Tổng Giáo phận Huế

Nhà thờ Giáo xứ An Truyền

 

Nhà thờ Giáo xứ An Truyền
Giáo hạt Hương Phú


 

 

Địa chỉ : Phú An, Phú Vang, TTH   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Antôn Nguyễn Văn Thăng

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

 

Lễ Bổn Mạng

Đức Mẹ Thăng Thiên

Số giáo dân

765

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh Thánh Lễ Ban Bí Tích Thêm Sức tại Giáo xứ An Truyền (7/8/2016)
* Bế giảng khóa học hè 2016 và trao quà chuẩn bị năm học mới (30/7/2016)
* H́nh ảnh trao Chứng Chỉ Giáo Lư tại Giáo xứ An Truyền (12/9/2010)
* Thánh Lễ BAN CÁC BÍ TÍCH THÁNH THỂ, THÊM SỨC VÀ RƯỚC LỄ BAO ĐỒNG cho các em thuộc giáo xứ An Truyền (10/5/2009)

 

Lược sử Giáo xứ An Truyền

Giáo xứ An Truyền thuộc thôn Truyền Nam, xă Phú An Huyện Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên, ở hướng Đông và cách Thành Phố Huế khoảng 12km. Có nhà thờ dâng kính Đức Mẹ Thăng Thiên và do linh mục Trần Văn Doăn vẽ kiểu và đứng ra coi sóc làm năm (1887-1888) lúc Ngài ở họ An Truyền năm (1886-1911). Theo linh mục Hồ Đắc Liên, trước đây giáo dân An Truyền ở tản mát khắp làng An Truyền trong 4 giáp; sau nhờ sự can thiệp của Bà Từ Cung Hoàng Thị Cúc năm (1890-1980), phi của vua Khải Định, giáo dân được phép tập trung về một nơi và quây quần như hiện sống tại thôn Truyền Nam (?). Khó xác định được thực hư nhưng người đến họ An Truyền thấy hầu hết giáo dân An Truyền tập trung cả ở thôn Truyền Nam, hai bên lối vào và phía sau nhà thờ, nhà cửa sau san sát gần kề nhau, làm thành một quần thể họ đạo, nhỏ mà ấm cúng.

Nhà thờ An Truyền có nét cổ kính của những nhà thờ xưa ở Huế c̣n sót lại. Nhà thờ có 2 tháp h́nh vuông ở hai bên, xây bằng 3 tầng chồng lên nhau trên có mái ṿm uốn cong mềm mại với cây Thánh Giá ngự trên đỉnh hai tháp thông nhau bằng một lan can chạy từ bên nay sang bên kia.

Phía trước tiền đường nối liền hai tháp là một b́nh phong thấp hơn hai tháp, mà cao ở giữa với những trụ thấp nhỏ đứng chầu Thánh Giá ở giữa. Thoạt nh́n nhà thờ phảng phất kiến trúc Gopthique mặc dầu nhỏ hơn nhiều về kích thước.

Được biết nhà thờ xây bằng vôi hồ từ năm 1887 đến năm 1888. Mọi chi phí đều do giáo dân đóng góp, trích từ hoa màu đồng ruộng. Nhà thờ có kích thước 30 m x 16 m. Do lâu năm và chịu nhiều mưa gió của thời tiết khắc nghiệt miền Trung, nay nhà thờ phần lớn vôi hồ của nhà thờ nay đă vửa.

Hai tháp cao, trong chơ vơ, ḍn mỏng. Đây là một nét đẹp xưa, mang dấu ấn thời gian và mỹ thuật cần duy tŕ. Ḷng nhà thờ là một kiểu nhà rường truyền thống Việt Nam, kéo dài và đặt xoay chiều, lấp bề ngang làm bề dài và mở rộng bề sâu này tạo thành ḷng nhà thờ. Có hai hàng cột hai bên không chạm trổ ǵ nhiều nhưng xuyên mộng chắc chắn. Nhà thờ có hai hành lang hẹp, chạy dọc song song với ḷng nhà thờ, tạo ra sự ấm cúng và thuận lợi. Đặc biệt trong ḷng nhà thờ có treo bộ liễn bằng chữ Hán do Cha Anrê Doăn soạn và cho khắc trên những bảng gỗ dài, nền đỏ đen, c̣n chữ khắc ch́m thiếp vàng. Nội dung tóm tắc giáo lư công giáo. Các bức liễn treo dính vào hai hàng cột, khiến nhà thờ cổ kính càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm.

Ngoài ra, nhà thờ c̣n có thờ tượng Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng đất núng sản xuất tại Pháp hơn 100 năm. Trước đây, tượng đặt trên tháp nhà thờ, nay thỉnh xuống đặt bên trái trong nhà thờ để tránh mưa băo làm sụp đổ. Tượng có những nét mềm mại dịu dàng với khuôn mặt Mẹ thanh thản, hai tay áp vào nhau để sát trên ngực gần cổ. Nhà thờ c̣n có một chuông bên phải. Nghe nói chuông này có tiếng thanh đặc biệt và ngân dài. Trước đây, lúc giáo xứ An Truyền có Kiệu Môi Khôi vào tháng 10, các họ hội viên về dự kiệu, chuông trên được tán suốt cả buổi kiệu. Nay những người lớn tuổi c̣n nhớ và nhắc lại cách say sưa.

I. NGUỒN GỐC HỌ AN TRUYỀN

Theo gia phả họ Hồ Đắc viết bằng chữ Hán và được ngài Biên tu Hồ Đắc Tuyên dịch (23-12-1919) và được cụ Viễn Tôn Thượng Thư trí sự tộc thể Hồ Đắc Hàm duyệt vào năm bảo Đại thứ 16 (5-10-1941), th́ Ngài Hồ Công Đắc Mười là vị khai cang làng An Truyền cùng với ba họ khác: Nguyễn, Đoàn và Hồ. Ngài gốc Bắc, trước ở làm Phú Môn (Phú Lộc) và làng Nam Phổ, sau nhập tịch làng An Truyền, Huyện Phú Vang. Vào thế đại thứ 16 đời Lê triều thủ huân năm (1604), có hai ông Hồ Đắc Siêu và Hồ Đắc Viên theo đạo Thiên Chúa. Hai ông là hai con sau cùng của ông Bà Hồ Đắc An gồm 6 người: Quư, Thanh, Diễn, Dương, Siêu và Viên. Tiếc là sau đó, gia phả không tiếp tục ghi ḍng dơi hai ông và h́nh như đến đây hai ông bị loại ra khỏi gia tộc v́ theo đạo (?).

Như vậy vào năm 1604 (?) tại An Truyền đă có người theo đạo. Có thể hai ông Siêu và Viên đi buồn bán ở nước ngoài và đă theo đạo ở đây.

Hiện tại giáo xứ An Truyền có nhiều giáo dân mang họ Hồ Đắc và cỏ thể họ là hậu duệ của hai ông trên. Được biết năm 1940, Cha Hồ Đắc Liên được thụ phong linh mục và có ông Hồ Đắc Liên (trùng tên với Cha Liên) tri phủ Phú Vang, con ông Hồ Đắc Trung, đại diện tộc Hồ Đắc, đến chúc mừng.

Theo giáo xứ, trong báo cáo của Cha Labbé gởi về Hội Truyền Bá Đức Tin (Congregatióni de Propaganda Fide) năm 1701, họ chuôi (chuồn) thuộ các Cha Ḍng Tên Phụ trách (A.Launay, sđd T.1, tr 502). Chuồn là tên trước đây của họ An Truyền.

Hai ông Siêu, Viên cũng có thể là những giáo dân đầu tiên của giáo đoàn Đàng Trong. Vậy giáo Xứ An Truyền ra đời rất sớm năm (1604) hoặc sau nay năm (1701).

II. HỌ AN TRUYỀN SỐNG ĐẠO.

Trong quá khứ, các thừa sai là hiếm hoi. Thường một vị coi sóc một giáo đoàn. Hơn nữa, lại năng xảy ra các lệnh cấm đạo. Do đó, sống đạo và duy tŕ đức tin là thử thách đối với giáo dân. Họ An Truyền cũng không ở ngoài quy luật nay. Năm 1741, Cha Favre, thứ kư của Đức Cha Khâm Sai De là Baume, rời Huế vào Quảng Nam để về Âu Châu (14-6-1741), và đă trao cho thừa sai De la Court coi sóc địa phận trong đó có họ nay không được một thừa sai nào đến viếng thăm. Cụ thể năm 1747, trong danh bản sách họ đạo, họ An Truyền thuộc các thừa sai ngoại quốc Paris (M.E.P) coi sóc và số giáo dân lên đến 350, đứng thứ ba sau họ Phủ Cam 650 người và họ Thợ Đúc 400 người.

Trong thư Cha De la Court gởi Cha Bouracho (6-1742) th́ nhiệm vụ của Ngài là giúp những giáo dân cũ trở về lại với đạo. Một số giáo dân biết sám hối. Theo Cha De la Court, có một người bị quỷ ám (um example de possession) tại làng Khe Chuen (Kẻ chuồn) từng có khoảng 600 giáo dân (A. Launay, sđd T2, tr.99).

Như vậy giáo dân An Truyền trước đây có 600 người nhưng sau 10 năm vắng linh mục, số giáo dân giảm sút và chỉ c̣n một nữa.

Như vậy, có thể giáo xứ An truyền biết đạo sớm nhất vào đời Chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu năm (1691-1725) hay muộn lắm vào đời Chúa Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú năm (1725-1738) và vào đời Đức Cha Pérez năm (1691-1725) hoặc vào đời Đức Cha Alessandris năm (1728-1738). Có thể giáo xứ An Truyền đón nhận Tin Mừng nhờ các Cha Dong Tên hoặc Phan Sinh. V́ theo nhận xét của Đức Cha Alessandris trong một lá thư năm (1736) th́ lúc bây giờ có 6 vị Ḍng Tên và 4 vị Ḍng Phan Thừa Sai này về vùng quê hẻo lánh này để truyền giáo và có một số người An Truyền theo đạo và làm nên giáo xứ nầy.

Đây là giai đoạn mà đạo tương đối khó khăn với các cuộc cấm đạo của Minh Vương vào các năm 1700 và năm 1714 -1715. Có thể đó cũng là lư do cho thấy như Cha chính de la Court nhận xét giáo xứ An Truyền (Kẻ Chuồn) trong mười năm không được các vị Thừa Sai đến thăm và làm mục vụ v́ phải trốn tránh sự lùng bắt của chúa và các quan. Nhưng sau 10 năm vắng chủ chăn, giáo xứ kẻ chuồn vẫn c̣n hiện diện, vẫn c̣n người giữ đạo, đó là điều khích lệ và cảm kích, dù chỉ một nửa số người sống đức tin. Cần nhớ họ là những người mời theo đạo, sự hiểu biết c̣n quá ít để quư và giữ vững đức tin.

Năm 1861-1862 thời Phân Sáp, giáo dân An Truyền bị khắc tự và giam ở Cồn Hến (Cồn Soi) cùng với một số giáo dân các họ vùng Thừa Thiên Huế, tại các nhà giam công cộng, nay thuộc Phường Vỹ Dạ. Đây là điểm giam dành cho các giáo dân Huyện Phú Vang. Cồn Hến (Thanh Long), gọi vậy v́ ở đây có nhiều hến quần tụ sống dọc bờ cồn và nhân dân ở đây dùng ghe xuống nhỏ, chèo dọc bờ sông, lặn xuống dùng rá rỗ để vớt lên. Cồn Hến là một dăy đất bề ngang khoảng 500 m và dài khoảng 1,5 km. Được bao bọc bởi sông Hương. Từ cầu Trường Tiên nh́n xuống, thấy rơ dăy đất này. Những giáo dân An Truyền bị giam ở đây, má bị khắc tự tên Huyện. Lúc bấy giờ, không có chế độ nuôi tù, các giáo dân được cho về làng kiếm ăn, hoặc đi ăn xin v́ nhà cửa, ruộng vườn đều giao cho làng bên cạnh. Tối về nhà giam. Trong gần một năm, giáo dân An Truyền phải sống cảnh tất bật.

Tháng 8-1867, Đức Cha Sohier (B́nh) ra thông báo yêu câu các linh mục cho biết các xứ đạo trong địa phận, nhằm kiểm kê và ổn định các họ đạo sau các năm bắt đạo gay gắt của vua Tự Đức, nhất là sau Phân Sáp. Giáo xứ An truyền được chọn là địa sở với 6 giáo xứ: An Truyền, Cự Lai, Đồng Di, Mà Á, Sư Lỗ, Vân Dương. Cha địa sở là GB. Nguyễn Văn Mộ (Như Lư). Hiện tại năm (1994) các họ Đồng Di, Má Á, Sư Lỗ, Vân Dương không có mấy giáo dân, có giáo dân bị xóa sạch. Thực tế, chỉ có họ Cự Lai Và An Truyền là trụ được.

III. AN TRUYỀN VÀ KIỆU MÔI KHÔI.

Theo lịch sử họ An Vân của Lm St. Nguyễn Văn Ngọ, năm 1903 Cha sở Giuse Trần Văn Tĩnh được Đức Cha Caspar (Lộc) cho lập hộ Môi Khôi tại An Vân với 13 hội Phụ. Hy vọng Hội Môi Khôi ở An Truyền cũng ra đời vào giai đoạn này.

Được biết trong quá khứ, họ An Truyền tổ chức kiệu Môi Khôi hàng năm. Theo các ông bà lớn tuổi, mỗi năm vào tháng 10 dương lịch, giáo dân các họ gần xa như Hà Thanh, Hà Úc, Trài, Tân Mỹ, Quy Lai,…Chèo đ̣ đến ngoài phá rồi đi bộ lên. Các họ Mà Á, Sư Lổ, Ḥa Đa, Kim Long, Dương Sơn, Gia Hội đi bộ, đi thuyền về. Vào ngày kiệu, trên bộ th́ người đi đông vui như ngày Tết, dưới nước th́ ghe thuyền ra vào cập bến tấp nập, kẻ xuống người lên. Kiệu thường tổ chức vào buổi chiều. Suốt cả buổi kiệu, có tiếng chuông tán rộn ră giục giáo dân. Tán là một người cầm dùi mà giộng vào mặt chuông, và một người cầm hai thanh sắt mà gióng. Tiếng phát ra vang xa, khi bổng khi trầm, nghe xao xuyến trong ḷng. Đồng quê tịch mịch, cảnh vật th́ im ĺm, nay như được đánh thức. Cũng háo hức và sinh động khác thường.

Tưởng nên biết khoảng năm 1604, Ông Hồ Đắc Dương thấy vùng đất An Truyền khô cằn thiếu nước làm ruộng, ông có sáng kiến gả con gái cho một hào trưởng làng Vinh Vệ, sau đó lấy lư do tuổi cao sức yếu, không đi lại được, và xin làng Vinh Vệ đào hói vừa đủ rộng để đi đ̣ về thăm con. Lang Vinh Vệ y cho và ông xuất tiền thuê đào mương dẫn nước về An Truyền như hiện thấy và được giáo dân sử dụng để về kiệu Mẹ nói ở trên.

Đặc biệt khi kiệu về, có các màn múa hèo, múa bông để mừng Mẹ. Điệu vũ, bài ca mang tính tôn giáo. Các vũ viên vừa múa vừa hát, ban đầu múa tam xà (h́nh chữ S), lộn 1,2,4 rồi tứ trụ có người đứng trên hai tay cầm hai lá cờ ngr hành tượng trưng Chúa Giêsu khải hoàn. Người An Truyền giọng thô nhưng hát th́ giọng thanh hơn đàn bà!

Sau kiệu, họ c̣n c̣n mở hội liên hoan, đai đăng chè cháo các họ bạn gọi là tấm ḷng đối với khách thập phương. Có thể ăn uống là phụ, gặp gỡ là chính-gặp gỡ những người phục vụ và khách đạo.

Lúc này, họ An Truyền sung túc, có nhiều tài gia làm ăn phát đạt như Bộ Long, Bộ Chức, Hương Tuyển, Trùm Cẩn, Bộ Tương….

IV. HỌ AN TRUYỀN VÀ KINH SÁCH GIÁO PHẬN.

Hiện giáo dân có khoảng 745 người. Phần lớn sống rải rác trong các thôn Truyền Nam, làm nghề nón, nuôi vịt đồng. Nón lá An Truyền nổi tiếng khéo và tinh xảo nhất nh́ Thành Phố Huế. Trước đây nghe đâu một vị Thừa Sai đem nghề nón về Truyền cho bổn đạo. Họ vừa ngồi làm nón vừa thưa hỏi kinh nghĩa (giáo lư), hai bên đối đáp tăng thêm ḷng đạo và sự hiểu biết về đức tin. Người già th́ ngồi nghe và chỉ bảo cho con cháu nếu có chỗ nào đọc sai. Nghề nón nay vẫn c̣n nhưng hiện tương thưa hỏi kinh nghĩa trên không c̣n nữa. Có lẽ nên làm sống lại nếp sống đạo dân dă mà lợi ích này, về vật chất cũng như tinh thần. Về vật chất, vừa lao động vừa giải trí, có một nét nhân văn nhà đạo, độc đáo mà sâu xa. Về tinh thần, vừa thánh hóa công việc vừa giải thoát tâm linh. Có Thể từ Đông sang Tây, không có nơi nào như ở Việt Nam, người tín hữu lại biết hội nhập đạo vào đời sống cần lao như ở Giáo Phận Huế.

Trước đây, giáo xứ An Truyền có 10 mẫu ruộng nhất điền lương đống nhiều. Mỗi khi có việc cần dùng, chỉ cần bán lúa, ấy của họ mà chi dùng. Giáo dân An Truyền cũng khá đông. Nay sau những thập niên chiến tranh, họ đi làm ăn xa: Cà Mâu, Rạch Giá, Quảng Biên, TP. HCM. Riêng tại Quảng Biên, hàng năm vào dịp bổn mạng họ, lễ Mông Triệu, những người gốc An Truyền họp nhau mừng lễ, đông từ 4-500 người.

Nghe giáo dân Huế đọc kinh, phải nhận có cung đọc đặc biệt rất Huế, và phân biệt với các giọng đọc ở Bắc hay Nam. Có thể giọng đọc này phát xuất từ làng điệu Ca Huế, và được định h́nh tại An Truyền rôi phổ biến khắp giáo phận, trong đó có công lớn của Lm Anrê Trần Văn Doăn. Cha Doăn vốn giỏi kinh sách sành các làn điệu hát vẻ vản. Làng An Truyền lại nổi tiếng Hát Bội, do đó cha đă soạn kính sách, và đặt ra cả giọng đọc kinh. Nay một số kinh và giọng đọc c̣n lưu truyền trong giáo phận: kinh Thân lạy ông Thánh Giuse (?).

Có nhà văn quan niệm những ǵ đụng đến Đức Kytô đều trở thành bất tử. Kinh và đọc kinh là ngợi khen Thiên Chúa, là đụng vào, va chạm ngày chính Đức Kytô th́ lại có lư do để trở thành bất tử hơn nữa. Họ An Truyền đang sống bất tử nơi các kinh sách, nơi giọng đọc kinh khắp giáo phận. Cầu an khang thịnh vượng cho tổ quốc, cho giáo phận và họ đạo.

Giáo dân hiện có: 745 người năm (1995).

Câu đối ở nhà thờ xứ An Truyền

I. THẾ GIAN VÔ NHỊ NỮ
Thế gian không có người nữ thứ hai giống Mẹ.
CỨC LƯ HỮU ĐƠN HOA.
Trong bụi gai có một bông hoa đẹp

II. ĐỊA ĐÀNG CỨU VỊ SO NGUYÊN BẾ
Vườn địa đàng xưa bị tổ sơ nguyên đóng lại
THIÊN LỘ TÂN BẰNG TÁI TỐ THÔNG
Đường trời mới nhà ông tổ (Chúa giêsu) mở ra.

III. PHẦU TÂM LỊCH HUYẾT THỪA ÂN KHÁN HẬU NHÂN.
Mở tim đổ máu để người sau xem đấy mà biết ơn.
THỂ VẬT TIẾN H̀NH KIẾN CỰC DUY NGÔ CHỦ.
Mặc lấy h́nh người làm việc đó chỉ Chúa ta mới làm được.

VI. TỨ HẢI HÀM CA THÁNH CỬU TRÙNG.
Bốn bế đều ca ngơi Chúa Cửu Trung.
QUẦN LÊ CỘNG TÁN NỮ TRUNG LIỆT.
Dân chúng đều khen Bà có phúc hơn mọi người nữ.

V. VỊ TAM PHI SẮC DIỆC PHI KHÔNG.
Ba ngôi không h́nh sắc nhưng vẫn là đấng hằng hữu.
THỂ NHẤT THỊ CHUNG NHƯ THỊ THỦY.
Một Chúa có sau như có trước.

VI. NGỌC ẨN THẠCH DŨ HUY MINH CHẤT.
Ngọc dấu trong đá càng ngời chất sáng.
LIÊN SINH NÊ BẤT NHIỄM Ô PHONG.
Sen trong bùn chẳng nhuốm mùi hôi.

VII.TỊNH ÁCH NẶC DI LAI CHI CẤU.
Rửa sách vết nhơ do Eva để lại.
ỔN AN-NA DỤNG XUẤT CHI CHÂU.
Sáng ḥn ngọc từ thai bà Anna.

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ An Truyền

H́nh ảnh Thánh Lễ Ban Bí Tích Thêm Sức tại Giáo xứ An Truyền (7/8/2016)

Nguồn : Website TGP Huế

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]