, Trà Kiệu đă trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu của tân Giáo phận. Đại hội Thánh Mẫu lần II được tổ chức từ ngày 29/5-31/5/1971 cũng do Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, lúc này là Giám mục Chính Ṭa Giáo phận Đà Nẵng. Từ đó, vào ngày Lễ Đức Mẹ Đi Viếng 31/5, như một thông lệ, giáo dân từ các nơi hành hương về Đất Mẹ Trà Kiệu tham dự Đại hội Hành hương hằng năm.

Mỗi kỳ Đại hội, ngoài cuộc kiệu rước trọng thể cung nghinh Mẹ Trà Kiệu từ Nhà thờ Giáo xứ nơi Đức Mẹ hiện ra xuống Quảng trường Nhà thờ Núi, những buổi diễn nguyện tôn vinh Đức Mẹ kết thúc bằng Thánh Lễ đại trào; cộng đoàn dân Chúa và khách hành hương lại có dịp sống gần Mẹ và sống gần nhau trong tâm t́nh tạ ơn, khẩn nguyện bằng những giờ chầu Thánh Thể, tôn vinh Đức Mẹ, cử hành bí tích giao hoà. Hiện nay, ngoài dịp Đại hội hằng năm bắt đầu từ chiều 30/5 và kết thúc vào chiều 31/5, ngày càng có nhiều khách hành hương từ mọi nơi đến viếng Đức Mẹ Trà Kiệu, đặc biệt từ đầu tháng 5 đến hết tháng 8 dương lịch.

3/ Đền Thánh Anrê Phú Yên tại Giáo họ Phước Kiều

Anrê Phú Yên là danh xưng được đặt cho vị Thầy Giảng 19 tuổi đă anh dũng lấy máu ḿnh làm chứng cho đức tin trong thời kỳ sơ khai của công cuộc truyền giáo trên đất Việt, vào ngày 26/7/1644. Và miền đất, nơi được vinh hạnh đón nhận những giọt máu trọn nghĩa vẹn t́nh đó chính là Phước Kiều. Hiện nay, Phước Kiều là một giáo họ nhỏ bé với ngôi nhà thờ đơn sơ, nhưng hằng trăm năm trước đây được biết đến với tên gọi thời danh là “Dinh Trấn Thanh Chiêm”. Ngày sinh nhật trên trời thứ 363 của Chân Phước Anrê, 26/7/2007, Đức Cha Giuse Giám mục Đà Nẵng đă nâng Nhà thờ Phước Kiều lên hàng Đền Thánh dâng kính Chân Phước Anrê Phú Yên, và thuộc về Giáo xứ Hội An cổ kính.

Theo dự tính của Giáo phận, Đền Thánh Phước Kiều sẽ được xây dựng lại khang trang, thành nơi hành hương tôn giáo và tham quan văn hóa. V́ vùng đất này gắn liền với sự nghiệp sáng chế chữ Quốc Ngữ của hai vị thừa sai thời danh, Cha Francesco de Pina và Cha Alexandre de Rhodes, là những người đă có công đầu trong việc khai sáng và hoàn thiện chữ Quốc Ngữ.

Phước Kiều cũng nổi tiếng với nghề “đúc đồng” truyền thống, nơi cung cấp những bộ cồng chiêng huyền thoại cho các anh em dân tộc miền Tây Nguyên và Trung du.

4/ Giáo xứ & Phố cổ Hội An

Hội An ngày nay được biết đến dưới danh xưng “Phố Cổ” như một điểm du lịch văn hóa hấp dẫn với những chứng tích lịch sử sống động của cuộc giao thoa các nền văn hóa Trung Hoa – Nhật Bản – Ḥa Lan – Bồ Đào Nha – Việt Nam. Lịch sử truyền giáo Công Giáo Việt Nam cũng gắn liền với hai địa danh Cửa Hàn (Đà Nẵng) và Hội An – Faifo (Quảng Nam), v́ là nơi đón nhận các vị Thừa Sai chính thức đầu tiên đến rao giảng Tin Mừng cho dân Việt. Phái đoàn Ḍng Tên này do Cha Buzomi dẫn đầu, đă cập cảng Sông Hàn ngày 18/01/1665, rồi đến lập cư sở tại Hội An, bắt đầu công cuộc truyền giáo có kế hoạch lâu dài. Cũng từ kế sách này và phát xuất từ nơi đây, chữ Quốc Ngữ do Cha Francesco de Pina sáng nghĩ và Cha Alexandre de Rhôdes hoàn thiện để phục vụ cho việc dạy và học giáo lư tại cánh đồng truyền giáo Việt Nam. Chân phước Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi là hoa quả đầu mùa của cộng đoàn Công giáo đầu tiên của Hội An, khi Ngài nhập Hội Thầy Giảng tại Hội An và tham gia việc dạy giáo lư cho dân cư vùng đất này. Đức Cha Lambert de La Motte, Giám quản Tông Toà Đàng Trong đă triệu tập Công Nghị miền đầu tiên cũng tại Hội An vào tháng 12.1671.

Giáo xứ Hội An được nhận danh hiệu “Di tích lịch sử và văn hóa cấp Tỉnh, Thành phố” do UBND Tỉnh Quảng Nam cấp ngày 07.4.2008 với nội dung: “Nhà Thờ Thiên Chúa Giáo và Khu mộ các Giáo sĩ Phương Tây”. Đến với Giáo xứ Hội An hiện nay, mặc dù những di tích cổ xưa như nhà thờ gỗ, khu nghĩa trang không c̣n nữa, nhưng tâm t́nh về một miền đất là “chiếc nôi” của Giáo hội Đàng Trong thời kỳ đầu và là một giáo xứ kỳ cựu lâu đời nhất vẫn đậm nét khi ở giữa không gian phố cổ và trong khuôn viên yên tĩnh thoáng mát của Giáo xứ Hội An ngày nay.

5/ Nhà Giám Tỉnh Ḍng Thánh Phaolô thành Chartres

Các Nữ tu Ḍng Thánh Phaolô thành Chartres thuộc Tỉnh Ḍng Hà Nội đến phục vụ các bệnh viện tại Đà Nẵng vào năm 1903. Sau năm 1954, Tỉnh Ḍng Hà Nội phải phân tán, nhiều cộng đoàn mới được thành lập tại Đà Nẵng. Năm 1960, Tỉnh Ḍng Đà Nẵng chính thức được thành lập, nhà Giám Tỉnh và Tu viện Thánh Tâm tọa lạc tại số 47 đường Yên Báy, bên cạnh Nhà Thờ Chính Ṭa.

Ngoài Đà Nẵng, các nữ tu thuộc Tỉnh Ḍng c̣n hoạt động truyền giáo và mục vụ tại các Giáo phận miền Bắc và miền Trung, đặc biệt tại miền Tây Nguyên cho các anh chị em các tân tộc. Ngoài việc cộng tác thường xuyên với các xứ đạo trong việc mục vụ và truyền giáo, các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô c̣n hoạt động trong nhiều lănh vực xă hội như giáo dục, y tế, bác ái xă hội, nhất là việc tiếp đón và giáo dục trẻ khuyết tật.

6/ Các xứ đạo có di tích về các Chứng nhân Đức tin trong thời kỳ bách hại (1750-1886).

Là một Giáo phận tân lập, nhưng Đà Nẵng vốn là vùng đất đón nhận đức tin rất sớm, và c̣n tồn tại cho đến ngày nay nhiều họ xứ cổ kính hàng trăm tuổi. Tiền nhân của họ cũng đă từng chấp nhận bao nhiêu lao khổ v́ đức tin qua các thời kỳ, kể cả hy sinh mạng sống, nhưng tất cả đều vô danh, chưa có ai được ghi tên vào sổ bộ các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Những Giáo xứ và học đạo cổ kính là An Sơn với họ đạo An Trường, Giáo xứ cũ Vân Đoă với các họ đạo Tiên Lộc, Phước Ấm, Trường An, họ đạo Phú Quư thuộc Giáo xứ Tam Kỳ, họ đạo Phú Cường thuộc Giáo xứ Xuân Thạnh. Những xứ họ trên đây đều lưu giữ những chứng tích trong thời tử đạo, đặc biệt là các ngôi mộ và giếng chôn tập thể các tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin. Ngoài ra, các Giáo xứ như Trà Kiệu, Phú Thượng, An Ngăi cũng h́nh thành rất sớm, và chắc chắn cũng đă trải qua những giai đoạn khó khăn chung của Giáo Hội, và sự hy sinh của các thế hệ tiền bối.

 

...............................................

Đôi Ḍng Lịch Sử Giáo Phận Đà Nẵng

Marcello Đoàn Minh - 22/6/2009
Nguồn : Trang nhà Giáo phận Đà Nẵng

Giáo Phận Đà Nẵng có 62 228 giáo dân (trên dân số 2.500.000 người), với 43 giáo xứ, 85 linh mục. So với các giáo phận khác ở Việt Nam, Đà Nẵng là một giáo phận nhỏ bé và non trẻ. Nhưng vùng đất này là cái nôi của công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong

Đôi Ḍng Lịch Sử Giáo Phận Đà Nẵng

Giáo phận Đà Nẵng nằm trong địa bàn tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, diện tích tổng cọng là 11.900 cây số. Vùng đất này nằm vào vị trí trung tâm đất nước. Khu kinh tế mở Chu Lai của tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng đang được đầu tư phát triển để nhanh chóng trở thành vùng kinh tế trọng điểm của khu vực Miền Trung. Tại đây có các điểm tham quan du lịch nổi tiếng như Ḥn Kẽm Đá Dừng, Ngũ Hành Sơn (Non Nước), Bà-Nà Núi Chúa và hai di sản văn hóa thế giới: Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn.

Nhà Thờ Chính Toà Đà Nẵng

Hiện nay Giáo Phận có 62 228 giáo dân (trên dân số 2.500.000 người), với 43 giáo xứ, 85 linh mục. So với các giáo phận khác ở Việt Nam, Đà Nẵng là một giáo phận nhỏ bé và non trẻ. Nhưng vùng đất này là cái nôi của công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong. Hạt giống Tin Mừng đă được gieo trên đất này từ những bước đầu của cuộc giao lưu giữa phương Đông và phương Tây và trong bối cảnh của cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn. Ngày 18.1.1615 đoàn truyền giáo ḍng Tên, với cha trưởng đoàn Francesco Buzomi (Italia), cha Diego Carvalho và thầy Antonio Dias (Bồ-đào-Nha), thầy Giuse và Phaolô (Nhật) đến tại Cửa Hàn, đánh dấu ngày khởi sự công cuộc truyền giáo có qui mô và tổ chức. Các thừa sai tiên phong này đă góp công xây dựng văn hóa Việt Nam qua công tŕnh sáng tác và phổ biến chữ quốc ngữ, trong đó cha Francesco de Pina là người có công nhiều trong giai đoạn khởi xướng. Chính dinh trấn Thanh Chiêm, nay thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam là nơi khai sinh chữ quốc ngữ. Tiếc thay cha Pina bị chết đuối tại Đà Nẵng vào tháng 12 năm 1625. Cha Đắc Lộ, đến Đàng Trong năm 1624, tiếp tục hoàn thiện công tŕnh. Ngài đă lập Hội Thầy Giảng để đào tạo các thừa tác viên giúp dạy giáo lư và điều hành cộng đ̣an. Trong số các thầy giảng có thầy Anrê Phú Yên tử đạo tại Phước Kiều (giáo xứ Vĩnh Điện) vào ngày 26.7.1644. Thầy Anrê là chứng nhân tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong Á Thánh vào năm 2000.

Năm 1659, Ṭa Thánh thiết lập hai giáo phận Đàng Trong và Đàng Ngoài và bổ nhiệm Đức Cha Lambert de la Motte làm Đại Diện Tông Ṭa tại giáo Phận Đàng Trong và Đức cha Francois Pallu làm Đại Diện Tông Ṭa tại giáo phận Đàng Ngoài. Đà Nẵng thuộc về Đàng Trong. Đức Cha Lambert de la Motte đă lập ḍng Chị Em Mến Thánh Giá tại An chỉ (Quảng Ngăi), nhóm công đồng Hội An (1671). Trong số các chủ chăn Đàng Trong có: Đức Cha Guillaume Mahot được phong Giám Mục tại Hội An vào năm 1682, Thánh Giám Mục Tử Đạo J.B. Cuénot Thể, người đă đến định cư tại Quảng Nam trong 3 năm. Trong những năm Phong trào Văn Thân bách hại đạo, nhiều giáo dân tại An Sơn, Vân Đơa bị thiêu sống trong nhà thờ hoặc chôn sống. Tại đồi Bửu Châu (Trà Kiệu) có đền thờ dâng kính “Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu” được xây dựng để ghi nhớ ơn Đức Mẹ đă cứu giúp giáo dân Trà Kiệu trong cơn Văn Thân bách đạo tháng 9.1885. Đền thờ này được tái thiết nhiều lần và kể từ năm 1958 khi c̣n thuộc về Giáo Phận Qui Nhơn, Trà Kiệu đă trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo phận

Ngày 24.11.1960, Đức Giáo Hoàng XXIII đă kư sắc thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, với 3 Ṭa Tổng Giám mục Hà Nội, Huế và Sài G̣n. Ngày 18.1.1963, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII kư sắc lệnh In Vitae Naturalis Similitudinem (Cũng Như Trong Đời Sống Tự Nhiên), thiết lập Giáo Phận Đà-Nẵng và bổ nhiệm Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi là Giám Mục tiên khởi. Chính v́ được sinh ra thời kỳ họp Công Đồng Vatican II (1962-1965) và ngay từ đầu đă đi vào đường hướng của Công Đồng mà Giáo Phận được gọi là “Đứa Con của Công Đồng”.

Cho đến nay sau 46 năm thành lập, Giáo Phận đă qua 3 nhiệm kỳ giám mục: Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (1963-1988), Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách (1988-2000) và Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh (2000-2006). Ngày 13 tháng 5 2006 Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI bổ nhiệm Cha Giuse Châu Ngọc Tri, Quản xứ Trà Kiệu làm Giám Mục Chính Ṭa thay thế Đức Cha Phaolô Tịnh.

Ngược ḍng lịch sử, chúng ta thấy “bàn tay nhân lành của Thiên Chúa đă êm ái và mạnh mẽ hướng dẫn Hội Thánh Người trên đất nước Việt Nam.”(Thư Chung 1980 của HĐGMVN). Xin Đức Mẹ Trà Kiệu đồng hành và giúp Cộng Đồng Dân Chúa “sống Phúc Âm giữa ḷng dân tộc,” mọi người cùng hiệp nhất xây dựng “Giáo Phận của Công Đồng Vatican II” theo nguyện ước của Đức Giám Mục tiên khởi Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi mà mới đây (ngày 14/5/2009) giáo phận hân hoan mừng 100 năm sinh nhật của ngài.

Marcello Đoàn Minh

.....................................

Giới Thiệu Giáo Phận Đà Nẵng

2009-06-08 09:39:32

Nguồn : Trang nhà Giáo phận Đà Nẵng

Vùng đất đó thuở trời Nam mở cơi. Hằn ấn Chiêm Vương, lưu dấu đền thiêng. Xứ Quảng, phố Đà thuở ấy gọi tên. Nay thành Giáo phận thân thương Đà Nẵng.

GIỚI THIỆU GIÁO PHẬN ĐÀ NẴNG

Đường thiên lư Bắc Trung Nam trải rộng
Giang sơn Việt Nam liền lạc ba miền
Qua Hải Vân chốn đèo cao hầm sáng
Bước dập dồn vào một cơi b́nh yên.

Như bóng chim bay giăng đôi cánh rộng
Chạm núi rừng trùng điệp ngút ngàn
Buông dài tới biển khơi lồng lộng
Thân xuôi theo dấu chảy những ḍng sông.

Vùng đất đó thuở trời Nam mở cơi
Hằn ấn Chiêm Vương, lưu dấu đền thiêng
Xứ Quảng, phố Đà thuở ấy gọi tên
Nay thành Giáo phận thân thương Đà Nẵng.

1. Lịch sử địa danh Đà Nẵng

Từ thế kỷ XV, mảnh đất này đă nằm trong lănh thổ của quốc gia Đại Việt, thuộc đạo Hóa Châu được lập ra từ thời Trần Anh Tông và đến thời Lê Thánh Tông (từ 1466) th́ thuộc địa phận của huyện Điện Bàn, phủ Triệu Phong, thừa tuyên Thuận Hóa. Theo sách “Ô Châu cận lục” (của Dương Văn An soạn năm 1533” th́ địa danh Đà Nẵng lần đầu tiên xuất hiện khi sách nhắc đến “một ngôi đền ở cửa biển Đà Nẵng” thờ một nhân vật từ thời Lê Thánh Tông.

Địa danh Đà Nẵng có thể được giải thích theo ngôn ngữ Chăm có nghĩa là “sông lớn” hay “cửa sông cái”. Quả thật nằm trên tả ngạn sông Hàn kề bên cửa biển hiểm yếu này, địa danh Đà Nẵng đă được ghi trên các bản đồ vẽ từ thế kỷ XVI trở đi (như “An Nam h́nh thắng đồ”, “An Nam thông quốc toàn đồ”).

1.1. Các tên gọi khác của Đà Nẵng

Ngoài ra, c̣n có một tên gọi dành cho thành phố Đà Nẵng nữa, nó tồn tại suốt trong thời gian là nhượng địa của Pháp, và trở thành địa danh hành chính chính thức trước đó cũng như cho đến nay nhiều người Châu Âu vẫn c̣n quen gọi, đó là Tourane. Trong các bản đồ, sách vở, ghi chép của người Âu từ thế kỷ XVI, XVII, XVIII… chúng ta đă thấy nhắc đến những địa danh như: Turon, Toron, Taraon, Touan, Touane, Touron

Năm 1945, Tourane được mang tên Thái Phiên, nhà yêu nước nổi tiếng của đất Quảng Nam lănh đạo cuộc khởi nghĩa Duy Tân nổ ra vào năm 1916.

Hai năm sau, thành Thái Phiên lại được đổi tên thành Đà Nẵng và tên gọi này được giữ cho đến ngày nay

1.2. Những số liệu

• Dân số: 2.500.000 người
• Giáo dân: 63.559, chiếm tỉ lệ khoảng 3% dân số
• Diện tích: 11,690 Km2

1.3. Các món ăn truyền thống

• Ḿ Quảng
• Bánh tráng cuốn thịt heo
• Bún thịt nướng
• Bánh tráng đập dập

Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương và là một trong những trung tâm kinh tế - văn hoá - khoa học công nghệ của cả Miền Trung Việt Nam. Lợi thế so sánh của thành phố tại khu vực này ngày càng rơ nét từ khi hầm đường bộ Hải Vân và tuyến đường 14B đi vào hoạt động. Đà Nẵng đang trở thành đầu cầu thuận lợi, điểm đến lư tưởng của tuyến “Hành lang Đông -Tây” nối Việt Nam với Lào - Thái Lan – Mianma.

2. Lịch sử địa danh Quảng Nam

Từ thế kỷ II-X, đất Quảng Nam là lănh thổ của Chiêm quốc, dưới cái tên Amaravati. Vua Lâm Ấp đóng đô ở Trà Kiệu tên là Simhapura

2.1. Vùng đất Chiêm Thành

• Trong cuộc Nam Tiến, năm Nhâm ngọ, 982 Lê Hoàn lên ngôi, đến Trà Kiệu, người Chiêm dời đô vào Trà Bàn (B́nh Định)

• Từ năm 1000 đến 1400, dưới triều Lư, Trần, đất Quảng nam là miếng mồi tranh chấp giữa hai nước Việt Nam - Chiêm Thành

• Năm 1402 Hồ Quư Ly lên ngôi, sai tướng Đỗ Măn chinh phạt Chiêm, La Khải con vua Ba Địch Lai dâng đất Chiêm Động cầu hoà. Nhà Hồ đ̣i thêm đất Cổ Luỹ.

Quảng Nam vốn đất Chiêm Thành
Trần Lê thuở trước đánh dành đă lâu
Triều ta mở rộng năm châu
Từ vua Gia Dũ thiết đầu khai cơ

Tây Sơn giáp ngũ dựng cờ
Cao hoàng khôi phục, cơi bờ về tay
Đặt làm dinh, trấn những ngày
Sau đặt làm tỉnh đổi thay mấy lần

Bắc Thừa Thiên, giáp Hải Vân
Nam th́ Quảng Ngăi giáp gần núi Phong
Tây thời có dăy Trường Sơn
Mỗi cao mỗi thấp mấy ṿng núi xanh

Đông th́ biển rộng thinh thinh
Đất hai trăm dặm rành rành nhớ ghi.

2.2. Hội An: Cửa ngơ giao lưu văn hóa, Chiếc nôi Đạo Công Giáo Việt Nam

• Hội An xưa là cửa Đại Chiêm, thuộc vùng đất Amaravati, có lịch sử gần 400 năm là một phố cổ nhất ở Việt nam c̣n đứng vững với thời gian.

• Khi Pháp sang, Hội An mang tên là Faifoo, nguồn gốc tên gọi này có nhiều lối giải thích, theo ông Chaphuis th́ Faifoo do chữ Hải Phố mà ra. Cố Alexandre de Rhodes th́ cho rằng, tên xóm Hoa Kiều: Phai Phao, người Việt đọc là Hải Pháo, người Bồ phiên âm thành Faifoo.

• Đầu thế kỷ XVII người Bồ Đào Nha, Hoà Lan, Anh, Nhật, Trung Hoa đến buôn bán ở Hội An rất đông, được coi như một hải cảng quốc tế.

• Ngày 18-1-1615, ba thừa sai ḍng Tên, dẫn đầu là cha F. Buzomi đặt chân lên đất Cửa Hàn, Hội An bắt đầu công cuộc truyền giáo.

• Các Cha đă học tiếng Việt tại vùng đất này, và kư âm ra mẫu tự Latinh; bây giờ là Chữ Quốc Ngữ của chúng ta ngày nay.

• Linh Mục Philiphê Bỉnh có kể lại rằng ngày 24 tháng 6 năm 1549, thánh Phanxicô Xaviê cùng đoàn tùy tùng đi ngang qua dải biển Quảng Nam, gặp sự cố nên có ghé vào Đất Quảng, nhưng không có giảng đạo ǵ cả. (x.x. Philiphê Bỉnh, Truyện nước Nam, Đàng Ngoài chí Đàng Trăo (viết tay), Kẻ Chợ nước Portugal 1822, Q.II, tr. 31 và tiếp).

• Năm 1523, Duarte Coelho đến Việt Nam có lưu lại ở vùng biển một h́nh thánh giá lớn làm kỷ niệm.

• Tháng 6 năm 1556, tức 33 năm sau, Fernăo Mendes Pinto, một giáo sĩ ḍng Tên qua ven biển Việt Nam gặp h́nh Thánh giá nói trên ở Cù Lao Chàm, người Mă Lai gọi Poulo Champeilo.

• Thánh giá được khắc trên một tảng đá lớn, ngoài bốn chữ INRI, c̣n ghi năm và tên của tác giả.

2.3. Anh hùng Tuẫn Đạo Anrê Phú Yên

• Năm 1640, linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) trở lại để thay cha Buzomi điều khiển công việc truyền giáo tại đây. Cha Đắc Lộ lập hội Thầy Giảng để chăm sóc các họ đạo.

• Nổi bật là thầy Anrê Phú Yên đă chết để làm chứng cho Chúa tại Phước Kiều (nay là họ đạo Phước Kiều, thuộc giáo xứ Hội An) ngày 26-7-1644. Chân phước Anrê là vị chứng nhân tiên khởi của Giáo hội Việt Nam.

GIÁO PHẬN ĐÀ NẴNG

Thành lập : 18-01-1963
Số giáo dân : 63.559
Số giáo xứ : 42

• Năm 1850, Toà Thánh chia giáo phận Đông Đàng Trong thành giáo phận Đông và Bắc, vùng đất Đà Nẵng thuộc giáo phận Đông. Thời kỳ này, hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân phải chịu đau khổ do những sắc chỉ cấm đạo của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức.

• Năm 1885, khi phong trào Văn Thân bách hại ở Quảng Nam có 5.428 giáo hữu bị chết. Riêng tại các giáo xứ An Sơn và Vân Đoă, 400 giáo hữu bị thiêu sống trong nhà thờ hoặc chôn sống hay quăng xuống giếng. Ngoài ra, c̣n có các ngôi mộ tập thể ở những họ đạo: Phú Quư (giáo xứ Tam Kỳ), Phước Ấm (giáo xứ Hà Lam), Phú Cường ( giáo xứ Xuân Thạnh)…

• Phú Thượng và Trà Kiệu là 2 giáo xứ đă quyết liệt kháng cự và đă bảo toàn được giáo xứ và đức tin. Ở Trà Kiệu, để ghi ơn Đức Mẹ, giáo hữu dựng trên đỉnh ḥn Bửu Châu (ḥn Trọc) một đền thờ dâng kính “Đức Bà Phù Hộ Các Giáo Hữu”.

• Năm 1960, Đà Nẵng có 82.000 giáo dân (trong đó 1/3 là giáo dân từ miền Bắc di cư vào (1954) và 1/3 là tân ṭng).

..................................

Lược Sử

Giáo Phận Đà Nẵng

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

A. Lược Sử Giáo Phận Đà Nẵng

 

Nh́n vào trang sử h́nh thành và phát triển của các giáo phận ở Việt Nam, giáo phận Đà Nẵng được thiết lập năm 1963, là một trong các giáo phận đàn em, nhưng Đà Nẵng là nơi đóng góp những trang sử đầu, chính thức khai mở công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, đặc biệt tại Đàng Trong. Sự kiện ngày 18-1-1615, ba thừa sai ḍng Tên, dẫn đầu là cha F. Buzomi đặt chân lên đất Cửa Hàn, Hội An, và tháng 7-1615 lên Quảng Nam bắt đầu công cuộc truyền giáo.

Ngày 18-1-1615, tàu Bồ Đào Nha từ Macao cập bến Đà Nẵng, chở hai linh mục ḍng Tên là cha Francesco Buzomi (Ư), cha Diego Carvalho (Bồ Đào Nha) và thầy António Dias (Bồ Đào Nha), hay thầy Giuse và Phaolô (Nhật) đến Cửa Hàn (tên cũ của Đà Nẵng), rồi vào Hội An (Hải Phố) truyền giáo. Lễ Phục Sinh năm 1615, các cha rửa tội cho 10 người tại nhà nguyện cở Cửa Hàn. Phái đoàn lập cư sở đầu tiên tại Hội An. Sau đó, các ngài lập thêm các cư sở Thanh Chiêm, Nước Mặn (Quy Nhơn).

Năm 1640, linh mục Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) trở lại để thay cha Buzomi điều khiển công việc truyền giáo tại đây. Cha Đắc Lộ lập hội Thầy Giảng để chăm sóc các họ đạo và như để thay thế các ngài trong nhiều trường hợp. Nổi bật là thầy Anrê Phú Yên đă chết để làm chứng cho Chúa tại Phước Kiều (nay là họ đạo Phước Kiều, thuộc giáo xứ Vĩnh Điện) ngày 26-7-1644. Chân Phước Anrê Phú Yên là vị chứng nhân chứng tiên khởi của Giáo Hội Việt Nam. Năm 1654, cha Đắc Lộ bị trục xuất và rời khỏi Đàng Trong.

Năm 1659, Ṭa Thánh thành lập hai giáo phận ở Việt Nam, Đà Nẵng thuộc giáo phận Đàng trong do Đức cha P. Lambert de la Motte làm đại diện tông ṭa đầu tiên, khi đó Đà Nẵng đă có nhiều cư sở, giáo xứ do các cha ḍng Tên coi sóc. Tháng 12-1671, Đức cha Lambert de la Motte tới thăm mục vụ tại vùng đất Đà Nẵng, tháng 1-1672 ngài tổ chức công nghị tại Hội An.

Năm 1844, Ṭa Thánh chia giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận Đông và Tây, Đà Nẵng thuộc giáo phận Đông Đàng Trong, trở thành một trong những trung tâm truyền giáo mạnh nhất của giáo đoàn Đàng Trong (từ sông Gianh trở vào), nơi dừng chân hoặc nơi ẩn náu cho các nhà truyền giáo. Từ năm 1684, Hội An là nơi an nghỉ của Đức cha Guilaume Mahot (1-6-1684), Đức cha F. Perez qua đời vào tháng 7-1729 ở Mỹ Xuyên (Kẻ Thá), Đức cha Valère Rist làm phó giám mục, mất ở Hội An năm 1737.

Năm 1850, Ṭa Thánh chia giáo phận Đông Đàng Trong thành giáo phận Đông và Bắc, vùng đất Đà Nẵng thuộc giáo phận Đông. Thời kỳ này, hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân phải chịu đau khổ do các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức cấm đạo. Năm 1885, khi phong trào Văn Thân bách hại ở Quảng Nam có 5,428 giáo hữu bị chết, riêng tại giáo xứ An Sơn và Vân Đơa, 400 giáo hữu bị thiêu sống trong nhà thờ hoặc chôn sống hay quăng xuống giếng. Từ Phú Thượng, giáo hữu tiếp viện và giải thoát cho Trà Kiệu và Trung Tín. Ở Trà Kiệu, để ghi ơn muôn đời, giáo hữu dựng trên đỉnh ḥn Bửu Châu (ḥn Trọc) một đền thờ dâng kính "Nữ Vương Phù Hộ Các Giáo Hữu". Năm 1960, Đà Nẵng có 82,000 giáo dân (trong đó 1/3 là giáo dân từ miền Bắc di cư vào (1954) và 1/3 là tân ṭng).

Ngày 18-1-1963, Đức Thánh Cha Gioan XXIII ban Sắc Chỉ In Vitae Naturalis Similitudinem, thành lập giáo phận Đà Nẵng, tách từ giáo phận Quy Nhơn, gồm tỉnh Quảng Tín (cũ), tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng. Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi làm giám mục tiên khởi. Ngài đă cho xây dựng các cơ sở của giáo phận như ṭa giám mục, nhà hưu dưỡng linh mục, Tiểu Chủng Viện Thánh Gioan, tu viện các thầy ḍng Gioan Thiên Chúa, bệnh viện An B́nh ở An Thượng, Đại Chủng Viện Ḥa B́nh và trường huấn nghiệp ở Ḥa Khánh. Tất cả các cơ sở trên đă được nhà nước quản lư. Khi thành lập, giáo phận có 90,000 giáo dân, 58 linh mục, 200 nữ tu và 30 chủng sinh học tại Chủng Viện Quy Nhơn và các chủng viện khác.

Năm 1975, Đà Nẵng có trên 100,000 giáo dân, 105 linh mục (trong đó có 6 linh mục ngoại quốc), 73 đại chủng sinh theo học tại các đại chủng viện Huế, Ḥa B́nh (Ḥa Khánh), Đà Lạt, và 238 tiểu chủng sinh, 308 nữ tu.

Từ năm 1975, một nửa số giáo dân đă bỏ đi lập nghiệp ở các tỉnh phía Nam, đông nhất là Xuân Lộc, B́nh Tuy và Buôn Ma Thuột. Các vị thừa sai về nước, một số linh mục nhập các giáo phận phía Nam. Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi hưu tại Trà Kiệu và mất ngày 21-1-1988.

Đức cha phó Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách lên cai quản giáo phận từ năm 1988-2000. Ngài đă cho tu sửa nhiều thánh đường trong giáo phận, tích cực trợ giúp những nạn nhân bảo lụt và các bệnh nhân nghèo. Ngày 7-11-2000, ngài nghỉ hưu và Đức cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh lên thay.

 

B. Địa Lư và Dân Số

 

Ranh giới giáo phận: Giáo phận Đà Nẵng gồm thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Bắc giáp Thừa Thiên Huế, Đông giáp biển Đông, Tây là dăy Trường Sơn tạo nên biên giới Lào - Việt Nam giáp Kontum và Quảng Ngăi.

 

Diện tích: 11,691 km2 với dân số 2,132,234 người.

Đa số dân làm nông nghiệp, trừ thành phố Đà Nẵng có một số làm thợ thủ công, c̣n dân cư sống dọc theo bờ biển làm nghề đánh cá.

Sông Thu Bồn và sông Vu Gia là hai con sông lớn nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Bà Nà - Núi Chùa, cao 1,480m, là điểm tham quan du lịch và là nơi nghỉ mát lư tưởng. Ḥn Kẽm, Đá Dừng, Ngũ Hành Sơn (Non Nước): là những điểm tham quan du lịch. Phố cổ Hội An, nơi đặt những bước chân đầu tiên của các vị truyền giáo đầu thế kỷ XVII, là cái nôi của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam.

Sắc tộc: các dân tộc thiểu số khoảng 70,000 người thuộc nhóm Hệ Môn - Khơ Me như Cơ Tu, Co, Xơ Đăng, Gié Triêng (Thống kê 1999).

 

C. Một số điểm đặc sắc của giáo phận

 

1. Đền Thánh Mẫu Trà Kiệu:

 

Đền Thánh Mẫu Trà Kiệu, Trung tâm Thánh Mẫu của giáo phận. Từ thế kỷ IV đến thế kỷ thứ VIII, Trà Kiệu xưa (Simhapcera) là kinh đô đầu tiên của nước Chiêm Thành. Sau khi bắt được Trà Toàn và đại thắng quân Chiêm, vua Lê Thánh Tông lập tỉnh Quảng Nam (1470) và năm 1587, Trà Kiệu được mở mang thành một vùng đông dân cư.

Từ năm 1596-1602, Trà Kiệu được cha Raphael (ḍng Augustinô - Bồ Đào Nha) đến rao giảng Tin Mừng. Năm 1628, một nhóm người di dân Công Giáo đă xây dựng ở đây ngôi nhà thờ đầu tiên. Năm 1722, giáo xứ Trà Kiệu có tới 300 giáo dân. Năm 1872, cha Louis Marie Garibert Lợi xây một nhà thờ lớn.

Năm 1885, sau khi vua Hàm Nghi bỏ kinh thành, phong trào Văn Thân nổi dậy tại nhiều tỉnh miền Trung với khẩu hiệu "B́nh Tây, Sát Tả". Ngày 1-9-1885, quân Văn Thân khoảng hơn 8,000 người bao vây giáo xứ Trà Kiệu với vũ khí đầy đủ, có cả đại bác thần công và voi chiến. Về phía giáo dân, chỉ có hơn 300 nam, tuổi từ 16 tới 60, và khoảng mấy trăm phụ nữ với vũ khí thô sơ. Giáo dân khiếp sợ chạy đến nhà thờ cầu xin Đức Mẹ và đă chống trả quyết liệt trong suốt hơn 10 ngày. Ngày 11-9-1885, Đức Mẹ hiện ra đứng trên nóc nhà thờ đề bảo vệ và che chở đàn con. Cuộc chiến kéo dài đến 21-9-1885 th́ quân Văn Thân đă bỏ chạy, giáo dân được giải thoát.

Để tỏ ḷng biết ơn, giáo dân Trà Kiệu đă trùng tu lại ngôi thánh đường, nơi Đức Mẹ đă hiện ra, từ 1889-1892 và được Đức cha F.X. Van Camelbecke Hân khánh thành. Ngôi thánh đường hai tầng hiện nay được xây lại vào năm 1970 và ngày 31-5-1971, Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi đă đặt Trà Kiệu là Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo phận Đà Nẵng.

 

2. Thầy giảng Anrê Phú Yên:

 

Phú Yên là nơi sinh trưởng của vị chân phước anh hùng Anrê Phú Yên. Năm 1641, chính cha Đắc Lộ đă ban phép Rửa cho một thiếu niên không rơ tên tục, chỉ biết tên thánh là Anrê và bà mẹ với tên thánh là Gioana tại họ Ḷ Giấy, họ lẻ của giáo xứ Mằng Lăng, Phú Yên. Bà Mẹ sau đó đă giao cậu cho cha Đắc Lộ dạy dỗ. Từ đó, cậu theo chân cha trên khắp con đường truyền giáo từ Phú Yên lên Quy Nhơn, Quảng Ngăi, Quảng Nam, Quảng B́nh. Năm 1643, tại Hải Phố (Hội An), Anrê được khấn làm thầy giảng và hoạt động truyền giáo cho tới ngày bị quan trấn thủ Nghè Bộ bắt và xử tử ngày 26-7-1644 với sự hiện diện của chính cha Đắc Lộ. Ngày 5-3-2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă tuyên phong thầy lên bậc chân phước. Thầy trở thành gương mẫu của các giáo lư viên Việt Nam đang tiếp tục hy sinh rao giảng Tin Mừng trên mọi cánh đồng truyền giáo.

 

3. Danh lam thắng cảnh:

 

Quảng Nam - Đà Nẵng từ lâu đă nổi tiếng với đền đài của vương quốc Chiêm Thành (Champa). Người Chiêm Thành sinh sống trên dải đất chật hẹp dọc theo bờ biển miền Trung từ đèo Ngang đến Thuận Hải. Người Chiêm Thành đă lập kinh đô Simhapura (kinh thành Sư Tử) ở Trà Kiệu từ thế kỷ IV đến thế kỷ VIII. Sau đó dời kinh đô trở lại Quảng Nam với tên mới là Inorapura (kinh thành của thần sấm sét) và tồn tại tới thế kỷ IX. Hiện nay kinh đô này chỉ c̣n là những chân móng tường thành sụp đổ trong miền đất bỏ hoang.

- Thánh địa Mỹ Sơn: cách kinh đô cổ Trà Kiệu chừng 30km về phía Tây là Thánh địa Mỹ Sơn, một quần thể kiến trúc tôn giáo mà người Champa đă xây dựng dướ triều vua Bradvarman vào cuối thế kỷ IV. Thánh địa này nay thuộc làng Mỹ Sơn, xă Duy Tân, huyện Duy Xuyên, khu di tích cổ này rộng nhiều mẫu trong một thung lũng hẹp, bốn bề có núi bao quanh, trong đó có tháp to và nhiều tháp nhỏ để thờ thần Siva (theo Ấn Độ giáo). Các vua Champa đều tới nơi này để dâng lệ vật tế thần. Trong cuộc chiến tranh 1960-1975, khu thánh địa vị tàn phá nặng nề.

- Phật viện Đồng Dương: là quần thể chùa chiền của người Champa trong tinh thần Indrapura do vua Indravarman II xây năm 875 với chiều dài 1,330m gồm nhiều Phật đường, bảo tháp, tăng viện. Quần thể này đă bị hủy hoại toàn bộ do bom đạn, thời gian và cả ḷng tham không đáy của con người khi đào t́m những cổ vật quư giá. Phật viện nằm ở xă B́nh Định, huyện Thăng B́nh, cách Đà Nẵng 70km về phía Nam.

- Phố cổ Hội An: Hội An nằm cách Đà Nẵng 30km về phía Nam, ở gần Cửa Đại ngày nay, trên bờ bắc sông Thu Bồn. Vào thời các vua Chiêm Thành, Hội An được gọi là "Đại Chiêm Hải Khẩu", các thuyền buôn Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Dương ra vào tấp nập. Đến thế kỷ XV, các người Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, tới buôn bán nơi đây và đầu thế kỷ XVI, các nhà truyền giáo ḍng Tên đă đặt chân lên miền đất này. Giáo sĩ Đắc Lộ gọi Hội An là Hải Phố, tức là thành phố nằm sát biển (viết tắt là Faifo). Ngày nay, vào Hội An ta c̣n thấy khu phố cổ với các đường phố nhỏ hẹp, những mái nhà lợp ngói âm dương, các cột gỗ khung nhà đưộc chạm trổ tinh vi và cả Chùa Cầu nổi tiếng do người Nhật xây dựng.

 

4. Hoạt động đặc biệt của giáo phận:

 

Giáo phận Đà Nẵng là một trong những giáo phận có tổ chức giáo lư đầu tiên và quy củ.

Giáo phận Đà Nẵng đă là trung tâm sinh hoạt phong trào Hùng Tâm Dũng Chí toàn quốc.

Giáo phận Đà Nẵng đỡ đầu cho trại phong Ḥa Vân. Trại này có gần 300 bệnh nhân, nằm dưới chân đèo Hải Vân.

Được sự tài trợ của tổ chức từ thiện Misereor, giáo phận đứng xây dựng hồ chứa nước Cây Sơn, Đập Thổ, Đập Đá với trữ lượng trên 2 triệu m3 sử dụng cho nông nghiệp, tại xă Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

Nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/vnchurch.htm

.................................

Thánh Lễ Tạ ơn kỷ niệm 49 năm thành lập Giáo phận Đà Nẵng

Hôm nay, ngày 18 tháng 01 năm 2012, tại Nhà thờ Chính Toà, Giáo phận Đà Nẵng tổ chức Thánh Lễ khai mạc tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, đồng thời cũng là Thánh Lễ Tạ Ơn cuối năm và mừng kỷ niệm 49 năm thành lập Giáo phận (18/01/1963). Trong Thánh Lễ này, Đức Giám mục Giáo phận cũng công bố khai mạc Chương tŕnh Mục vụ Tam Niên, 18/01/2012 – 18/01/2015, để chuẩn bị mừng Kim Khánh Giáo phận vào ngày 18/01/2013 và 400 năm đón nhận Tin Mừng vào ngày 18/01/2015. Đặc biệt trong dịp này, Đức Giám mục Giáo phận cũng bổ nhiệm Cha Tân Tổng Đại diện, khi Cha Nguyên Tổng Đại diện Phanxicô Xaviê Đặng Đ́nh Canh đă hết nhiệm kỳ, không thể tái nhiệm v́ lư do tuổi tác và sức khoẻ.

Trước Thánh Lễ, Đức Giám mục Giáo phận đă tiếp đại diện các cộng đoàn tu sĩ phục vụ trong Giáo phận và chủng sinh đoàn đến chúc Tết. Ngài cũng tiếp Ban Thường vụ của tất cả các Hội đồng Giáo xứ trong Giáo phận, cũng như Ban Chấp hành các Đoàn thể, Hội đoàn và Phong trào cấp Giáo phận về chúc Tết tại Toà Giám mục.

Đúng 10g00, Thánh Lễ bắt đầu bằng đoàn rước từ Toà Giám mục. Linh mục đoàn Giáo phận và quư linh mục khách cùng hiện diện đồng tế với Đức Giám mục Giáo phận, cùng sự tham dự của đông đảo giáo dân. Ngay đầu Thánh Lễ, Cha Văn pḥng Ṭa Giám mục đă đọc Thư bổ nhiệm Linh mục Tân Tổng Đại diện. Đó là Cha Phaolô Maria Trần Quốc Việt, Quản xứ An Hải, Quản hạt Hội An. Cộng đoàn đă hoan hỉ chúc mừng khi Đức Giám mục trao hôn b́nh an và tận tay trao thư bổ nhiệm cho Cha Tân Tổng Đại diện, trước khi Ngài tuyên xưng đức tin trước mặt Đức Giám mục và cộng đoàn.

Như chúng ta biết, Cha Tân Tổng Đại diện là người không xa lạ với Ṭa Giám mục. Trước khi làm Quản xứ An Hải và Hạt trưởng Hội An, Ngài đă từng phục vụ 12 năm tại Toà Giám mục với chức vụ Thư kư và Quản lư trong suốt 3 đời Giám mục: 5 năm dưới thời Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách (1995-2000), trọn 6 năm dưới đời Đức Cha Phaolô Tịnh Nguyễn B́nh Tĩnh (2000-2006) và thêm 01 năm dưới thời Đức Cha Giuse đương nhiệm 2006-2007). Ngài thông thạo công việc tại Ṭa Giám mục cũng như am hiểu t́nh h́nh Giáo phận, nên thích hợp với nhiệm vụ mới này, nhất là trong hoàn cảnh Giáo Hội và xă hội hiện nay, như người chia sẻ trách nhiệm gần gũi nhất với Đức Giám mục.

Đức Giám mục Giáo phận cám ơn hai Cha nguyên và tân Tổng Đại diện. Trong bài chia sẻ Tin Mừng, Đức Cha đă nhắc lại lịch sử và ư nghĩa của Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Ngài đặc biệt nhắc đến Đức Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII và Công đồng chung Vatican II như hai nhân tố quan trọng trong phong trào cỗ vũ cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Đây cũng là Vị Giáo Hoàng đă ban sắc thiết lập Giáo phận Đà Nẵng ngay trong những tháng đầu của Công đồng Vatican II, ngày 18/01/1963. Chính v́ thế, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, người được đặt làm Giám mục Tiên khởi của Giáo phận mới, là nghị phụ của Công đồng này, đă không ngần ngại gọi Đà Nẵng là "Giáo phận của Công đồng". Trong Thánh Lễ này, Giáo phận cũng đặc biệt cầu nguyện cho Đức Giám mục tiên khởi, nhân kỷ niệm 24 năm ngày Ngài qua đời, 21/01/1988 tại Trà Kiệu, chỉ 03 hôm sau ngày mừng Ngân Khánh Giáo phận.

Trước khi kết thúc Thánh Lễ, Cha Antôn Trần Văn Trường, niên trưởng Linh mục đoàn Giáo phận, đă thay lời toàn thể cộng đoàn phụng vụ mừng Năm Mới, Xuân Mới quư Đức Cha, Cha tân và nguyên Tổng Đại diện, quư Cha và toàn thể cộng đoàn. Cha Nguyên Tổng Đại diện đă thay lời đáp từ, cám ơn và chúc Xuân đến mọi người.

Sau đó, Cha Văn pḥng Toà Giám mục đọc thư chúc Tết của Đức Giám mục Giáo phận, đồng thời cũng là thư công bố Chương tŕnh Mục vụ Tam niên cho toàn Giáo phận kể từ ngày hôm nay. Trước khi ban phép lành, Đức Cha Giuse cũng đă thay lời Cộng đoàn hiện diện mừng 50 năm tu ḍng của Nữ tu Saint Jean Trần Thị Anh, cũng tham dự Thánh Lễ hôm nay. Chị nguyên là Bề trên Giám tỉnh Tỉnh Ḍng Phaolô Đà Nẵng, hiện là Tổng Cố vấn của Hội Ḍng tại Rôma, đang về Việt Nam công tác. Chính tay Đức Cha Giuse đă thân ái tặng Chị một bó hoa tươi cùng với tràng pháo tay của Cộng đoàn hiện diện.

Thánh Lễ kết thúc, gia đ́nh Giáo phận từ các Đức Cha, quư linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh, đại diện các Hội đồng Giáo xứ và đoàn thể trong toàn Giáo phận, ban phụng vụ và ca đoàn Giáo phận đă cùng nhau dùng buổi tiệc đứng tại Hội trường Nhà thờ Chính Toà trong bầu khí sum họp, vui tươi và đầm ấm.

“Mùa Xuân mới đă đến trên quê hương. Hy vọng một Mùa Xuân mới cũng về với Giáo phận…”. Thư chúc Tết của Đức Giám mục Giáo phận đă viết như thế.

Ban Truyền Thông TGM

.......................

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh Giáo phận Đà Nẵng

< sẽ bổ sung >

Hính ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com