Tổng Giáo phận Huế

Giáo xứ Nhu Lư

 
 

Lược Sử Giáo xứ Nhu Lư

= = = = = = =

Sau 1975 không c̣n tên trong Tổng Giáo Phận Huế

Đôi nét về lịch sử

Làng Nhu Lư thuộc xă Triệu Phước, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Một làng toàn ṭng Công giáo, nằm trong Giáo hạt Dinh Cát Trung (thời kỳ từ 1954-1972), nay là Tổng hạt Quảng Trị thuộc Tổng Giáo Phận Huế.

Ư nghĩa danh xưng Nhu Lư

Theo tài liệu“Nhu Lư quê tôi” của Lê Văn Tám trang 12 giải nghĩa tên gọi làng Nhu Lư như sau:

Nhu ‘Nhu thắng cương, nhược thắng cường’ tức là: Lấy sự khiêm nhu, đạo hạnh để thắng bạo ngược. Lấy cái không, thắng cái có. Lấy cái mềm (nước, lửa, gió) để thắng cái cứng cỏi, mạnh bạo. Lư: là chính lư, triết lư, chân lư … Cái đúng, cái hay, cái lẽ phải nhất mà con người phải chấp nhận.

Theo Hán Việt từ điển của Thiều Chửu th́: Nhu (柔) nghĩa thứ 1 là mềm, như mềm yếu, mềm mại, như nhu nhuyễn, mềm lướt, nhu thuận. 2/ là phục, làm cho yên, như nhu viễn nhân, làm cho người xa phục. 3/ là cây cỏ mới mọc.

Lư (里)nghĩa thứ 1 là làng, nơi dân cư ngụ, 25 nhà gọi là lư. 2/ là dặm (浬), hay hải lư, mỗi dặm bằng 360 bước.

Như vậy: Nhu Lư là một làng, một hương thôn mà mọi người trong thôn đều rất khiêm nhu thuận ḥa, lễ độ và mềm mỏng với mọi người, kể cả những người kế cận quanh vùng, nên đă làm cho nhiều người gần cũng như xa phải nể phục thương yêu.

* Địa lư: Làng Nhu Lư nằm về phía Bắc và cách thị xă Quảng Trị khoảng 10 km, làng nằm gần bên bờ sông Thạch Hăn (nhánh thứ hai) và nằm cách cửa biển Việt Yên khoảng 4, 5 cây số về hướng Nam – Đông Nam, là một vùng đất rộng và màu mở, người dân đa số chuyên sống về nghề nông.

Khu gia cư làng gần giống một h́nh thang đứng. Phía Bắc giáp làng Lưỡng Kim và Cao Huy, phía Nam giáp lạch nước và xóm Hoa Lá hay Xóm Sáo. Phía Đông giáp làng Vĩnh Lại. Phía Tây giáp làng Phước Lễ. Diện tích toàn làng kể cả các xứ đồng ruộng không thấy có tài liệu nào nói đến, nhưng theo những người lớn tuổi th́ diện tích toàn làng có khoảng 250 mẫu).

Thời điểm h́nh thành làng Nhu Lư

Về thời điểm h́nh thành làng Nhu Lư, không thấy có chứng liệu lịch sử nào khả tín cho vấn đề này.

Truy lục về danh xưng “Nhu Lư” trong “Ô Châu Cận Lục” xuất bản năm 1553 tại mục Bản đồ thuộc 2 huyện Vơ Xương và Hải Lăng th́ không có tên làng Nhu Lư. Tại sách “Phủ Biên Tạp Lục” Lê Quư Đôn viết năm 1776 tại phần Tổng An Cư, huyện Đăng Xương có tên địa danh “Nho Lư” mà không phải Nhu Lư. Như vậy làng hay danh xưng “Nhu Lư” có từ thời gian nào? Nếu căn cứ vào “Phủ Biên Tạp Lục” th́ tên Nho Lư đă đổi thành Nhu Lư, và thời điểm thành h́nh làng là sau 1553 và trước 1776. Trong khoảng thời gian từ 1553 đến 1776 làng Nhu Lư được thành h́nh vào lúc nào?

Theo Lê Văn Tám trong tài liệu đă dẫn trang 16 viết:“cũng có thể v́ người Công giáo bị truy lùng bắt bớ tại vùng Thanh Hóa, nên các thừa sai cùng một số ít dân làng dùng thuyền, bè cây, bè tre đến đây lẫn trốn, rồi thấy thuận tiện nên định cư lập nghiệp”. Thế nhưng tài liệu này chỉ đoán định chung chung mà không chứng minh được thời điểm thành h́nh.

Theo một bản phác họa sơ đồ làng Nhu Lư trong tập tài liệu đă dẫn, trong đó chúng tôi đă t́m thấy vị trí 4 ngôi lăng của bốn vị Thủy tổ thuộc 4 họ tộc của làng như sau:

1.- Lăng Thủy tổ họ Nguyễn Công.

2.- Lăng Thủy tổ họ Nguyễn Văn.

3.- Lăng Thủy tổ họ Lê.

4.- Lăng Thủy tổ họ Lương.

Tài liệu không cho biết trong 4 vị Thủy tổ, vị nào là Tiền Khai Khẩn của làng. Cũng trên bản đồ, chúng tôi t́m thấy khu nghĩa địa của làng cũng chia đều thành bốn khu vực, dành cho 4 họ tộc riêng biệt nhau. Như vậy làng Nhu Lư từ nguyên thủy chỉ có 4 họ tộc chính là Nguyễn Công, Nguyễn Văn, họ Lê và họ Lương mà thôi. Đây chỉ là một số nét tổng lược cho việc h́nh thành làng Nhu Lư theo một vài luận cứ cá nhân, mà không phải theo lịch sử, hay truyền thuyết.

Đến đây chúng ta hăy lược xem hạt giống Tin Mừng được gieo vải tại Nhu Lư, rồi trải qua các giai đoạn thăng trầm của lịch sử đất nước cũng như của Giáo hội Việt Nam, những hạt giống đó đă trổ sinh hoa trái như thế nào tại vùng đất hiền ḥa, mềm mỏng này.

Khởi đầu việc đón nhận Tin Mừng

Nhu Lư cũng là một Giáo xứ thuộc Giáo hạt Dinh Cát, nên về thời điểm khởi đầu việc dân làng đón nhận Tin Mừng theo thiển ư cũng không nằm ngoài thời điểm mở đường và khai phá của Giáo Hạt Dinh Cát đă nói tại mục A trong phần Giáo sử Dinh Cát trên đây.

Với thời điểm người dân vùng Dinh Cát đón nhận Tin Mừng đầu tiên là vào tháng 2.1596 lúc cha Diergo Aduarte bắt đầu sứ vụ rao giảng tại Dinh Cát. Xét theo thời gian th́ cha Aduarte chỉ ở Dinh Cát chỉ có khoảng 6 tháng (2.1596 đến 08.1596). Rất có thể với thời gian này cha Aduarte chỉ thực hiện sứ vụ của ngài tại những làng gần quanh vùng Ái Từ là Dinh của Tổng trấn mà thôi, không thấy có tài liệu nào nói đến người dân làng Nhu Lư đón nhận đức tin vào thời gian này.

Sách “Lược sử các Giáo xứ” tập II do Giáo phận Huế xuất bản năm 2001 đă không nói tới phần lược sử về Giáo xứ Nhu Lư. Tại trang 741 sách cho biết: Làng Nhu Lư vào thời điểm từ 1617 đến 1672 đă có một số ít gia đ́nh nghe lời giảng của cha Buzomi, và đă vui ḷng đón nhận Tin Mừng. Măi đến năm 1691 (cuối thế kỷ XVII) nằm trong giai đoạn truyền giáo 2 (1672-1719) của các thừa sai, số giáo dân tại Nhu Lư cũng chỉ có được 45 người. (Sđd trang 745).

Sách “Linh Địa La Vang” của Linh mục Xitanilaô Nguyễn Văn Ngọc th́ tại văn khố của thánh bộ Truyền giáo c̣n lưu giữ một bản danh sách do cha Lôrensô Lâu (Long) viết gồm 37 họ đạo vùng Dinh Cát, có cả Nhu Lư, th́ cũng đă đến cuối thế kỷ thứ XVII (khoảng năm 1691). Qua hai đoạn sách đă dẫn cho chúng ta biết Giáo xứ Nhu Lư rất có thể đă h́nh thành vào cuối thế kỷ 17 ở những năm 1689 hay 1690. … với số giáo dân là 45 người. (căn cứ vào bản danh sách của cha Lôrensô Lâu) Ngoài ra, chúng tôi chưa t́m thấy một tài liệu lịch sử hay giáo sử nào cho biết rơ ràng về thời điểm h́nh thành hương làng Nhu Lư, cũng như thời điểm h́nh thành Giáo họ Nhu Lư. Như đă nói, trong “Lược sử các Giáo xứ” tập II của Tổng Giáo phận Huế cũng không cho biết như các Giáo xứ khác.

Theo “GHCG ở VN” của linh mục Bùi Đức Sinh trang 107 th́; “Năm 1625 đạo Công giáo đă được rao giảng hầu khắp các thị trấn lớn ở xứ Nam …” Tuy nhiên về phương diện tổ chức có hệ thống th́ chắc chắn là chưa thể thực hiện được, và nếu có cũng chưa được hoàn chỉnh.

Qua bao nhiêu năm tháng, từ một nhóm người Nhu Lư tuy nhỏ ban đầu, đă dần dà sinh sôi nảy nở thành một Giáo họ đông đúc, mặc cho những thăng trầm của những cuộc bắt đạo qua các triều đại vua chúa nhà Nguyễn. Đặc biệt là cuộc bắt đạo vào cuối đời vua Minh Mạng (1840) Giáo xứ Nhu Lư đă có một tấm gương sáng chói, đó là Thánh Tử Đạo Simon Phan Đắc Ḥa.

Tiểu sử Thánh Tử Đạo Simon Phan Đắc Ḥa

Cậu Phan Đắc Ḥa là con ngành thứ của một gia đ́nh lương dân, sinh năm 1774 tại làng Mai Vĩnh, xă Mông Thôn, Thừa Thiên. Từ bé, cậu tên là Thu. Cha mất sớm, mẹ đưa chị em Ḥa đến làm công ở làng Lưỡng Kim, sau đó đến trú tại Nhu Lư từ 1786 (12 tuổi). Tại đây cậu được một gia đ́nh Công giáo nhận làm con nuôi rồi cậu tin theo Chúa và chịu phép Rửa với tên thánh Simon. Cậu được một linh mục cho vào học ở Tiều Chủng viện, nhưng v́ là con của vợ thứ, cậu buộc phải rời Chủng viện sau 1 năm. Tại Nhu Lư cậu học nghề thuốc, rồi lập gia đ́nh và đă có 12 con. Là một lương y giỏi được mọi người kính nể. Thầy Phan Đắc Ḥa được bầu làm trùm xứ Nhu Lư. Từ khi có chỉ dụ cấm đạo của vua Minh Mạng ngày 28.08.1838, ông đă t́m đủ cách bao che, giúp cho các thừa sai ẩn trốn, nhất là từ cuối năm 1833 khi có thừa sai Gilles de la Motte nguyên chánh xứ Nhu Lư, bỏ Dương Sơn về ẩn trốn Nhu Lư, và được sự che chở của lương y Phan Đắc Ḥa. Khi bị tố cáo các ngài phải t́m đường ẩn trốn, trên đường trốn lánh, ông bị bắt cùng với cha Gilles de la Motte và một ít người tháp tùng ngay trong đêm 13.04.1840, hai thầy tṛ bị giải giao về huyện lỵ Dương Xuân, rồi giải về Quảng Trị. Sau hơn 2 tháng ở Quảng Trị, có lệnh giải giao về Phú Xuân (nhà tù Trấn Phủ). Sau khi Phan Đắc Ḥa bị tra khảo nhiều lần, với đủ mọi cực h́nh cuối cùng ông bị án tử của vua Minh Mạng. Bản án như sau: “Năm Minh Mạng thứ 21 tháng 11 ngày 3 (tức 06.12.1840). Về việc Bộ H́nh nghị xử vụ án các phạm nhân Datô: Phan Đắc Ḥa người bản quốc đă nuôi dấu đạo trưởng Tây Dương Đệ-la-miệt (tức cố Gilles de la Motte), tại nhà có đào hầm và làm vách hai lớp, khi động th́ dời sang nhà khác. Truyền trảm bêu đầu Phan Đắc Ḥa”.

Thừa sai Gilles de la Motte chết trong tù ngày 03.10.1840. Lương y Phan Đắc Ḥa bị trảm quyết ngày 12. 12.1840, (theo VN Giáo sử I của Linh mục Phan Phát Huồn ghi là ngày 10.12.1840) bêu đầu 3 ngày tại Cổng Chém gần chợ An Ḥa. Vị tử đạo Simon Phan Đắc Ḥa được phong Chân Phước ngày 27.05.1900, phong Hiển Thánh ngày 19.06.1988. (Theo Lê Văn Tám trang 69 - 71). H́nh chụp tại nhà thờ thôn Triệu Phong, Ninh Thuận.

Giáo họ cứ lớn dần lên, con số giáo dân mỗi ngày một đông. Theo “Một trang huyết lệ tỉnh Quảng Trị” th́ vào thời điểm 09/1885 con số giáo dân Nhu Lư có từ 430 đến 440 tín hữu. Giáo xứ Nhu Lư vào năm 1939 khá rộng lớn, bao gồm tới 14 Giáo họ đó là: Quảng Điền, Quảng Lượng, Phước Lễ, An Cư, Phan Xá, Phú Tài, Thanh Liêm, Giáo Liêm, Long Quang, Linh Yên, Tường Vân, An Trạch, Dương Xuân và Lệ Xuyên. Cọng một số làng xung quanh v́ chỉ có vài gia đ́nh Công giáo nên chưa chính thức thành một giáo họ.

Nhà thờ Nhu Lư

Theo truyền thuyết th́ ngôi nhà thờ đầu tiên của Nhu Lư được làm bằng gổ lim, mái tranh rất chắc. Năm 1903 khi Cố Văn cho xây nhà thờ mới bằng vật liệu nặng, th́ cha Nguyễn Văn Linh nguyên quán Nhu Lư đang phục vụ tại Cây Da, đă mua lại ngôi nhà thờ cũ bằng gổ lim này để làm nhà thờ Giáo xứ Cây Da, ngôi nhà này đến nay vẫn c̣n. Thời gian cha Delvaux (cố Văn) chánh xứ Nhu Lư (1903), ngài đă cho xây dựng ngôi nhà thờ mới vật liệu nặng và kiên cố hơn. Đồng thời ngài đă mua thêm một quả chuông lớn âm “đô”, cùng xử dụng với một quả chuông nam nhỏ có đường kính miệng 0,6 mét và cao 1 mét đă dùng lúc nhà thờ c̣n bằng gổ tranh. Ngôi nhà thờ này hoàn toàn bị sụp đổ v́ chiến tranh 73 , giáo dân của Giáo xứ cũng đă tán loạn khắp tứ phương. Sau 04/1975 th́ hai quả chuông của Giáo xứ Nhu Lư, một có âm “đô” được chuyển giao cho Giáo họ Phan Xá mượn dùng. Một quả chuông khác có âm “mi” th́ Giáo xứ Vĩnh An ở Cam Ranh xử dụng. Đến nay 2012 các quả chuông này vẫn giữ nguyên t́nh trạng xử dụng như trên.

 

H́nh Nhà thờ Nhu Lư trước năm 1972.

Các linh mục chánh xứ Nhu Lư

Theo “Lược sử các Giáo xứ” tập II của Tổng Giáo Phận Huế và Giáo sử Hạt Dinh Cát như sau: (1)

- Lm Luca … Tín 1800

- Lm Phêrô Trương Cg Quang (Giáo Liêm) 1867 - … (1)

- Lm Anré Nguyễn Ngọc Thoại 1881 - 1882

- Lm Gioan Đoạn Trinh Khoan (Kim Long) 1882 - 1885

- Lm Gioan T.g. Lê Văn Huấn (phó xứ) …. - 1885

- Lm Guichard (cố Ngải) 1902 - 1908

- Lm Delvaux (cố Văn) xây nhà thờ 1903 1910 - 1925

- Lm Phaolô Bùi Thông Tuần (Kim Long) 1925 - 1934

- Lm … .. Nguyễn Văn Khiết (Th Hương) 1934 - 1940

- Lm Tadéô Hồ Bảo Huỳnh (Kim Long) 1940 - 1950

- Lm Phêrô Lê Văn Ngọc (An Vân) 1951 - 1955

- Lm Tôma Lê Văn Cầu (Trí Bưu) 1955 - 1964

- Lm Phaolô Nguyễn V. Hiền (Tây Linh) 1965 - 1966 (2)

- Lm Gioan T.g. Phạm Bá Viên 1965 - 1969

- Lm Phaolô Nguyễn Thanh Tiên 1968 - 1972 (2)

- Lm Jerome Nguyễn Ng. Hàm (An Lộng) 1972 - 1973 (2)

(1) Theo báo cáo 1902 của Đức cha Caspar có thừa sai Gilles de la Motte nguyên quản xứ Nhu Lư, mà không cho biết thời gian. Theo giáo sử Huế thời Đức Cha Sohier B́nh. Tháng 8/1867 Dinh Cát có 7 Địa sở, Lm Quang làm chánh xứ Nhu Lư.

(2) Theo Giáo sử Huế th́ cha Hiền, cha Tiên và cha Hàm (trên) không có tên trong d/sách chánh xứ Nhu Lư, mà theo tài liệu ông Lê Văn Tám. Tháng 03/1972 dân Quảng Trị đă chạy tránh bom đạn vụ mùa hè đỏ lửa hết rồi.

Các linh mục nguyên quán Nhu Lư

Theo “Lược sử các Giáo xứ” tập II trang 748 các Linh mục có nguyên quán Nhu Lư như sau:

- Lm Martinô Nguyễn Công Hiền (II) 1769 - 1799 - 1804

- Lm Dominicô Nguyễn Công Sâm 1827 - 1863 - 1891

- Lm Gioan Tẩy giả Nguyễn Văn Mộ 1836 - 1867 - 1915

- Lm Gioan Tẩy giả Nguyễn Văn Chữ 1839 - 1882 - 1886

- Lm Giuse Nguyễn Văn Linh 1868 - 1897 - 1941

- Lm Gioan T.g. Ng. V. Hân (Giáo) 1889 - 1915 - 1962

- Lm Gioan Tẩy giả Lương Văn Thể 1888 - 1918 - 1962

- Đức Giám mục Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền (em cha Hân)

1906 - 1952 - 1955 - 1973

- Lm Antôn Nguyễn Văn B́nh 1941 - 1970 - 2009

- Lm Giuse Nguyễn Văn Dụ (II) Ḍng Ngôi Lời hiện phục vụ tại Đài Loan

- Sư huynh Lương Ngọc Bường Ḍng La San, mất năm 1965.

Chi Ḍng Mến Thánh Giá Nhu Lư

Năm 1762 Đức Cha Lambert De la Motte khởi xướng việc thành lập Ḍng Mến Thánh Giá. Không bao lâu đă có những tâm hồn đầy thiện chí đáp lời mời của vị chủ chăn Giáo phận, các chị em đă tự nguyện sống theo từng cộng đoàn nhỏ bé, tuân giữ 3 lời khuyên Phúc Âm và sống linh đạo Thánh giá Chúa Kitô. Thời Đức cha Bá Đa Lộc (Pigneau De Béhaine) 1774-1799 cai quản Giáo Phận Đàng Trong, và Đức cha Jean Labartette (cố An) phụ trách miền Bắc Giáo Phận, các Cộng đoàn Nữ tu Mến Thánh Giá đă lên con số từ 100 đến 120 chị.

Theo thống kê từ năm 1878 đến 1884 (tức trước vụ thiêu sát của Văn Thân) Giáo Phận Huế đă có tới bảy Cộng Đoàn Mến Thánh Giá với trên dưới 400 chị nữ tu chia ra như sau:

Hạt Nam Quảng B́nh có 2 Cộng Đoàn nữ tu là Kẻ Bàng và Mỹ Hương.

Hạt Đất Đỏ và Dinh Cát (Quảng Trị) có 5 Cộng Đoàn nữ tu là: Di Loan, Dương Sơn, Nhu Lư, Bố Liêu và Trí Bưu. Cũng theo bản tài liệu th́ Cộng Đoàn nữ tu Mến Thánh Giá Nhu Lư là Cọng đoàn nữ tu tiên khởi vùng Dinh Cát, được thành lập vào năm 1805 và có khoảng trên dưới 60 chị nữ tu.

Theo “Một trang huyết lệ trong lịch sử tỉnh Quảng Trị” tháng 09/1885 (Une page de L’histoire du Quảng Trị, Sep-tembre 1885) của Jabouille nguyên công sứ Quảng Trị, xuất bản 1923 tại Pháp cho biết: Vào năm 1885 sở nữ tu Mến Thánh. Giá Nhu Lư có 58 nữ tu. Nhưng trong “Lược sử các Giáo xứ” tập II trang 746 th́ ghi là 62 nữ tu.

Các nữ tu nguyên quán Nhu Lư

Các nữ tu có nguyên quán Nhu Lư như sau:

- Madalêna Nguyễn Thị Hậu (cháu của thánh Simon Ḥa, tử đạo năm 1881. (đă có hồ sơ xin phong Chân phước ở Rô Ma).
- Martha Nguyễn Thị Thú (Mến Thánh giá Huế) chết
- Anna Nguyễn Thị B́nh (Mến Thánh Giá Huế) chết
- Agata Lương Thị Thường (Phú Xuân Huế) - Giữa thập niên 1960 bà lập Cô nhi viện Nước Ngọt, về sau đă chuyển giao cho nữ tu St. Pière Nguyễn Thị Tân.
- Ecl Nguyễn Thị Huột (Phú Xuân Huế) chết
- Anna Lê Thị Kỷ (Mến Thánh Giá Huế) -
- St. Piè Nguyễn T. Tân (Phú Xuân Huế) ở Thủ Đức Sài G̣n.
- Anna Lê Thị Xem (Mến Thánh Giá Huế)
- Maria Goretti Nguyễn Công Quỳnh Như ở Đa Minh Hố Nai.
- Anna Nguyễn Thị Tuế, tu hội đời, Thánh Tâm Chúa Giê-su, phục vụ tại Ṭa Tổng Giám mục Huế.

Nhu Lư qua các cuộc bắt đạo

Qua bao thời kỳ bắt đạo dưới thời các vua chúa nhà Nguyễn, Giáo xứ Nhu Lư ngoài ngôi sao sáng Simon Ḥa, cũng đă có thêm một số tên tuổi của các Giáo dân mà trong biên niên sử của Hội Thừa sai Hải Ngoại nguyên bản bằng Pháp ngữ do Lê Thiện Sĩ sưu tầm với tựa đề: “Những người xác tín và tuyên xưng đức tin từ 1848 - 1862”, của Bernard, xuất bản năm 1918, từ trang 574-581 th́ Giáo xứ Nhu Lư có các vị tuyên xưng đức tin trong thờ thời gian trên, nguyên bản và tạm dịch như sau:

Chrétienté de Nhu Lư (Giáo xứ Nhu Lư)

Dans la province de Quảng Trị sous-préfecture de Đăng Xương, canton de Dien Cu, village et chrétienté de Nhu Lư, les soldals Nhiem, Lanh, Hien (j’ignore les noms de baptême), ayant généreusement refuse tous trois d’abandonner leur religion, furent pour ce fait, à deux reprises différentes, d’abord détenus trois mois à la prefecture de la capital en attendant leur sentence. Ayant été condamnés à l’exit dans la

province de Bắc Ninh, on les mit à la chaine aussit ôt leur sentence rendue. L’année suivante ils arrivèrent, après bien des opprobres et des fatigues, au lieu de leur deportation. Là, on les mit au cachot, sans avoir jamais permission de sortir; jour et nuit, ils gardaient leur lourde chaine; ils ne recevaient d’aliments qu’une fois le jour, de sorte que la faim les tour-mentait cruellement.

L’année 1862, ils furent mis aux entraves les jour et la nuit; de plus, on les tint étendus sur le sol humide, par une traverse en bamboo qui leur pressait la poitrine, fixée qu’elle était soli-

dement à deux autres bambous plantés de chaque côté des patients. Leurs mains et leurs pieds furent encore serrés avec plus de barbarie qu’auparavant, Des cette époque, on ne leur donnait plus rien à boire; ils n’avaient qu’une fois le jour un tout petit bol de riz, Cela dura pr ès de 2 mois, Le 4e jour du 10e mois, on les délivra des entraves et des liens. C’était trop tard.

Epuisé de faim et de souffrances, ils tombèrent tous trois maladies de la meme maladie, et moururent ensemble de la même sainte morte. On les trouva, leur traverse encore sur la poitrine, les pieds près des ceps, étendus sur leur mauvaise natte, sans aucune espèce de vêtements. On sait le mois, mais non le jour de leur mort. Les soldats chrétiens enterrèrent leurs corps, on ignore en quell lieu. (tạm dịch)

Giáo xứ Nhu Lư. Tại Giáo xứ Nhu Lư, Tổng Điền Cư, Huyện Đăng Xương, Tỉnh Quảng Trị có ba người lính tên là Nhiem, Lanh và Hien (tôi không biết tên thánh rửa tội) đă anh dũng từ chối không chịu bỏ đạo, và v́ lẻ đó đă bị tống giam vào nhà lao của huyện ba tháng chờ ngày xét xử. Bị kết án lưu đày, lập tức họ bị xiềng chân đưa đến tỉnh Bắc Giang ngay sau khi bản án vừa tuyên. Tại đây, họ đă phải chịu bao nổi tủi nhục và hành hạ suốt năm sau đó. Trong xà lim, ngày cũng như đêm chân họ luôn trĩu nặng v́ xiềng xích và không hề được phép đi ra ng̣ai. Mỗi ngày chỉ nhận thúc ăn một lần. Cứ như thê cơn đói cứ cồn cào hành hạ họ.

Năm 1862 họ c̣n bị tra chân vào cùm suốt ngày đêm. Hơn thế nữa, họ bị bắt nằm trên nền đất ẩm ướt; một thếp tre hai đầu buộc chặt vào hai cây tre khác, đè sát lên ngực họ. Lúc này, tay chân của họ c̣n bị buộc chặt dă man hơn trước. Người ta không c̣n cho họ nước uống mà mỗi ngày chỉ cho một chén cơm nhỏ, và điều này chỉ kéo dài được gần hai tháng cho đến ngày thứ tư của tháng thứ mười lưu đày tại đây, người ta mới cởi tháo gông cùm và xiềng xích cho họ th́ đă quá trể.

Kiệt quệ v́ đói và khổ cực, cả ba đều đă ngă bệnh và cùng chết lành thánh. Khi chết, người ta vẫn thấy tấm thệp tre c̣n nằm trên ngực của họ, chân cẳng duổi dài trên mănh chiếu nát,

không một miếng áo che thân. Người ta chỉ biết được tháng, mà không biết được ngày họ qua đời. Những người lính có đạo đă chôn cất họ, nhưng người ta cũng không biết tại nơi nào.

Le catéchiste Sam, souffrit pour la foi trente coups de rotin, sans vouloir apostasier à aucun prix, Il fut jeté en prison et attaché continuellement à un pieu. C’est là qu’il est mort, après quelques jours de souffrance, fortifié par les sacrements de l’Eglise. (tạm dịch)

Giáo lư viên Sam. Bị đánh ba mươi roi mây, chịu hành hạ v́ đức tin, nhưng vẫn bằng mọi giá không chịu bỏ đạo. Bị tống giam vào ngục, ông ta vẫn một ḷng mộ đạo. Sau chỉ một vài ngày chịu khổ nạn, vẫn kiên định niềm tin nhờ vào các phép bí tích của Giáo hội, ông ta đă chết.

Le bourgeois Quon, la dame Can, le chrétien Tuy et les chrétien Sac, détenus en prison pour avoir vaillamment confessé leur foi, y sont morts tous les quatre, ayant recu les derniers sacrements avec une grand piété.

NOTA. – La chrétienté de Nhu Lư s’est de tout temps distinguee par sa ferveur, son dévouement, et une devotion particulière à la très sainte Vierge. (tạm dịch)

Phú hộ Quon, bà Can, giáo dân Tuy và Sac. Đă bị tống giam vào ngục chỉ v́ anh dũng tuyên xưng đức tin. Cả bốn vị đếu đă chết sau khi được một ân huệ lớn là được chịu các phép bí tích cuối cùng. Ghi chú: Giáo đ̣an Nhu Lư trong mọi thời đă vượt trội hơn hẳn các giáo đ̣an khác về ḷng nhiệt thành, tận tụy cũng như ḷng mộ mến đặc biệt đối với Đức Trinh Nữ Maria.

Nhu Lư thời Cần Vương và Văn Thân 1885

Giáo xứ Nhu Lư dưới thời nhà Nguyễn nói chung và đặc biệt là cuộc tàn sát giáo dân Công giáo dưới thời vua Hàm Nghi (1884-1885), với 2 phong trào Văn Thân và Cần Vương, cả hai cùng hiệp lực với chiêu bài “B́nh Tây sát Tả” họ đă thiêu sát đến 8.585 giáo dân Công giáo thuộc tỉnh Quảng Trị, riêng hạt Dinh Cát đă có tới 4,642 tín hữu. Theo báo cáo thường niên 1902 của Đức cha Caspar, trước năm 1885 Nhu

Lư do cha Gilles de la Motte điều hành. Sau 1885 bị gián đoạn, đến 1902 mới có cha Guichard (Ngải) về chánh xứ. Báo cáo viết: “Nhở gương lành của Giáo xứ này, họ đạo mới Phước Lễ bên cạnh c̣ được những người mới quay trở lại với việc thực hành Đạo”.

Theo “Một trang huyết lệ trong lịch sử tỉnh Quảng Trị” tháng 09/1885 được cố Cả trích dịch từ“Une page de l’histoire du Quang Tri” Septembre 1885 của nguyên công sứ Quảng Trị là Jabouille xuất bản tại Pháp năm 1923 cho biết; Nhu Lư lúc đó có tất cả 430 đến 440 giáo dân, và 58 chị nữ tu. Những ngày trước ngày Chúa nhật định mệnh 07.09.1885 linh mục chánh xứ Nhu Lư Gioan Đoạn Trinh Khoan cùng với cha phó xứ Gioan Tẩy Giả Lê Văn Huấn (An Vân) đă di tản gần 2/3 Lăng Tử đạo Nhu Lư (trùng tu 1986) giáo dân Nhu Lư cùng với các chị nữ tu di chuyển lên Dương Lộc là nơi đă định kháng cự lại. Một số khoảng 80 giáo dân khác, v́ biết Dương Lộc không chắc chắn nên đă trốn vào Huế theo đường biển.

Số khác c̣n lại khoảng 120 giáo dân mà phần lớn là thanh niên dũng cảm quyết ở lại giữ làng, nhưng v́ quá ít họ đă bị bổ vây và cuối cùng nhà thờ, sở nữ tu, nhà giáo dân đều bị đốt phá, và san thành b́nh địa, tất cả giáo dân c̣n lại tại làng đều bị giết và bị vùi thây trong đống tro tàn. Chiều ngày thứ hai không c̣n một giáo dân nào c̣n sống sót tại Nhu Lư. Văn Thân đă không t́m được vật ǵ quư trong sở nữ tu nên thất vọng, họ chặt cây và chia nhau trâu ḅ, rồi bỏ đi. Các chị nữ tu Nhu Lư chỉ c̣n sót lại một chị lúc đó đang về thăm quê ở Quảng B́nh.

Theo báo cáo năm 1909 của Đức cha Allys (Lư) cho biết: Nhu Lư sau vụ thiêu sát Văn Thân 9/1885 số giáo dân c̣n sống sót là 159 người, đến năm 1909 lên con số 702 là do công tŕnh của cha Guichard (cố Ngải).

Nhu Lư ngày nay

Nh́n chung các Giáo xứ cũng như các Giáo họ thuộc Giáo hạt Dinh Cát (nay là hạt Quảng Trị) từ sau 4/1975 đều có cuộc sống gần giống nhau dưới thể chế chính trị mới. Giáo dân đa phần thuộc các Giáo họ đều chạy tránh bom đạn 1972, 1973, và đă t́m được nơi định cư mới nên đă không trở lại làng cũ, từ đó dân một số làng quanh vùng đă thay thế vào chổ trống bằng cách thay đổi nơi cư trú và sinh sống tại các làng c̣n ít người.

Tất cả các đất ruộng thuộc tư điền hương hỏa đă không c̣n hợp thời, kể cả phần ruộng đất tư hữu của các Giáo họ đều biến thành đất công. … … Riêng Giáo xứ Nhu Lư cũng không ngoại lệ, tất cả tài sản của Giáo xứ kể cả bất động sản, như nền nhà thờ và nền nhà cha xứ đă biến thành trường Mẫu giáo, và hội trường làng Nhu Lư. Sáu (6) mẫu ruộng thuộc Hội giáo Nhu Lư, cọng thêm năm (5) mẫu ruộng tại Băi Dài thuộc tài sản của Giáo phận do Giáo xứ Nhu Lư đứng tên điền chủ cũng không c̣n. Giáo xứ trong quá khứ gần đây đă chung sức tu sửa lại nghĩa trang, (có tin đă lập Nghĩa trang mới) lăng các Thánh Tử đạo. Tượng đài Thánh Simon Phan Đắc Ḥa, bà con cũng đang có quyết định tu sửa lại. Tất cả công tŕnh này đều do những bàn tay của con dân Giáo xứ trong cũng như ngoài nước cùng chung tay góp sức.

Lê Thiện Sĩ trong “Tổng hạt Dinh Cát Quảng Trị” khi lược qua các hoạt động của các Đức Giám mục Giáo Phận Bắc Đàng Trong (Huế) có ghi lại sự kiện về hoạt động của Đức cha Lemaste (Lễ) tại Giáo xứ Nhu Lư như sau:

Giáo xứ Nhu Lư thời Đức Giám Mục Francois Lemasle (Lễ) cai quản Giáo Phận Huế, đă cho tổ chức một đại lễ long trọng kỷ niệm bách chu niên ngày Thánh Simon Phan Đức Ḥa tử đạo 12.12.1840 ngay chính tại quê hương của Thánh nhân trong hai ngày 11 và 12/12/1940. Buổi tối ngày 11/ 12/1940 có rước kiệu tượng Thánh Si-mon Ḥa từ đầu đến cuối làng rồi về nhà thờ. Đội Thiếu nhi Giáo xứ mặc đồng phục tay cầm đèn ngủ sắc vừa đi vừa hát kinh. Khi kiệu xong, đội thiếu nhi đến nhà xứ để hát mừng Đức cha Lễ vừa từ Huế ra. Sáng ngày 12/12/1940 Đức cha làm phép tượng Thánh Simon Ḥa và đài kỷ niệm của ngài được xây dựng trước sân nhà thờ. Đài được làm theo kiểu thức cổ truyền, có lưỡng long triều dương Thánh Giá. Bốn góc đài tạc 4 con Phụng. Bên trong tượng Thánh nhân, bên ngoài, bia công đức anh hùng của ngài. Hai câu đối ghi bên trong đài:

“Chết có hại ǵ, v́ trung v́ hiếu.
Đạo không ĺa được, duy nhất duy tinh”.

Bên ngoài đài:

“Thang thuốc xưa đă trừ bệnh thế
Tấm thân nay để lại gương đời”.

Sau khi Đức cha làm phép tượng xong. Cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền giảng về“Hạnh tích Thánh Simon Phan Đắc Ḥa, Ḷng cảm phục và quyết tâm noi gương người mà nên Thánh”.

Đến 8 giờ sáng Đức cha dâng lễ hát trọng thể. Rất nhiều linh mục và giáo dân Giáo Phận Huế đến tham dự. Hiện tại Nhu Lư không c̣n một Giáo dân nào c̣n bám trụ lại quê hương cũ. Từ sau 30/04/1975 Giáo xứ Nhu Lư xem như đă xóa tên trong bản đồ của Giáo Hạt Quảng Trị cũng như của Tổng Giáo Phận Phận Huế.

Xin Chúa và Mẹ La Vang chúc lành cho những dự định của con dân Nhu Lư trong hiện tại và tương lai, để những di tích lịch sử c̣n vương đọng lại của Giáo xứ luôn luôn là gương sáng cho thế hệ mai sau.

= = = = = = = = =

Tài liệu của : JB. LV Huề (*)

* GXGHVN nhận trực tiếp từ tác giả ngày 5/3/2015
Mọi ư kiến đóng góp xin gởi email về huele63@yahoo.com