Tổng Giáo phận Huế

Nhà thờ Giáo xứ Dương Sơn

 

Nhà thờ Giáo xứ Dương Sơn
Giáo hạt Hương Quảng Phong

 

Địa chỉ : Hương Toàn, Hương Trà, TTH   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục FX. Nguyễn Hoàng Hải (30/7/2015)

Tel

 

E-mail

http://giaoxuduongson.net/

Năm thành lập

 

Lễ Bổn Mạng

 

Số giáo dân

1200

Giờ lễ

Chúa nhật     : 

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Nội Quy Giáo Xứ 
                Video Sinhhoạt Gx Dương Sơn
                Videos Giáng Sinh 2012 : Phần I  -  II  -  III

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh Lễ Nhậm Chức Tân Quản Xứ Dương Sơn của Linh mục FX. Nguyễn Hoàng Hải (30/7/2015)

* Thánh Lễ Ban Bí Tích Thêm Sức tại Giáo xứ Dương Sơn (3/6/2012) - H́nh ảnh
* Giờ Chầu Thánh Thể toàn cầu 02.6.2013 tại Giáo xứ Dương Sơn
* H́nh ảnh Ngày Khánh Nhật Truyền Giáo 2010
* Lễ giỗ và tảo mộ hai vị tổ khai canh làng Dương Sơn
* Đức Cha Phụ Tá Ban Phép Thêm Sức Cho 77 Em Giáo Xứ Dương Sơn

 

Lược sử Giáo xứ Dương Sơn

Giáo xứ Dương Sơn thuộc xă Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có h́nh cánh cung, Đông giáp làng Cổ Lăo, Tây Bắc giáp làng Phước Yên, Tây giáp làng Xuân Đài, Đông Nam giáp Liễu Cốc Hạ. Cách trung tâm thành phổ Huế 8 km về hướng Bắc theo đường chim bay. Giữa một vùng quê phẳng lặng với những ruộng lúa trải dài, nhà thờ Dương Sơn (Được xây dựng lại dưới đời Quản xứ của cha Giuse Nguyễn văn Giáo: 1965-1969) nổi lên với chiếc tháp khá cao, thoạt trông gợi lên một cảm giác êm ả thanh b́nh.

I. NGUỒN GỐC LÀNG DƯƠNG SƠN.

Năm Bính Ngọ (1306), Chế Mân vua Chămpa dâng cho vua Trần Anh Tôn (1293-1316) hai châu Ô và châu Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân.

Đến năm Đinh Mùi (1307) triều đ́nh nhà Trần thâu nhận hai châu Ô và châu Rí, đổi tên lại là Hóa Châu và Thuận Châu, đồng thời cử tướng Đoàn Nhữ Hài thiết lập guồng máy cai trị và cho di dân từ Thanh, Nghệ, Tịnh và Bắc Quảng Trị đến lập nghiệp tại miền đất mới này.

Trong số đó có hai vị Họ Phan và Họ Trần khai canh, khai khẩn làng Dương Sơn. Về sau nhiều họ, phái khác đến sinh sống, đồng lao cộng khổ, xây dựng và phát triển quê hương hiện tại.

Ban đầu vua Lê Thái Tổ (1428-1433) đặt tên là xă Dương Loan, về sau chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558-l6l3) khi vào trấn thủ đất Thuận Hóa (Thừa Thiên) đă đổi tên lại là Dương Sơn.

Diện tích gồm: Phía trước 25 ha ruộng lúa, phía sau 25 ha vừa làm thổ cư vừa làm đất canh tác hoa màu phụ bên ḍng hữu ngạn hạ lưu sông Bồ. (l)

Dân làng ngày xưa sinh sống bằng nông nghiệp, trồng dâu nuôi tằm, bẫy chim lái cá. Ngày nay: Nông nghiệp, nấu rượu nuôi heo và chằm nón.

Dân số: Năm 1747, đời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát chỉ vỏn vẹn 80 người. Đến năm 1922, đời Khải Định 722 người. Đầu năm 1996, thống kê ghi nhận được 1100 người (nếu tính cả 1060 người ngoại tỉnh và 107 người ở hải ngoại th́ dân Dương Sơn là 2267 người).

II. NGUỒN GỐC GIÁO XỨ DƯƠNG SƠN.

2.1 H́nh thành giáo xứ.

Năm 1615, các linh mục F. Buzomi và Diego Carvallo cập bến Hội An, khai mở công cuộc truyền giáo lần ra phái Bắc, từ bấy giờ giáo phận Huế và trong đó có giáo xứ Dương sơn được h́nh thành.

2.1.1. Giai đoạn I:

Huế trực thuộc giáo quyền Đàng Trong (1665-1844).

Năm 1658, Đức Thánh Cha Alexandre VII ra sắc lệnh cử Đức Cha Lambert de la Motte làm đại diện Tông Ṭa ở Đàng Trong.

Các nhà truyền giáo gồm các giáo sĩ ḍng Tên, các vị Thừa Sai Pháp và Ư, các linh mục ḍng Phanxicô và các linh mục Việt Nam. Trong 8 linh mục người Việt có 5 vị đến truyền giáo tại Huế là: Emmanualê Bổn, cha Maurau Lộc, cha Phanxicô Vân, cha E. Low và cha Tađêô Nghiêm. Riêng cha Bổn đă làm việc tại đây từ năm 1672-1698. Đồng thời vào năm 1696 giáo xứ Dương Sơn đă chính thức có tên trong bản báo cáo mà cha Labbé, cha Chính địa phận đệ tŕnh Ṭa Thánh. Như vậy, có thể khẳng định là cha Emmanualê Nguyễn Văn Bổn đă thành lập được giáo xứ nầy. (2)

Trong giai đoạn trên, khó khăn lớn nhất là đạo Công giáo không được triều đ́nh chấp nhận: Sự có mặt của các Thừa sai nước ngoài trên đất Việt Nam là bất hợp pháp, người Việt Nam mang trong ḿnh hoặc tàng trữ trong nhà ảnh tượng, đồ đạo, sách đạo, đều bị kết án. Như vậy giáo đoàn Huế được xây dựng bằng máu đào tuẩn tiết. Giáo xứ Dương Sơn cũng đă đóng góp máu ḿnh vun tưới cho giáo hội địa phương.

Được biết, thời Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) một số giáo dân Dương Sơn phải mang án “thảo tượng” Cổ mang xiềng ba tao với miếng đồng khắc hai chữ “tả đạo” Thời Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản năm Mậu Ngọ 1798, Dương Sơn và 4 giáo xứ khác đă cống hiến 30 vị tử đạo. Thời Minh Mạng, vụ làng Cổ Lăo (Mông Phụ) kiện Dương Sơn (1829-1831) (3) về điền thổ sau chuyển sang vụ án tôn giáo. Minh Mạng trực tiêp đứng ra thụ lư nhận thấy sự phát triển nhanh chóng của Công Giáo (theo Đại Nam thực Lục). Thường Dụ cấm đạo ngày 6-1-1833 của Minh Mạng đă giải tán Chủng viện và Tu viện Mến Thánh Giá Dương Sơn mà cha Jaccard đă lập năm 1829. Và nhà thờ cũng bị dở bỏ.

Trong t́nh h́nh khó khăn ấy, giáo xứ Đương Sơn vẫn can đảm đón tiếp các đấng bề trên đến ẩn náu và thi hành Mục vụ: Đức cha Gioan Labertte, cha De La Motte (Ư), cha Gioan Nhơn, cha Nguyễn Ḥa An, cha Thánh tử đạo Gioan Đoạn Trinh Hoan.

2.1.2. Giai đoạn II.

Huế trực thuộc giáo quyền Quy Nhơn (1844-1650).

Năm 1844, Đức Grégoire XVI ban sắc lệnh tách Quy Nhơn và Huế ra một giáo khu dưới quyền Đức cha Cuénot (Thể) và tháng 10-1846 Cha Pellerin được thăng chức Giám mục phó. Ngài đă đi kinh lược ba tỉnh Thiên, Trị, B́nh và thường ẩn trú ở Dương Sơn. Cũng tại đây cha GB. Bùi Văn Ngôn (1832-1859) hay lui tới trốn tránh và làm mục vụ, ngài đi giải tội và trao ḿnh Thánh Chúa cho thánh Anrê Trần Văn Trông và thánh Xi mong Phan Đắc Ḥa.

2.1.3. Giai đoạn III.

Huế với ṭa Giám mục biệt lập (1850-1960).

Năm 1850, Đức Piô IX ban sắc lệnh thành lập khu đất ở giữa đèo Hải Vân và sông Danh làm một giáo khu biệt lập, dưới quyền Đức cha Pellerin (Phan). Năm 1851, cha Sohier (B́nh) được thăng chức trợ Giám mục, và năm 1856 Ngài đă thay Đức cha Phan cai quản địa phận, có đến ban phép Thêm sức tại Dương Sơn. Bảy năm sau ngài lại đến kinh lược. Trong thời kỳ nầy có rất nhiều Linh mục đến phục vụ tại Dương Sơn.

Như vậy việc mở đạo đầu tiên tại Dương Sơn là do các Thừa sai Paris hoặc thầy giảng, v́ các cha ḍng Tên không c̣n truyền giáo ở Huế (1665-1719). Hoặc do cha Manuêlê Bổn từ chủng viện Juthia (Thái Lan) về truyền giáo ở Thừa Thiên (1672-1698). Cụ thể năm 1696, cha Labbé qua Vatican và đệ tŕnh Ṭa Thánh một danh sách các giáo xứ ở Huế trong đó có Dương Sơn -(Lm Stanislao Nguyễn văn Ngọc, lịch sử giáo xứ Dương Sơn (Huế) Từ thế kỷ thứ 14 tới thế kỷ 20, 1982-1983, bản viết tay, trang 2).

Vậy cứ sự mà xét, giáo xứ Dương Sơn là chính thức ra đời vào năm 1696 và được đăng kư ở Rôrna vào năm nầy.

C̣n về hành chánh dân sự, th́ xă Dương Loan (Dương Sơn) được thành lập vào năm 1428 và thuộc huyện Đan Điền (Quảng Điền) (Dương văn An - Ô Châu Cận Lục 1551). Đặc biệt năm 1626, lúc chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) dời dinh vào làng Phước Yên th́ Dương Sơn ngày một thêm đông dân.

III. IIỌ DƯƠNG SƠN VÀ MỘ ÔNG CỔ

Án thảo tượng là án bứt cỏ nuôi voi của chúa, có tính cách chung thân. Án nầy được lập dưới đời chúa Minh Vương Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) và kéo dài đến chúa Huệ Vương Nguyễn Phúc Thuần (1756-1777). Đời Minh Vương, 49 giáo dân bị khắc Thánh Giá ở trán; các đời khác mang miếng đồng “tả đạo ”

Trong quá tŕnh thực hiện án nầy, có nhiều giáo dân thọ án hơn 20 năm như thừa sai Pigneau de Beshaine cho biết. (A. Launay, sđ T2, tr. 410-412) và cha Labartette nói rơ đó là ông Đamianô (Lm Stanislao Nguyên văn Ngọc, tài liệu đă dẫn, tr.69).

Đặc biệt tại họ Dương Sơn, lúc Cha Reyne (Cố Phú) là Cha sở họ Dương Sơn (1922-1936), cho cải táng ngôi mộ gọi là “ Mă Ông Voi” để xây nhà thờ th́ thấy c̣n ít xương và một dây xiềng ba tao với miếng đồng khắc hai chữ “Tả đạo”. Có thể đây là mộ giáo dân Dương Sơn bị án thảo tượng dưới đời Huệ Vưong, bị chết rũ tù và đem về an táng tại vườn nhà Thờ.

Năm 1935 Cố Phú (Reyne) cho dời mă “ Đồng Nhi” để quy hoạch nghĩa trang thấy có xiềng và thẻ mang chữ ‘Tả đạo”, Ngài nhận đỏ là mă của Vị bị án thảo tượng, có thể chết tại Dương Sơn hoặc ở một nơi nào đó rồi đem về chôn ở đây.

Năm 1968 Cha Giuse Nguyễn văn Giáo quản xứ Dương Sơn (1965-1969) cho khởi công xây nhà Thờ mới, hai hài cốt trên được dời từ phía sau lưng nhà Thờ cải táng ra chôn dưới lễ đài Đất Thánh (nghĩa trang) của Giáo xứ Dương Sơn. Và Cha Reyne đă gởi các bộ dây xiềng và thẻ đồng qua viện bảo tàng Thừa sai Paris cất giữ. (4)

Như vậy, ít ra giáo xứ Dương Sơn đă có hai giáo dân bị án thảo tượng và chết v́ án nầy, các dây xiềng và thẻ ghi “Tả đạo” là bằng chứng hùng hồn. Các Ngài là con cái Dương Sơn và đă về an nghỉ giữa ḷng đất quê hương, một vùng trời man mác hương Đạo.

IV. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ SỰ CAN ĐẢM ĐÓN TIẾP CÁC VỊ CHỦ CHĂN.

Như nói trên, dụ cấm đạo ngày 6/1/1833 của vua Minh Mạng tạo ra nhiều khó khăn cho giáo đoàn Huế.

Trong t́nh h́nh khó khăn chung ấy, giáo xứ Dương Sơn vẫn can đảm đón tiếp các đấng bề trên đến ẩn náu và thi hành mục vụ: Đức Cha Gioan Labartelle (Người đă ban tặng cho Dương Sơn hài cốt của Thánh Lm. Emmanuel Nguyễn văn Triệu 17/9/1798). Cha De la Molte (Y), Cha JB Nhơn, Cha Nguyễn Ḥa An, Cha Thánh Gioan Đoạn Trinh Hoan.

V. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ ĐỨC CHA PELLEREN (PHAN) (1848-1863).

Năm 1648, Đức Cha Pellerin, phó Giám mục Cuénot (Thể) từ Quy Nhơn ra Đà Nằng, rồi dùng ghe ra cửa Tư Hiền, tại đây Ngài được Thánh Micae Hồ Đ́nh Hy đưa đ̣ xuống phá cầu Hai rước lên Huế. Sau khi thăm viếng các họ phụ cận, Đức Cha kinh lược họ Dương Sơn và ẩn tại đây.

Nhưng vào tháng 8 năm 1848, Ngài phải rời Dương Sơn v́ lệnh cấm đạo của vua Tự Đức và lên An Vân rồi ra Di Loan (9-1849). Tuy vậy, Ngài vẫn t́m cách vào họ Dương Sơn khi có thể, như ban phép Thêm Sức (1853). Đức Cha phó Sohier (B́nh) cũng từng ghé thăm họ Dương Sơn trên đường lên An Vân (12-1853).

Lúc bấy giờ đường đi chưa có. Giáo dân các họ phải đi đầu dẫn đường. Giáo dân Dương Sơn cũng vậy, phải xẻ núi băng rừng để đón Đức Cha Pellerin từ Dương Sơn lên An Vân rồi trở về lại mà quay ra Di Loan. Đọc được sự hy sinh nầy, Đức Cha đă dành cho họ nhiều t́nh cảm sâu đậm.

VI. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ THÁNH EMMANUEL TRIỆU.

Năm 1798 Thánh Triệu được phúc tử đạo tại chợ Được (Mụ Đặng) Phía bên kia cầu Gia Hội ngày nay và chôn gần đó. Năm 1803, họ Dương sơn mới dựng lại nhà Thờ mới và Đức Cha Labartette cho cải táng Thánh Triệu và rước về. Các giáo dân kinh đô Phú Xuân có mặt trong cuộc thỉnh hài cốt vị tử đạo. Ngày 21-7-1996, Đức Tổng Giám Mục Huế Stêphanô Nguyễn Như Thể cho đua hài cốt Thánh nhân đến giáo xứ Thợ Đúc. C̣n thủ cấp của Ngài vẫn được họ Dương Sơn cất giữ. Quê hương cùa Thánh nhân là làng Kim Long (Phú Xuân). (5).

VII. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ CHA THÁNH JACCARD (PHAN VĂN KINH).

Trong các năm đầu triều, vua Minh Mạng chưa cấm đạo. Năm 1825, vua hạ lệnh canh pḥng các cửa biển không cho Thừa sai nước ngoài vào nước. Năm 1827, buộc các Thừa sai hiện có mặt về Huế dịch sách. Bị tố giác, Cha Jaccard đang ở chủng viện An Ninh, được mời vào Huế (8-1828) và cho ở lại họ Dương Sơn để tiện đi lại.

Năm 1828 cũng là năm Toàn Xá, Cha Jaccard tổ chức các lễ mừng long trọng cho họ Dương Sơn và các họ lân cận.

Năm 1829, Cha Jaccard đưa chủng viện từ An Ninh vào Dương sơn và chủng viện nầy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (1829-1833). Cũng năm nầy, Ngài chuyển ḍng Mến Thánh Giá Di Loan vào đây và lập tu viện Mến Thánh Giá Dương Sơn.

Tháng 3-1830 nhân tứ tuần của vua Minh Mạng, Cha Jaccard được phép tổ chức tại Dương Sơn 3 ngày lễ cầu an. Giáo dân Huế, kể cả mấy quan lớn và chị vua cũng tới dự.

Như vậy, với Cha Jaccard, họ Dương Sơn đă sống những năm tháng đầy sốt sắng, một số sinh hoạt tôn giáo được khởi sắc và hai ḍng tu lớn: Chủng viện và tu viện được mở ra tại đây. Nhưng niềm vui chưa được dài th́ vụ tranh cải ruộng đất xảy ra, sau biến thành vụ tôn giáo (1831-1832). Kết quả ông cựu lư trưởng xử tử giam hậu. ông lư trưởng Tài chung thân ở Nghệ An, một số lính bị khổ sai chung thân, tại Quảng Ngăi 7 người và Thanh Hóa 6 người, số c̣n lại bị đánh 100 trượng và phơi nắng 2 tháng, đàn bà chỉ bị đánh và cho về. Tất cả gồm 72 giáo dân.

Riêng Cha Thánh Phan ở Cung Quán gần một năm (7-1832 đến 6-1833), rồi bị đày lên Lao Bảo (2-12-1833 đến 9-1835) đưa về lao Cam Lộ (9-1835 đến 6-1838) rồi đưa về Quảng Trị (7-1838) và bị xử giảo cùng với Thánh Tôma Thiện (21-7-1838) tại Nhan Biều, gần sông Thạch Hăn, Quảng Trị, kết thúc một đời truyền giáo...Chỉ có những lương dân đă đào huyệt chôn hai Vị trên băi cát trắng, gần ḍng sông vắng vẻ. Trước cái chết mọi người đều b́nh đẳng và người Việt Nam đă xử sự một cách nhân hậu. Đẹp như bầu trời Nhan Biều và êm ả như ḍng sông Thạch Hăn.

VIII. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ SẮC DỤ PHÂN SÁP.

Sắc dụ “ Phân sáp” của vua Tự Đức kéo dài từ 12/8/1861 đến 13/7/1862, đă đưa Dương Sơn vào chung cảnh ngộ bi đát với toàn thể Địa phận: Giáo dân 15 tuổi trở lên bị khắc tự trên má. Bị phân tán vào các làng lương. Nhà cửa ruộng vườn đất đai bị tước bỏ. Nhà cầm quyền tự do hành hạ đập đánh.

Năn 1862, vua Tự Đức kư ḥa ước Nhâm Tuất, có lệnh cho Công giáo “Ai về nhà nấy” và ḥa ước năm 1874: “Băi bỏ các dụ cấm đạo trước và nhân dân được tự do hành đạo”

Cũng như các họ đạo vùng Kinh đô Huế, họ Dương Sơn cũng trải qua những kinh nghiệm sống đạo đặc biệt, có kinh nghiệm đụng đến xương máu, tha hương và Phân Sáp. Như Đại Nam Thực Lục cho biết: “Việc bị phát giác (theo đạo), quan Phủ gọi tất cả lên công đường, hiểu thị hai ba lần, nhưng rốt cuộc không một người nào xin xuất giáo cả” ( Đai Nam Thực Lục Chính Biên, Nxb Khoa học Hà Nội, 1964, tr.84).

VIII. VÀI TIIƯ TỊCH VỀ VỤ ÁN DƯƠNG SƠN.

“Năm Nhâm Thân (1832) Minh Mệnh thứ 13 tháng năm..

“Ở Thừa Thiên có xă Dương Sơn (thuộc huyện Hương Trà), dân xă bị mê hoặc theo tà giáo Datô đă lâu, cất nhà thờ, thờ Thiên Chúa, tôn người Tây là Phan văn Kinh (tức Linh mục Jaccard) làm đạo trưởng, hội họp nhau giảng đạo, đọc kinh. Việc bị phát giác, quan phủ gọi tất cả lên công đường hiểu thị hai ba lần, nhưng rốt cuộc không một người nào xin xuất giáo cả. Vua giao xuống Bộ H́nh nghị xử. Bộ xin xử thủ phạm là cụ Lư trưởng Phan văn Khoa, án giảo giam hậu, ṭng phạm là Lư trưởng Trần văn Tài án đi đày 3.000 dặm. Cách chức đội phó Vũ Lâm là Trần văn Sơn, binh dân 13 người th́ đều đóng gông nặng trong một tháng, măn hạn xong đánh mỗi người 100 trượng rồi phân phát làm lính ở các xứ Quảng Ngăi, Thanh Hóa. C̣n các dân đàn ông, đàn bà khác th́ đánh trượng, đánh roi rồi thả. Đạo trưởng Phan văn Kính th́ xử giảo giam hậu, nhà Thờ th́ dở bỏ. Án nghị xong đưa lên, vua sửa lại Trần văn Tài phát làm lính ở Trấn Ninh, Phan văn Kính v́ là dân man di ở ngoài cỏi ngoài xa xôi, chưa rơ luật pháp, gia ơn cho phạt làm lính ở Phủ Thừa Thiên, quản thúc chặt chẻ không cho ra ngoài để có thể truyền giáo được. C̣n các tên phạt làm lính như Trần văn Sơn v.v.. tên nào phạt đi Quảng Ngăi th́ gọi là lính Phục Nghĩa, tên nào phạt đi Thanh Hóa th́ gọi là lính Phục Hóa, phân biệt với các sắc binh khác. ”

(Dẫn lại lời trích của ông Dương Bá Cần trong bài “Vua Minh Mạng với người Công Giáo” (từ đầu 1820 đến cuối 1832) Công Giáo & Dân Tộc, xuân Bính Tư 96 số 14 tháng 2 năm 1996, tr.122-123).

Vụ án Dương Sơn kéo dài suốt năm 1831 và tới giữa năm 1832 mới chấm dứt. Thừa sai Taberd viết về vụ án nầy như sau:

“Bản án cuối cùng đă được chấp thuận ngày 12-6-1832... Lư trưởng là người Công Giáo bị kết án tử h́nh, phụ tá của ông ta bị lưu đày, 12 hay 13 người đàn ông phải đi phục vụ quân đội trong những vùng xa. Các Cai đội bị giáng xuống làm lính trơn. Tất cả đàn ông và đàn bà bị đánh 100 trượng mỗi người: Sau đó đàn bà được tha về, nhưng đàn ông bị một cực h́nh khốn cực hơn nữa là bị ngồi ngoài nắng hai tháng. Linh Mục Jaccard quyền đại diện Tông Ṭa của tôi, đáng lẽ phải tử h́nh như là đạo trưởng của một tà giáo, dụ dỗ và làm hư hỏng dân chúng. Nhưng nhà vua muốn tỏ ra khoan hồng đă chỉ kết án ông phải phục vụ đạo quân thứ hai có nhiệm vụ bảo vệ Kinh Đô... “ (Dẫn lại lời trích của Trương Bá Cần bdd .tr. 122)

Qua hai thư: Một của Đức Cha Taberd và một của Cha Jaccard, vụ án Dương Sơn tương đối được tường thuật khá chi tiết và hấp dẫn, vừa bi vừa hùng. Bi là cựu Lư trưởng Phan văn Khoa bị án giảo (thắt cổ) giam hậu, án có đó và chờ sẵn, Lư trưởng Trần văn Tài th́ đày biệt xứ ra Bắc, ngàn trùng xa cách. Trần văn Sơn và 13 quân nhân đóng gông một tháng, đánh 100 trượng, phơi nắng hai tháng rồi người bị đày đi Quảng Ngăi, kẻ Thanh Hóa, đàn bà và các đàn ông bị đánh 100 trượng rồi tha, Cha Jaccard th́ làm lính. Hùng : Mặc dầu là giữa trăm ngàn thử thách, tra khảo, đánh đập, các giáo hữu Dương Sơn vẫn không nao núng mà xin xuất giáo. Nhà viết sử Đại Nam Thực Lục lúc bấy giờ đă phải hạ bút ghi cách cảm phục: “Rốt cuộc không một người nào xin xuất giáo cả”. Lời xác nhận khách quan và có tính lịch sử nầy là một tuyên xưng Đức tin thay cho các giáo dân Dương Sơn bị bắt và xét xử, cũng như cho tất cả họ đạo Dương Sơn.

Riêng Cha Jaccard không giản dị bị phạt làm lính cách nhẹ nhàng như Ngài hóm hỉnh viết, mà như nói ở trên, bị đày lên Lao Bảo, Cam Lộ và cuối cùng bị xử giảo (thắt cổ) tại Nham Biều gần ḍng sông Thạch Hăn. Ngài dùng mạng sống ḿnh làm thành một Thánh Thư Credo (Tôi Tin Kính) dâng lên Thiên Chúa.

X. HỌ DƯƠNG SƠN VÀ CÁC LINH MỤC QUẢN XỨ.

1. Cha Manuêlê Nguyễn văn Bổn 1672-1698.
2. Anrê Nguyễn Ḥa An 1805-1841.
3. GB Nhơn 1786-1814.
4. Jaccard (Cố Phan văn Kinh) 1838-1832.
5. GB Bùi Văn Ngôn 1832-1847.
6. Nhàn (Da Môn) qua đời tại đây 1883
7. Mactinô Nguyễn Văn Thanh (An Vân) giải tội cho Thánh Hồ Đ́nh Hy tại pháp trường An Ḥa.
8. Phaolô Trần Hữu Ninh (Da Môn) 1853-1856.
9. Giuse Nguyễn văn Mỹ (Da Môn). Mất tại Dương Sơn năm 1858.
10. Anrê Nguyễn Ngọc Thoại (Da Môn), Giải tội cho Thánh PX. Trần văn Trung (1858) và thánh Giuse Lê đăng Thị (1860).
11. Gioan Đoạn trinh Hoan 1842-1845.
12. PX Trương văn Thường (Ngọc Hồ) 1862-1881: Làm lại nhà Thờ Dương Sơn.
13. Joseph Allys (Cố Lư) 1881-1885. Cương quyết ở lại sống chết với Dương Sơn thời Văn Thân trong chiến dịch “B́nh Tây sát Tả” (1883-1886).
14. Pierre Guillot (Cố Cao) 1886-1921: Truyền giáo cho 8 làng lương dân chung quanh Dương Sơn, xây nhà Thờ bằng ngói lần thứ nhất và tháp chuông vẫn c̣n tồn tại (làm di tích lịch sử).
15. Phêrô Huỳnh văn Thể 1895.
16. Phillipphe Petit (Cố Kư) 1879-1899.
17. Antôn Nguyễn Đức Tú 1907-1911.
18. Batô Nguyễn phùng Nhơn 1900-1904.
19. Auguste Hilaire ( Cố Trí) 1921-1922. Xây thêm nhà xứ cho cố Claude Bonnin (Ninh) ở hưu.
20. Elie Reyne (Cố Phú) 1922-1936. Xây nhà Thờ ngói (1926) lần thứ hai
21. Phaolô Nguyễn Văn Hườn (Hương Lâm) 1936-1941. Xây nhà thờ tu viện Dương Sơn và nhà Thờ họ nhánh Hương cần.
22. Dom. Lê Hữu Luyến (Di Loan) 1944-1945.
23. Phêrô Nguyễn Văn Bảng (Tam Ṭa) 1945-1946.
24. GB Nguyễn Văn Hân (Nhu Lư ) 1946-1949. Với cha phó Ximong Ḥa Nguyễn văn Hiền.
25. GB Vơ Văn Hoằng 1949-1951.
26. Giuse Trần Văn Tường (An Ninh) 1952-1955
27. Antôn Nguyễn Văn Bằng (Tam Ṭa) 1955 - 1965.
28. Giuse Nguyễn Văn Giáo (Ḥa Ninh) 1965 - 1969. Xây nhà và một tu viện hiện tại và một hội quán.
29. Phaolô Mai Xuân Hiến (Tam ṭa) 1969
30. Giacôbê Nguyễn Văn Ngọc (Buồng Tằm) 1965 - 1975.
31. Phaolô Nguyễn Văn Triệu (Kim Long) 1975
32. GB Hồ Đắc Liên (An Truyền) 1975 - 1987
33. Gioakim Lê Thanh Hoàng (Trí Bưu): Giám quản từ tháng 11/1986. Quán xứ từ tháng 4/1996 - 2005. Cha đă tạo nên bộ mặt Dương Sơn ngày nay.
34. Giuse Nguyễn Văn Chánh (Phủ Cam): Đương kim quản xứ (10-2005). Năm 2007 đại trùng tu nhà thờ và xây mới thêm một nhà mẫu giáo. Năm 2008 xây thêm nhà Cha sơ. Các công tŕnh đă tô điểm cho khuôn viên Thánh Đường giáo xứ Dương Sơn thêm khang trang và đẹp đẽ

XI. CÁC LINH MỤC CHÁNH QUÁN DƯƠNG SƠN

Chính nhờ ḷng tin son sắc của các tiền nhân và sự hy sinh phục vụ tận tụy của các vị tông đồ, các linh mục quản xứ mà giáo xứ Dương Sơn đă có những thành quả quư giá. Trong đó, phải kể đến những tu sĩ và những linh mục xuất thân từ mảnh đất này:

1. Cha Nhượng (Mong) đời Gia Long
2. Phêrô Nguyễn Văn Lập (An Thuận) Linh mục năm 1904
3. Alexis Phan Đức Sắc Linh mục năm 1918
4. Hier Nguyễn Văn Lục Linh mục năm 1920
5. Phaolô Trần Kim Khánh Linh mục năm 1932
6. Tôma Trần Văn Sâm Linh mục năm 1932
7. Đôminicô Đỗ Quang Thừa Linh mục năm 1949
8. Phêrô Phan Văn Trọng Linh mục năm 1950
9. Phan Đ́nh Cho Linh mục năm 1974
10. Đaminh Phan Hưng Linh mục năm 1997
11. Antôn Huỳnh Đầy Linh mục năm 2000
12. Phanxicô xaviê Phan Chiếm Linh mục năm 02/12/2004
13. Phêrô Phan Văn Tươi Linh mục năm 25/07/2006
14. Giuse Đặng Văn Nhiên Linh mục năm 01/01/2007
15. Banabê Trần Đ́nh Phục Linh mục năm 01/01/2007
16. Đaminh Phan Châu Bảo Linh mục năm 26/07/2007
17. Phêrô Phan Văn Lợi...........................(6)

* Nữ tu khấn:

1. Anna.................... Phan Thị Chiêm Con Đức Mẹ đi viếng.
2. Luxia................... Trần Thị Thương Mến Thánh Giá
3. Anna.................... Trần Thị Lư Mến Thánh Giá
4. Catarina............... Trần Thị Nghĩ Mến Thánh Giá
5. Anna.................... Trần Thị Vang Mến Tháng Giá
6. Anna.................... Trần Thị Tương Mến Thánh Giá
7. Phan Thị Sao Mến Thánh Giá
8. Phan Thị Hải Mến Thánh Giá
9. Anna.................... Trần Thị Ngôn Mến Thánh Giá
10. Trần Thị Thuận Mến Thánh Giá
11. Anna.................. Trần Thị Hường Mến Thánh Giá
12. Célestin............. Trần Thị Thử Saint Paul
13. Thescla.............. Trần Thị Giồng Ḍng Đức Bà
14. Phan Thị Thảo Con Đức Mẹ đi viếng
15. Nguyễn Thị Xoan Con Đức Mẹ đi viếng
16. Trần Thị Kim Nữ Saint Paul
17. Anê ................... Đặng Thị Thanh Con Đức Mẹ đi viếng
18. Đặng Thị Thi Saint Paul

* Nam tu khấn:

1) Thầy Giaokim Hoàng Hạng..................... chết năm 1968. Trợ sĩ ḍng Chúa Cứu Thế Huế.
2) Nguyễn Năm............................... Tu sĩ Ḍng Phanxicô tu viện Phước Ḥa, Long Thành, Đồng Nai.

Tổng số giáo dân Giáo xứ Dương Sơn đến cuổi năm 2009 là: 1169 trong đó 576 nam và 593 nữ.

Trong hơn 315 năm qua, Giáo xứ Dương Sơn đă không ngừng phát triển, ngay cả trong những thời kỳ khó khăn nhất. Tất cả là Hồng Ân. Xin tạ ơn Chúa.

...............................oOo..............................

** Chúng con dựa vào bản photocopi đa phần giữ nguyên văn, chỉ có một ít từ xin được sửa lại. Và có một số nhân vật cũng như một số chi tiết, chúng con cảm thấy cần bổ sung để mong bản lược sử của Giáo xứ chúng con hoàn thiện hơn.

* CHÚ GIẢI:

(1) - Theo truyền khẩu của một sổ người, hai vị họ Phan và họ Trần khi định canh định cư tại Dương Sơn, có khai phá thêm 100 mẫu ta (50ha) tại vùng Văn Xá, Hương Chữ, Hương Trà. Làm khu đất để bẩy chim. Một thời gian sau đem cho và đổi chác. (Các ông: Phan Phấn 1910, Trần Măi 1915, Trần Thiết 1922, Trần Binh 1922).

- Có một số Họ Tộc trước đây nguyên gốc là họ Phan, v́ không tuân thủ lệnh Làng hay v́ một bất đồng nào đó nên bị đổi thành họ khác như: Tộc ông Trần Măi, ông Nguyễn Đỉnh, ông Đỗ Diện ...

(2) NGUỒN GỐC GIÁO XỨ DƯƠNG SƠN.

Phần ghi chú: Tài liệu bổ túc về làng Dương Sơn của Linh mục Phan văn Trọng ........(?) (tr.546)

Năm 1307 hai vị họ Phan và họ Trần từ Hà Tĩnh vào Khai canh, Khai khẩn và định canh định cư tại Làng Dương Sơn (ngày nay) thuộc vùng đất Thuận Hóa (Thừa Thiên).

- Theo gia phả Họ Phan Thừa Thiên Huế: Ông Tổ họ Phan là Phan Hách ở Hà Tĩnh có ba người con vào ở Thừa Thiên Huế. Một người ở Phú Bài, một người ở Nông, và một người ở vùng Cồn Nỗi ( Dương Sơn có địa danh Cồn Nỗi ở bến đ̣ La Vân, nơi Thánh Hồ đ́nh Hy khi đi xuồng qua Dương Sơn và bị bắt tại đó ).

- Năm 1558 chưa có nhà Nguyễn v́ từ năm 1543-1592 Bắc triều là nhà Mạc, kinh đô Thăng Long. Nam triều là nhà Lê kinh đô Vạn Lại.

- Năm 1615 đoàn truyền giáo đầu tiên của ḍng Tên do Cha Buzomi dẫn đầu đến Đà Nẵng (18-1). Hai vị Khai Canh và Khai khẩn không thể là người có đạo được.

* Nên sự kiện và mốc thời gian không có cơ sở.

(3)-(tr.547) Theo Đại Nam Thực Lục: Vụ kiện cáo có liên quan đến hai làng Dương Sơn và Cổ Lăo (Mông Phụ) xảy ra từ năm 1829-1831.

(4) HỌ DƯƠNG SƠN VÀ MỘ ÔNG CỔ. (tr.549).

(5) HỌ DƯƠNG SƠN VÀ CHA THÁNH EMMANUEL TRIỆU, (trích trong tập Thiên hùng sử. tr.286 và trang 287.)

“Thật bùi ngùi cảm động sau 12 năm xa cách, hai mẹ con lại gặp nhau. Giờ đây mái tóc của người đă bạc phơ, c̣n con nay đă 42 tuổi và là Linh mục của Chúa. Cha Triêu thấy xót xa trước cảnh mẫu thân ḿnh phải ăn nhờ ở đậu nhà người khác. Cha quyết định ở lại cùng bà con lối xóm dựng cho mẹ một mái nhà nhỏ để có nơi nương tựa...”

“Emmanuel Nguyễn văn Triệu sinh năm 1756 tai làng Kim Long. Phú Xuân. Thân phụ của cậu là cai Lương, Nguyễn văn Lương, một vơ quan Công Giáo pḥ Chúa Nguyễn đă tử trận trong một cuộc chiến với Tây Sơn, sớm mồ cội cha, cậu Triệu sống với mẹ ở Thợ Đúc, gia nhập quân đội năm 1771 khi mới 15 tuổi...”

* Quê hương của Thánh Emmanuel không phải là Thợ Đúc (quê ngoại). Quê hương thật (quê nội) là Kim Long.

** Giáo xứ Dương Sơn chúng con rất buồn khi không c̣n được cất giữ nguyên hài cốt của thánh tử đạo mà giáo xử chúng con hằng nương cậy vào Ngài, Ngài đă cầu bàu cho giáo xứ chúng con nhiều ơn lành, điều lạ. V́ lư do đặc biệt: Giáo xứ chúng con trước đây đă được Giáo quyền ghi nhận có công lao với các vị Thừa Sai, nên được Đức cha Labertette và Ṭa Thánh ban cất giữ hài cốt Thánh Emmatiuel Triệu. Chúng con ao ước Thánh trở lại với quê hương ḿnh.

- Theo tài liệu Thiên hùng sử. tr.309. Thánh Phanxicô Trần văn Trung:

“Hiện nay thi hài của chứng nhân được lưu giữ tại nhà Thờ họ Dương Sơn”

Giáo xứ chúng con không thấy hài cốt của Ngài tại Giáo xứ và xin vui ḷng cho chúng con biết hiện nay hài cốt cùa Ngài được nơi nào cất giữ ?

(6) Cha Phan văn Lợi. Gốc ở Dương Sơn, hiện bà con nội và ngoại đều ở Dương Sơn: Nội ở nhánh ông Phan Chưởng, ngoại ở nhánh ông Phan Đến. Trong gia phả họ Phan Dương Sơn có tên thân sinh ngài là Phan Danh.

Dương Sơn, ngày 27 tháng 11 năm 2009

Linh mục quản xứ : Giuse. Nguyễn Văn Chánh
Chủ tịch Hội Đồng Giáo Xứ : Hier. Phan Bôn

Nguồn : Website Gx Dương Sơn

..............................

NỘI QUY GIÁO XỨ

LỜI MỞ

Giáo Xứ Dương Sơn đă có chiều dày lịch sử trên 300 năm, với một truyền thống đạo đức khá sâu đậm. Tuy nhiên, qua ḍng thời gian, nhiều biến cố khách quan của thời đại và trào lưu đă làm phai mờ hoặc mất mát phần nào những nét Lịch sử vàng son của làng họ.

Thiết tưởng, nay đă đến lúc Giáo Xứ Dương Sơn – Hậu – Tam – Bách – Chu – Niên phải khơi lại và viết tiếp những trang sử vẻ vang ấy. V́: “Dương Sơn hôm qua, Dương Sơn ngày nay và Dương Sơn ngày mai là một” Cần một cuộc canh tân sâu rộng đời sống Đức Tin và phong hóa cho toàn thể Giáo Xứ.

Do đó, một thời gian nghiên cứu, hội thảo, thống nhất ư kiến của toàn thể gia đ́nh trong Giáo Xứ. Và đă áp dụng thử nghiệm (từ ngày 01 tháng 01 năm 1997 đến nay 01 tháng 07 năm 2010). Giáo Xứ kiện toàn và quyết định đưa ra thi hành bản Nội Quy nầy, nhằm một mặt pḥng chống các tệ nạn xă hội đang c̣n hoành hành trong Giáo Xứ. Mặt khác ôn tập các nét phong hóa và truyền thống tốt đẹp, tạo môi trường thuận tiện cho Đức Tin triển nở trong Đức Ái nơi mọi người con cái của Giáo Xứ.

Bản Nội Quy nầy gồm nhiều chương được quyết định dần dà theo nhu cầu ưu tiên. Và được áp dụng kể từ ngày kư ban hành của Linh Mục quản xứ.

CHƯƠNG I: NHỮNG TỆ NẠN XĂ HỘI

ĐIỀU 1: Rượu trà

1. Cấm say rượu có hành vi gây rối trật tự trị an.

- Cấm ẩu đả, nhất là có xử dụng vũ khí, chửi rủa nhau, làm ồn ào xóm làng, tạo nên gương xấu hoặc xúc phạm đến nhân phẩm.

2. Khi có người vi phạm hoặc cố t́nh tạo điều kiện cho người ta vi phạm: Lập tức

Trưởng và Phó xóm can ngăn, buộc đương sự viết bản kiểm điểm để cảnh cáo trước toàn xóm.

+ Nếu không kết quả, Ủy viên trật tự Giáo Xứ lập biên bản để cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

+ Nếu đương sự c̣n tiếp tục quấy rối: Ủy viên trật tự Giáo Xứ nhờ chính quyền xét xử, và khi chính quyền đă xét xử, đương sự phải làm bản kiểm điểm và công khai xin lỗi trước cộng đoàn Giáo Xứ.

3. Người tái phạm sẽ bị ly khai, nhưng vẫn được Giáo Xứ cầu nguyện cho đến khi có dấu chỉ sám hối.

ĐIỀU 2: Cờ bạc

1. Cấm đánh cờ bạc dưới mọi h́nh thức có tính chất sát phạt gây thiệt hại cho gia đ́nh hoặc làm gương xấu cho kẻ khác.

2. Bị bắt quả tang hay về sau mới phát hiện được:

- Những người vi phạm, những người chứa chấp, cũng như những người biết rơ vụ việc mà không khai báo:

- Lần thứ nhất: Phải làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

- Lần thứ hai: Ủy viên trật tự Giáo Xứ lập biên bản để Hội Đồng Giáo Xứ xét xử.

- Lần thứ ba: Nhờ Chính quyền xét xử, và sau khi Chính quyền xét xử, đương sự phải công khai xin lỗi trước cộng đoàn Giáo Xứ.

3. Người tái phạm sẽ bị ly khai, nhưng vẫn được cộng đoàn Giáo Xứ cầu nguyện cho đến khi có dấu chỉ sám hối.

4. Trường hợp người chưa thành niên vi phạm, phụ huynh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

ĐIỀU 3: Trộm cắp

1. Cấm trộm cắp hoặc phá tán tài sản của tập thể hay của cá thể.

- Bị bắt quả tang hay về sau mới phát hiện, người vi phạm và người ṭng phạm phải hoàn trả của cải và bồi thường thiệt hại.

+ Lần thứ nhất: Phải làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

- Lần thứ hai: Ủy viên trật tự Giáo Xứ lập biên bản để Hội Đồng Giáo Xứ xét xử.

- Lần thứ ba: Nhờ Chính quyền xét xử, và sau khi Chính quyền xét xử, đương sự phải công khai xin lỗi trước cộng đoàn Giáo Xứ.

3. Trường hợp một số tài sản lớn bị mất trộm, lập tức nhờ Chính quyền can thiệp xử lư.

4. Trường hợp người chưa thành niên vi phạm, phụ huynh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.

ĐIỀU 4: Lối sống vô luân

1. Những trường hợp sau đây:

a. Phụ nữ không chồng mà có con.

b. Ngoại t́nh.

c. Chung sống mà không có Bí Tích Hôn Phối.

d. Phá thai.

e. Tự hủy hoại một phần cơ thể.

- Lần thứ nhất: Phải làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

- Lần thứ hai: Nếu c̣n tái phạm sẽ bị ly khai khỏi Giáo Xứ, nhưng vẫn được Giáo Xứ cầu nguyện đến khi có dấu hiệu từ bỏ.

2. Người có thai trước Bí Tích Hôn Phối phải làm bản kiểm điểm và: - Xin lỗi trước cộng đoàn Giáo Xứ - Bị truất quyền cử hành Bí Tích Hôn Phối công khai – Giáo Xứ phạt vạ cho mỗi đương sự 2.000.000đ (100 USD)

- Tại gia đ́nh bị hạn chế tổ chức tiệc linh đ́nh, cụ thể cấm xử dụng âm thanh và dàn nhạc. (Tiền phạt được Giáo Xứ sử dụng vào mục đích những công tác vệ sinh).

3. Người tự tử mà không chết phải làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

- Nếu tự tử chết, mà không có dấu chỉ sám hối: Sẽ bị truất quyền đưa xác vào Nhà Thờ.

CHƯƠNG II: NGHĨA TRANG

ĐIỀU 1: Nghĩa trang là sở hữu của Giáo Xứ, Hội đồng Giáo xứ trực tiếp quản lư, chủ tŕ các đồ án xây dựng, sửa chữa, bảo vệ. Có vị quản trang trông coi và báo cáo những ǵ có liên quan đến nghĩa trang.

ĐIỀU 2: Nghĩa trang gồm 3 khu vực:

a) Khu vực Tháp chính giữa: Thi hài các Thánh Tử Đạo – Mai táng các Linh Mục vụ sở tại hoặc ngộ tử tại Giáo Xứ.

b) Khu vực chia cho các Họ Tộc, Nhánh: Các Họ Tộc, Nhánh tự quản.

ĐIỀU 3: Mọi việc liên quan đến nghĩa trang, kể cả việc xây lăng, mộ trong phần đất các Họ Tộc, Nhánh phải tŕnh Hội Đồng Giáo Xứ thẩm định, để công tŕnh nào cản trở quy hoạch chung của nghĩa trang và ảnh hưởng đến các Họ Tộc, Nhánh khác th́ không được xây dựng (VD: Dựng tháp và Thánh Giá quá cao; Đắp mộ gây trở ngại đường đi, lấn đất của Giáo Xứ và ṿng đai.v.v…)

ĐIỀU 4: Giáo Xứ quản lư phần mộ của Hai Vị Khai canh Khai khẩn và hàng năm tổ chức lễ Tảo Mộ cho Hai Ngài vào ngày mồng 8 tháng Giêng Âm Lịch.

ĐIỀU 5: Lễ chạp của các Họ Tộc, Nhánh chỉ được tổ chức sau ngày Tảo Mộ Khai canh Khai khẩn (ngày mồng 9)

ĐỀU 6: Họ Tộc, Nhánh nào vi phạm th́ Họ Tộc trưởng, Nhánh trưởng phải làm tờ kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

CHƯƠNG III: VIỆC CHUNG SỰ HIẾU ĐẠO

ĐIỀU 1: Giáo Xứ thành lập và điều hành ban Chung Sự và Hiếu Đạo (Ban CSHĐ).

ĐIỀU 2: Ban CSHĐ gồm những nam nhân trong Giáo Xứ từ 25 – 45 tuổi, trừ những người đang phục vụ Giáo Xứ trong bất ḱ chức vụ nào, có thể được nhận vào CSHĐ nếu những vị đó t́nh nguyện.

ĐIỀU 3: Ban CSHĐ có một Ban Chấp Hành gồm: 1 Trưởng ban cầm sanh, 1 Phó trưởng ban thay Trưởng ban khi cần, kiêm thư kư làm sổ cắt người gánh đám, 1 người bảo quản tang cụ.

ĐIỀU 4: Khi có người đau ốm, nhất là lúc hấp hối, Xóm trưởng, Phó phải năng thăm viếng, giúp đỡ bệnh nhân lănh nhận các Bí Tích và ơn chết lành.

ĐIỀU 5: Khi có người qua đời từ 14 tuổi trở lên, tang gia phải lập tức báo cho Trưởng xóm để xin đánh chuông báo tử, tiếp sau đó tang gia tŕnh với Linh mục Quản Xứ xin giờ, ngày tẩm liệm, tŕnh mời Ban Thường Vụ, Trưởng Ban Phụng vụ, Trưởng Ban CSHĐ và Trưởng Ban Thánh nhạc đến tẩm liệm.

Tẩm liệm xong tŕnh và xin Linh mục Quán Xứ, Ban Thường Vụ giờ, ngày an táng cho người qua đời.

ĐIỀU 6: Hội Đồng Giáo Xứ và BSHĐ không nhận một thù lao nào, kể cả bữa cơm sau an táng, tất cả những chi sắm sửa tang cụ, giặc ủi đồng phục gánh đám, đến lấy từ ngân sách chung của Giáo Xứ.

ĐIỀU 7: Tại tang gia cũng như trong Lễ an táng chỉ được sử dụng chiêng trống của Giáo xứ mà thôi.

ĐIỀU 8: Ai vi phạm, phải bị làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

Làm tại Dương Sơn, ngày 15 tháng 8 năm 2010

TM. HỘI ĐỒNG GIÁO XỨ

HIER. PHAN BÔN LINH MỤC QUẢN XỨ

GIUSE. NGUYỄN VĂN CHÁNH

CAM KẾT CỦA GIA Đ̀NH

-----@&?-----

GIA Đ̀NH TÔI:..........................................................................................

QUYẾT TÂM CHẤP HÀNH BẢN NỘI QUY NÀY.

Kư tên:........................................

....................................................................................................................

PHỤ LỤC: (Có liên quan trong Hôn Lễ)

- Người trong Giáo Xứ muốn kết hôn với người lương, phải làm đơn gởi Linh mục Quản Xứ để đệ tŕnh Đức Tổng Giám Mục ban phép chuẩn. Nghi thức hôn Phối là: “Phép Giao” và được tổ chức đơn giản, không thông báo cộng đoàn Giáo Xứ tham dự.

- Cấm tổ chức tiệc tùng trước khi lănh nhận Bí Tích Hôn Phối với mọi h́nh thức để ra mắt họ hàng như Lễ Tân Hôn hay Lễ Vu Quy. Người tổ chức phải làm bản kiểm điểm và xin lỗi trước cộng đoàn Giáo Xứ. Những người tham dự phải làm bản kiểm điểm và bị cảnh cáo trước cộng đoàn Giáo Xứ.

Nguồn tin: giaoxuduongson.net

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Dương Sơn

< H́nh chụp nhà thờ giáo xứ Dương Sơn ngày 4/1/2012 -  TTV >

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]