Tổng Giáo phận Huế

Nhà thờ Giáo họ Nhu Lư

 

 

< không c̣n nhà thờ >

Nhà thờ Giáo họ Nhu Lư Giáo xứ Phan Xá
Giáo hạt Quảng Trị

 

Địa chỉ :  ( Bản đồ )

Quản nhiệm : Linh mục Chánh xứ Giáo xứ Phan Xá

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

 

Lễ Bổn Mạng

Số giáo dân

 

Giờ lễ

Chúa nhật     : 

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo họ - H́nh ảnh Giáo họ

-  Tin tức sinh hoạt

 

Lược sử Giáo họ Nhu Lư

I- VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Giáo họ Nhu Lư nằm trên địa bàn làng Nhu Lư, xă Triệu Phú, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, cách nhà thờ Phan Xá khoảng 2km về phía đông. Đây từng là một làng toàn ṭng Công giáo, nằm trong giáo hạt Dinh Cát Trung thời kỳ từ 1954-1972.

II- HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1- Từ cuộc truyền giáo của ḍng Tên tại Dinh Cát

Như các giáo họ Giáo Liêm và Đồng Giám trên đây, Nhu Lư cũng nằm trong vùng Dinh Cát và đă nhận được hạt giống Tin Mừng khoảng năm 1617 trở đi, khi các linh mục ḍng Tên đến truyền giáo ở đây, thời chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên cai trị Đàng Trong nước Việt (1613-1635).

Vào tháng 02-1691, cha Laurent Emmanuel (Lôrensô Lâu, một trong những linh mục Việt Nam tiên khởi và là cộng tác viên của các cha hội Thừa sai Hải ngoại Paris, những vị đến tiếp nối công việc các cha ḍng Tên tại Thuận Hóa và Dinh Cát) gởi cho Đức Giám mục Giám quản Louis Laneau (ở Xiêm) một báo cáo về giáo đoàn Đàng Trong. Báo cáo có nhắc đến tên các họ đạo Nhu Lư, Giáo Liêm và Đồng Giám. Bản tường tŕnh cũng của cha lên bộ Truyền bá Đức tin ngày 16-02-1692 và 07-02-1694 cho biết Giáo Liêm có 80, Đồng Giám có 150, Nhu Lư có 50 tín hữu.

Họ đạo nhỏ bé này cũng đă trải qua những lúc thăng trầm (được tự do hay chịu bách hại) thời các chúa Nguyễn, các vua Tây Sơn rồi các vua Nguyễn cai trị Đàng Trong đất Việt.

Sau khi lên ngôi được vài năm, vua Tây Sơn Nguyễn Quang Toản (tức Cảnh Thịnh 1783-1792-1802) đă ra sức bắt đạo v́ cho rằng người Công giáo theo chúa Nguyễn Ánh. Một số tín hữu miền Dinh Cát đă phải t́m đến vùng lau sậy gần Cửa Việt để trốn tránh. Nhóm nhỏ ít người này đă sinh sôi nẩy nở thành một cộng đồng đông đúc; họ khai phá vùng đất hoang vu thành nương vườn tươi tốt, ruộng đồng màu mỡ.

Thời chúa Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy đế hiệu Gia Long (1802-1820), đạo được b́nh yên, do nhà vua mang ơn Đức cha Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) đă có công giúp lấy lại giang sơn từ tay con cháu Nguyễn Huệ.

2- Trải qua những cơn bách hại

Nhưng đến thời Minh Mạng và Tự Đức, Công giáo lại bị bách hại dữ dội.

Đặc biệt trong cuộc bắt đạo vào cuối đời vua Minh Mạng (1838-1840), giáo xứ Nhu Lư đă có 2 tấm gương sáng chói, đó là Thánh Simon Phan Đắc Ḥa và Chân phước Gilles Delamotte.

Thánh Phan Đắc Ḥa sinh năm 1774, trong một gia đ́nh lương dân tại làng Mai Vĩnh, tỉnh Thừa Thiên, theo mẹ về ở làng Nhu Lư năm 12 tuổi rồi trở lại đạo. Ngài có vào chủng viện 1 năm, sau về lập gia đ́nh, sinh được 12 đứa con. Là một thầy thuốc uy tín, đạo đức và nhân ái, ngài được bầu làm trùm họ. Khi vua Minh Mạng bách hại Công giáo, ngài vẫn can đảm “chứa chấp các đạo trưởng” trong nhà ḿnh.

Đang khi đó th́ từ 1831, có thừa sai Gilles Delamotte, MEP, người Pháp, sinh năm 1799, sang truyền giáo tại Việt Nam, năm 1932 đến làm quản xứ tiên khởi Nhu Lư. Năm sau ngài đă phải trốn chạy vào Dương Sơn, Cồn Hến, Nhu Lâm rồi trở về nhiệm sở. Năm 1838 lại phải sống lang thang. Về Nhu Lư tháng 3-1940, ngài lại bị phát hiện. Tối ngày 13-04-1840, đang khi trùm họ Phan Đắc Ḥa dùng thuyền đưa ngài đi trốn th́ cả hai cha con bị bắt rồi bị giải về Huế. Cha Delamotte sau đó chết rũ tù ngày 03-10-1840[11] c̣n trùm họ Phan Đắc Ḥa bị xử trảm ngày 12-12 cùng năm tại Cống Chém, An Ḥa.

Trong cuộc Phân sáp (1860-1862) dưới triều Tự Đức, họ đạo Nhu Lư đă có 3 chứng nhân theo lời linh mục Théodore Bernard, MEP, trong tập “Những người tuyên xưng đức tin từ 1848-1862 của Bắc Đàng Trong” (nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch):

1. Trong tỉnh Quảng Trị, huyện Đăng Xương, tổng Diên Cự, thôn làng và họ đạo Nhu Lư, các binh sĩ Nhiệm, Lành và Hiền (tôi không biết tên thánh của họ), v́ cả ba quảng đại từ chối bỏ đạo, do đó, trong 2 lần khác nhau, đă bị giam 3 tháng ở tỉnh đường của kinh đô đang lúc chờ xét xử. Sau khi tuyên án lưu đày trong tỉnh Bắc Ninh, người ta đă xiềng xích họ liền. Năm tiếp đó, sau bao nhiêu nhục mạ và mệt nhọc, họ đă đến nơi lưu đày. Ở đó, người ta tống họ vào ngục tối, không bao giờ cho ra khỏi. Ngày và đêm, họ vẫn mang xiềng xích nặng nề; họ chỉ nhận được thức ăn mỗi ngày một lần, đến nỗi cơn đói dằn vặt họ dữ dội.

Năm 1862, họ bị mang cùm ngày đêm; hơn thế nữa, người ta c̣n bắt họ nằm trên nền đất ẩm ướt, với một thanh ngang bằng tre ép thúc lồng ngực được buộc chặt vào hai thanh tre khác cắm hai bên người tù. Tay và chân của họ c̣n bị cột dă man hơn trước. Từ thời đó, người ta không c̣n cho họ uống ǵ; họ chỉ có một chén cơm nhỏ mỗi ngày. Việc này kéo dài gần hai tháng. Ngày thứ tư của tháng thứ mười, người ta mới tháo họ khỏi gông cùm và dây trói. Nhưng đă quá trễ.

Kiệt lực v́ đói khát và đau đớn, cả ba đều ngă bệnh như nhau và cùng chết bằng một cái chết thánh thiện. Người ta đă t́m thấy họ thanh ngang c̣n trên ngực, chân bên cùm, nằm dài trên chiếu rách, không áo xống ǵ cả. Người ta biết tháng, nhưng không biết ngày họ mất. Những người lính có đạo đă chôn cất xác họ, không rơ nơi nào.

2- Thầy giảng Sâm, chịu ba mươi roi mây v́ đức tin, nhưng chẳng muốn chối đạo với bất cứ giá nào. Thầy bị tống vào tù và liên tục bị trói vào một cái cọc. Sau vài ngày chịu khổ, thầy đă chết ở đó, được củng cố nhờ các bí tích của Giáo hội.

3- Phú hào Quờn, bà Cẩn, tín hữu Tùy và tín hữu Sắc, bị cầm tù v́ đă anh dũng tuyên xưng đức tin, cả bốn vị đều đă chết sau khi nhận lănh các bí tích cuối cùng với một ḷng sốt sắng lớn lao.

Ghi chú: Cộng đoàn Kitô Nhu Lư đă luôn trổi vượt về ḷng sốt sắng, sự tận tâm và niềm tôn kính đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ rất thánh.

Đến thời Văn Thân (triều vua Hàm Nghi), Nhu Lư lại trải qua cơn khổ nạn càng lớn lao hơn nữa. Lúc này tại đây, cha Gioan Đoạn Trinh Khoan và cha GB Lê Văn Huấn đang làm quản xứ và phó xứ. Tập “Một trang huyết lệ trong lịch sử tỉnh Quảng Trị – tháng Chín tây năm 1885” do công sứ Jabouille viết, linh mục Adolphe Delvaux dịch, bổ chính và chú thích, đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Hué, năm 1923, có nói về họ đạo Nhu Lư như sau:

“Nhu Lư là một làng toàn giáo dân. Đó là chánh quán của đấng chơn phước Simon Hoà. Năm 1885, hội giáo ấy có chừng 430 hoặc 440 bổn đạo và một nhà phúc có 58 chị nữ tu. Ngày 7 tháng 9 tây, trống giục liên thanh trong các làng lân cận, những toán Văn Thân có khí giới tiến về hướng Nhu Lư mà chốc lát bị bổ vây.

“Ngày hôm trước, các chị nhà phúc, vị linh mục bổn quốc (cha Khoan) và cha phó của ngài (cha Huấn nhỏ) cùng hai phần ba bổn đạo đă chạy trốn tại Dương Lộc, là nơi đă định kháng cự nên có xẩy ra sự nguy hiểm. Tám mươi giáo dân biết rằng Dương Lộc là nơi không chắc chắn, nên do đường biển chạy vào Huế trốn.

“120 giáo dân, dầu sao cũng trụ tín ở lại Nhu Lư. Họ bị bổ vây, giết từng người hoặc bị xô đẩy vào nhà thờ. Họ toan kháng cự, nhưng mà những luỹ ải đơn sơ quá, họ không đủ sức kháng cự lại với những người bổ vây đông hơn họ nhiều lắm, nên họ phải thất bại, nhà thờ bị đốt phá, c̣n giáo dân bị vùi dập dưới đống tro tàn. Chiều thứ hai, không c̣n một người giáo dân nào sống sót tại Nhu Lư. Nhà thờ, nhà phúc, nhà của giáo dân đều bị đốt phá tan tành. Đảng Văn Thân không t́m được tiền bạc vật quí ǵ hết trong nhà phúc, nên thất vọng, họ liền chặt cây trong vườn và chia trâu ḅ. Nhà phúc Nhu Lư chỉ c̣n lại một chị lúc bấy giờ ở ngoài Quảng B́nh”

“….Nói rút lại, địa sở Nhu Lư (họ sở tại và các họ nhánh) cả thảy thiệt hại 801 giáo dân”.

Sau vụ thảm sát kinh hoàng này, Nhu Lư c̣n lại khoảng 150 giáo dân.

3- Tái xây dựng và phát triển

Năm 1902-1909, cha Laurent Guichard (cố Ngăi) đến thay thế cha Giacôbê Nguyễn Văn Sĩ (gốc An Do Đông, đă coi Nhu Lư từ 1885-1902). Năm 1904, ngài xây ngôi nhà thờ mới ngay trên chỗ nhà thờ cũ đă bị Văn Thân phá hủy. Lúc đó ngài viết: “Năm này đối với tôi là một năm chiến đấu, v́ những sách nhiễu do lương dân gây ra cho các người mới theo đạo. Vị quan đầu tỉnh, kẻ thù công khai đối với đạo thánh, đă bị giáng chức do thái độ bất công đối với chúng tôi, các sách nhiễu kết thúc như phép mầu. Người ta có thể hy vọng một vụ mùa thu hoạch các linh hồn dồi dào hơn.”

Quả thực những năm sau đó, ngài thâu lượm được những kết quả tốt đẹp, và Nhu Lư không chỉ giữ được toàn vẹn kho tàng đức tin sống động và tích cực, nhưng luôn luôn c̣n là một vườn ươm ơn gọi linh mục và tu sĩ. Trong ṿng 7 năm, số dân công giáo đă vượt lên từ 159 đến 707 người.

Năm 1909, Đức cha Allys giao Nhu Lư cho cha Adolphe Delvaux (cố Văn) và ngài ở đó 17 năm trời. Ngài hoàn thành các cơ sở do vị tiền nhiệm là cha Guichard để lại (trong đó có nhà thờ). Có một cha phó trẻ giúp mục vụ, nên ngài đă đáp ứng đề nghị của cha Léopold Cadière để lo khảo cứu về lịch sử tôn giáo đă được đăng trong Bulletin des Amis du Vieux Huế. Năm 1913, ngài đi dưỡng đường Hồng-Kông rồi sang Pháp. Tháng 10-1914, Ngài về Nhu Lư lại.

Năm 1939, giáo sở Nhu Lư có 14 giáo họ: Quảng Lượng, Phước lễ, An Cư, Quảng Điền, Phan Xá, Phú Tài, Thanh Liêm, Giáo Liêm, Long Quang, Linh Yên, Tường Vân, An Thạch, Dương Xuân, Lệ Xuyên và ở các làng chung quanh có vài gia đ́nh Công giáo nhưng chưa thành lập họ đạo.

Năm 1951, cha Phêrô Lê Văn Ngọc (anh ruột của các cha PX. Lê Văn Cao và G.B Lê Văn Nghiêm) kêu gọi dân làng đang tản mác trở về quê cũ lập lại cuộc sống, ngài đă tận t́nh giúp đỡ dân làng, bắt tay vào lại công việc đồng áng, xây dựng lại những ǵ đă đổ nát v́ bom đạn. Đến năm 1955, chính phủ VN Cộng ḥa được h́nh thành, bà con giáo dân yên ổn làm ăn, thăng tiến đời sống đạo hạnh.

4- Lại điêu đứng v́ chiến tranh và thời cuộc

Mậu Thân 1968, chiến tranh hai miền Nam Bắc lan tràn dữ dội. Biết bao cảnh chết chóc, nhà cửa bị tàn phá, gia đ́nh bị ly tan. Đến cuối năm 1968, cha Phaolô Nguyễn Thanh Tiên nhận bài sai về làm chánh xứ Nhu Lư nhưng phải ở tạm tại giáo họ Mỹ Lộc. Đứng trước những ngổn ngang do bom đạn gây ra, cuối cùng nhà cha sở và nhà thờ cũng được tu sửa.

Cuối năm 1970, ngôi thánh đường hoàn thành việc tu sửa. Mái lợp tôn, trần được làm lại bằng tôn mè. Giáo dân vô cùng mừng vui. Thế nhưng chưa đầy hai năm th́ vào Mùa hè Đỏ lửa năm 1972, tiếng súng lại vang lên, giáo dân Nhu Lư, cùng với cư dân Quảng Trị, buộc phải rời bỏ quê hương, ruộng vườn, chạy vào nam để giành lấy sự sống. Trên đường đi, hàng ngàn người phải bỏ mạng, những ai sống sót chạy vào Huế ở lại các trại tiếp cư như tiểu chủng viện Hoan Thiện, các nhà thờ, các trường học… Sau một thời gian th́ lần lượt kéo nhau vào Đà Nẵng. Năm 1973, số giáo dân Nhu Lư này đa phần phân tán đi Cam Ranh, B́nh Tuy, Quảng Biên, Quảng Thuận…

Năm 1975, lại một lần nữa người dân phải ngậm ngùi trước cảnh chia ly. Dân miền trung đa phần vào nam sinh sống lập nghiệp. Cả triệu người ra hải ngoại bằng nhiều cách… Kể từ đó, giáo dân Nhu Lư cũng phân tán khắp mọi miền đất nước và cả Âu Mỹ.

Đài thánh Simon Ḥa (cũ) và Lăng Tử đạo Nhu Lư hiện nay

Hiện nay, Nhu Lư chẳng c̣n một giáo dân nào. Nhà thờ không tồn tại nữa, nền đất nhà thờ cũ được trưng dụng làm trường mầm non Nhu Lư. Đài Thánh tử đạo Simon Ḥa th́ xuống cấp trầm trọng, chỉ c̣n lại 4 cột trụ nâng một mái ngói nhỏ, đứng chơ vơ bên đường làng. Lăng Tử đạo giữa cánh đồng phía trước mảnh đất nhà thờ cũ đă được nhiều cha sửa sang và đến năm 2017 th́ cha sở Phan Xá Giuse Vơ Văn Phú kiêm Nhu Lư đă trùng tu lại như bây giờ (với đài Thánh Simon Ḥa mới).

Xem thêm : [ Lược Sử Giáo xứ Nhu Lư ]  -  Tài liệu của : JB. LV Huề (*)

= = = = = = =

5- Tổng lược các linh mục chánh xứ Nhu Lư

1- Lm Gilles Delamotte (cố Y) (1832-1840)

2- Lm Phêrô Trương Công Quang (Giáo Liêm) (1867-1875)

3- Lm Luca Nguyễn Hữu Tín (Mỹ Hương) (1875-1880)

4- Lm Anrê Nguyễn Ngọc Thoại (Da Môn) (1880-1882)

5- Lm Gioan Đoạn Trinh Khoan (Kim Long) (1882-1885).

6- Lm Giacôbê Nguyễn Văn Sĩ (An Do Đông) (1885-1902)

7- Lm Laurent Guichard (cố Ngăi) (1902-1909).

8- Lm Adolphe Delvaux (cố Văn) (1910-1925)

9- Lm Phaolô Bùi Thông Tuần (Phủ Cam) (1925-1934)

10- Lm Gioakim Nguyễn Văn Khiết (Hương Lâm) (1934-1940)

11- Lm Tađêô Hồ Bảo Huỳnh (Kim Long) (1940-1950)

12- Lm Phêrô Lê Văn Ngọc (An Vân) (1951-1955)

13- Lm Tôma Lê Văn Cầu (Trí Bưu) (1955-1964)

14- Lm Phaolô Nguyễn Văn Hiển (Hà Thanh) (1964-1965)

15- Lm GB Phạm Bá Viên (1965-1969)

16- Lm Phaolô Nguyễn Thanh Tiên (1968-1972)

III- HOA TRÁI ĐỨC TIN

1- Lm Máctinô Nguyễn Công Hiền (1769-1799-1804)

2- Lm Đôminicô Nguyễn Công Sâm (1827-1863-1891)

3- Lm GB Nguyễn Văn Mộ (1836-1867-1915)

4- Lm GB Nguyễn Văn Chữ (1839-1882-1886)

5- Lm Giuse Nguyễn Văn Linh (1868-1897-1941)

6- Lm GB Nguyễn Văn Hân (1889-1915-1962)

7- Lm GB Lương Văn Thể (1888-1918-1962)

8- Gm Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền (em cha Hân) (1906-1952-1955-1973)

9- Lm Antôn Nguyễn Văn B́nh (1941-1970-2009)

10- Lm Giuse Nguyễn Văn Dụ (1950-1998-) ḍng Gioan Tẩy Giả (Đài Loan).

2- Tu sĩ nam nữ

1- Sư huynh Lương Ngọc Bường (ḍng La San) (+1965).

2- Mađalêna Lă Thị Hậu (ḍng Mến Thánh Giá Huế) tử đạo 1840, xin phong chân phước.

3- Mácta Nguyễn Thị Thú (ḍng Mến Thánh Giá Huế) (+).

4- Anna Nguyễn Thị B́nh (ḍng Mến Thánh Giá Huế) (+).

5- Agata Lương Thị Thường (ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế) (sn 1899; vk 1930; qđ 1990)

6- Gioanna Nguyễn Thị Huột (ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế) (sn 1915; vk 1942; qđ 1997)

7- Phanxica Lê Thị Kỷ (ḍng Mến Thánh Giá Huế) (sn 1902; vk 1978) (+)

8- Maria Nguyễn Thị Tân (ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế) (sn 1922; vk 1949; qd 2010)

9- Anna Lê Thị Xem (ḍng Mến Thánh Giá Huế) (sn 1933; vk: 1975)

10- Maria Goretti Nguyễn Công Như Quỳnh (ḍng Đa Minh Hố Nai).

11- Anna Nguyễn Thị Tuế (Tu hội đời Thánh Tâm Chúa Giê-su).

————————————————————————

[1] Khi sau tên các chúa Nguyễn có 3 niên đại, th́ số đầu chỉ năm sinh, số giữa năm lên ngôi, số cuối năm băng hà.

[2] Xem Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques I. Paris, Téqui, 1923, pp. 420-421.423.430.

[3] Xem Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques II. Paris, Téqui, 1924, p. 72.

[4] Năm 1747, Ṭa Thánh đă cử Đức Cha Hilario Costa di Jesu (đang cai quản Giáo phận Đông Đàng Ngoài), giữ chức Khâm sai vào Huế để dàn xếp sự tranh chấp giữa các hội ḍng về khu vực truyền giáo và mục vụ. X. Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, II, p. 187.

[5] Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Trung, sinh năm 1825 tại Phan Xá, Quảng Trị, giáo dân, cai đội, bị xử trảm ngày 6-10-1858 tại An Ḥa dưới đời vua Tự Đức. Đức Piô X suy tôn ngài lên bậc Chân phước ngày 02-05-1909, Đức Gioan-Phaolô II suy tôn lên hàng Hiển thánh ngày 19-06-1988. Lễ kính vào ngày 06-10 hàng năm. Có tài liệu cho rằng ngài họ Phan, con cháu của một trong những vị lập nên làng Phan Xá (x. Lê Ngọc Bích, Nhân vật Giáo phận Huế, tập 1, trang 236)

[6] Di tích ngôi nhà của các chị ở gần Nhà thờ nay gọi là Giếng Tây.

[7] Nay là làng Trà Liên, xă Triệu Giang, huyện Triệu Phong, bên bờ sông Thạch Hăn, đối diện Đại Lộc ở bờ bên kia.

[8] Xem Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques I. Paris, Téqui, 1923, pp. 420-421.423.430.

[9] Xem Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Documents historiques II. Paris, Téqui, 1924, p. 72.

[10] Tiểu sử này có những linh mục tác giả nối tiếp nhau: Antoine Delvaux, Gioan Vơ Văn Hoằng, P.X Nguyễn Văn Thuận, Giuse Nguyễn Văn Hội, Stanislaô Nguyễn Đức Vệ.

[11] Xác ngài được đem về chôn tại Nhu Lư, nhưng quân Văn Thân đă t́m ra, đào lên, giă nát xương cốt, tung vào gió.

——————————————————————-

Mọi góp ư, bổ sung, điều chỉnh xin vui ḷng liên hệ với Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi theo địa chỉ email: witness2005@gmail.com Xin cám ơn quư vị rất nhiều.

Nhóm Biên sử Tổng Giáo phận Huế.

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo họ Nhu Lư

Nguồn : Website TGP Huế

< Chưa có >

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]