Tổng Giáo phận Huế

Nhà thờ Giáo xứ Phường Tây

 

Nhà thờ Giáo xứ Phường Tây
Giáo hạt Hải Vân

 

Địa chỉ :  Xă Vinh Hưng - Huyện Phú Lộc - Tỉnh Thừa Thiên Huế.  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Phêrô Phạm Ngọc Hoa (4/2019)

Tel

054-387-4709

E-mail

 

Năm thành lập

1902

Lễ Bổn Mạng

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15/8)

Số giáo dân

661 (năm 2020)

Giờ lễ

Chúa nhật     :  5:30
                       8:00 ( Gh Phường Đông)
                       16:00 ( Gh Lương Viện)
Phép lành Ḿnh Thánh Chúa mỗi chiều Chúa nhật: 18h30 và 18h15 ( mùa đông )

Ngày thường :  5:00 (thứ 3,6 - mùa hè 4:45)
                       18:15 (thứ 2,4,5,7 - mùa hè 18:30)
Gh Phường Đông : 5:00 (thứ 4 - mùa hè 4:45)
                             18:15 (thứ 6 - mùa đông 18:30)
Gh Lương Viện    : 18:15 (thứ 3 - mùa đông 18:30)

Giờ lễ có thể thay đổi theo mùa hay mục vụ của Gx. Xin xác nhận trước  khi đi lễ

Các nhà thờ lân cận :   Gh Phường Đông -  Gh Lương Viện - Gh Mỹ Lợi

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh lễ Chúa chăn chiên lành của giáo xứ Phường Tây (11/5/2014)

* H́nh ảnh phát thưởng cho các em học sinh giỏi năm học 2012-2013 (18/2/2014)
* H́nh ảnh Mừng lễ Bổn mạng xứ đoàn TNTT Phường Tây- Lễ Chúa Kito Vua vũ trụ- (24/11/2013)
* H́nh ảnh dâng lễ tại đài nghĩa địa GX Phường Tây- 2/11/2013
* H́nh ảnh làm phép Đài Đức Mẹ của Gx Phường Tây (16/9/2013)
* Thánh Lễ Mừng Bổn Mạng Giáo xứ Phường Tây (18.8.2013 )
* H́nh ảnh Thiếu Nhi Thánh Thể Gx Phường Tây vui Tết Trung Thu (15/8/2013)
 

 

Lược sử Giáo xứ Phường Tây

Nguồn : Nhóm Biên sử Tổng Giáo phận Huế (2/2/2020)

I- VỊ TRÍ ĐỊA LƯ

Giáo xứ Phường Tây, giáo hạt Hải Vân, có ba giáo họ trực thuộc là Phường Đông, Lương Viện và Mỹ Lợi. Về phương diện địa giới hành chính, giáo sở Phường Tây nằm trên phần đất hai xă Vinh Hưng và Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhà thờ Phường Tây cách ṭa Tổng Giám mục Huế 35km về phía đông đông nam.

II- NGUỒN GỐC H̀NH THÀNH VÀ QUÁ TR̀NH PHÁT TRIỂN

A- Từ những giáo dân Cự Lại và An Truyền

Trong khoảng thời gian từ 1820-1885, lần lượt có những người Công giáo ở Trài (nay gọi là Cự Lại) về lập gia đ́nh và sinh sống ở Phường Tây. Trên miền đất mới này, những giáo dân di cư đến vẫn giữ đạo cách sốt sắng và trung thành, dù xung quanh họ toàn là lương dân xa lạ. Chúa nhật, họ thường đi bộ lên giáo xứ Chuồn (nay gọi là An Truyền, vốn có từ đầu thế kỷ 18) để dự lễ, mất hai ngày đêm cả đi lẫn về. Những gia đ́nh ấy được xác định, dựa trên gia phả của hai họ Trần ở Phường Tây ngày nay là gia đ́nh các ông: Trần Tin[1] kết hôn với bà Lương Thị Nở[2] và định cư ở đây trong khoảng thời gian từ năm 1820-1825. Sau đó họ sinh được 5 người con là các ông Long, Lân, Quy, bà Phụng và ông Nhỏ. Gia đ́nh họ làm nên một cộng đoàn Kitô hữu nho nhỏ và là hạt nhân tiên khởi của giáo xứ Phường Tây sau này. Thời gian sau, hai người khác tên là Trần Ơn và Trần Vang là con ông Trần Công cũng từ Trài (Cự Lại) về Phường Tây định cư trong khoảng thời gian trước năm 1884, làm nên họ Trần thứ hai ở đây. Cùng với hai họ Trần nói trên c̣n có hai ông Gioakim Trần Chung (1858) và Phaolô Trần Truật con ông Trần Định cũng quê Trài về Phường Tây định cư cùng với gia đ́nh. Như vậy, tính đến năm 1884, cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi này đă khá đông; họ giữ đạo rất sốt sắng và lănh nhận các bí tích thường xuyên ở Trài hoặc ở Chuồn. (Ước tính khoảng 9 gia đ́nh, và số giáo dân từ 20 đến 40 người).

Phần mộ 2 vị tử đạo thời Văn Thân (có bia nhỏ) tại khu lăng mộ họ Trần ở Phường Tây

Dưới thời vua Tự Đức (1847-1883) rồi thời Văn Thân cướp bóc giết hại người Công giáo tại Giáo phận Huế (1883-1886), cộng đoàn tiên khởi ở Phường Tây chịu lắm bách hại v́ đạo. Nhiều gia đ́nh phải đau khổ và chịu chết chỉ v́ mang danh Kitô hữu. Gia đ́nh ông Antôn Trần Ơn và gia đ́nh ông Gioakim Trần Nhỏ đă phải đổ máu để tuyên xưng đức tin. Cả thảy có tám vị: Gioakim Trần Nhỏ, Antôn Trần Ơn, Luxia Nguyễn Thị Duyệt, Gioan Trần Vinh, Phaolô Trần Khiêm, G.B Trần Tuệ, Anna Trần Thị Duyên, Maria Trần Thị Hỡi và một vị từ Quảng Nam không rơ danh tính.

Các ngài chịu chết dưới thời Văn Thân. Hiện nay chỉ c̣n hài cốt của hai vị đang an nghỉ tại Phường Tây (tọa độ 16.4002 107.8232) là Gioakim Trần Nhỏ và vị từ Quảng Nam ra, c̣n những vị khác đă được đưa lên Trài cạnh ḍng tộc của ḿnh. Bên cạnh đó, nhiều gia đ́nh khác cũng phải chịu bách hại, chịu đau khổ, bị chèn ép, đánh đập v́ đạo thánh, như gia đ́nh của bà Catarina Trần Thị Bĩu (1857); gia đ́nh ông Trần Thuật (1860) con ông Trần Lân và gia đ́nh ông Trần Truật (di cư về từ năm 1865).

Như vậy, giáo xứ Phường Tây hiện nay bắt nguồn từ giáo xứ Trài (Cự Lại) và Chuồn (An Truyền). Cây đức tin của cộng đoàn Kitô hữu trên vùng đất cát trắng khô cằn này đă được tưới gội bởi máu của các vị Tử đạo tiên khởi. Và từ đây, cộng đoàn đức tin nhỏ bé ấy ngày càng phát triển mạnh mẽ, không chỉ nơi con cháu trong ḍng họ mà c̣n lan ra lương dân bên cạnh, thuộc các họ tộc khác trên cùng vùng đất.

B- Thành giáo họ trực thuộc (từ 1885)

1. Trực thuộc giáo sở Phủ Cam (1885-1889)

Dưới thời Đức Giám mục Antoine Caspar (Lộc) cai quản Giáo phận Huế (1880-1907) và cha Eugène Allys (Lư) làm quản xứ Phủ Cam kiêm quản hạt Bên Thủy (1885-1908), nhằm khôi phục Giáo phận tơi tả v́ vụ Văn Thân, phong trào truyền giáo đă phát triển mạnh tại vùng từ bờ nam sông Hương vào tới đầm Lăng Cô, với nhân sự chính từ giáo xứ Phủ Cam, cụ thể là các cha phó và một số giáo dân nhiệt thành chuyện đạo. Thời kỳ này Phường Tây trở thành một trung tâm truyền giáo, bởi lẽ nơi đây con số giáo hữu đă khá đông và đức tin rất vững vàng. Thỉnh thoảng, cha phó Phủ Cam Anphong Trần Bá Lữ (gốc Sơn Công, 1845-1884-1913) về Phường Tây cùng các vùng lân cận như Hà Úc, Nam Trường (nay thuộc giáo xứ Vinh Ḥa) hoạt động tông đồ và chăm sóc các nhóm tín hữu nhỏ (từ 1885 đến 1890).

2. Trực thuộc giáo sở Diêm Tụ (1890-1894)

Năm 1890, Đức Cha Caspar quyết định thành lập giáo xứ Diêm Tụ (sau đó thành giáo sở), tách khỏi Phủ Cam và đặt cha Antoine Stoeffler (cố Thể, 1863-1887-1940) làm quản xứ tiên khởi. Từ đây Phường Tây không c̣n thuộc Phủ Cam nữa nhưng được đặt dưới sự coi sóc của các cha sở Diêm Tụ. Thời cha Philipphê Dương Đức Kỳ (gốc An Ninh, 1863-1892-1925) làm phó xứ từ năm 1893, ngài vẫn thường xuyên lui tới viếng thăm Phường Tây và Mỹ Lợi (v́ Mỹ Lợi là quê hương của bà Lương Thị Nở, vợ của ông Trần Tin, Kitô hữu đầu tiên về Phường Tây sinh sống) đồng thời chăm sóc cộng đoàn tín hữu ở đây.[3]

3. Trực thuộc giáo sở Hà Úc (1894-1945)

Năm 1894, nhận thấy người theo đạo ngày càng đông, Đức Cha Caspar quyết định cho Hà Úc trở thành một giáo xứ độc lập (sau đó thành giáo sở) và bổ nhiệm cha Jean-Marie Héry (cố Y 1854-1879-1905) làm quản xứ tiên khởi. Thời kỳ này Phường Tây đương nhiên trở thành một giáo xứ trực thuộc Hà Úc. Thời cố Y, người ta trở lại đạo rất đông, nhất là sau trận băo lụt lịch sử năm 1897 (Đinh Dậu), kéo theo nạn đói trầm trọng. Có lẽ nhờ sự giúp đỡ vật chất của Cố cùng với nhiều giáo dân đối với lương dân nên họ trở lại v́ thấy tấm gương bác ái nơi người Kitô hữu. Cố Y c̣n áp dụng phương pháp “nương Cha, nhà Cố”, nghĩa là mỗi gia đ́nh theo đạo th́ thường cha phó cho họ một chỗ đất ở, c̣n cố th́ lo việc xây nhà. Phải chăng người ta trở lại đông cũng v́ lư do như vậy?

Đến năm 1902, Phường Tây được nâng lên hàng giáo xứ và cha Philipphê Dương Đức Kỳ được bổ nhiệm làm quản xứ tiên khởi. Phường Tây lúc này có các giáo họ trực thuộc: Lương Viện, Phường Đông, Mỹ Lợi, Nam Trường. Tuy nhiên thời gian tách riêng chỉ có một năm, v́ sau đó cha Dương Đức Kỳ được thuyên chuyển ra làm quản xứ Sơn Quả. Phường Tây thuộc giáo xứ Hà Úc lại.

Thời cha Marcellin Maillebuau (cố Mầu, 1865-1890-1930) làm quản xứ th́ giáo sở Hà Úc kéo dài từ Xuân Thiên (xă Vinh Xuân) đến Nam Trường (xă Vinh Giang). Giáo dân ngày càng đông, nên Cố tổ chức lại cơ cấu sinh hoạt của giáo sở. Các giáo họ phía nam Hà Úc được Cố giao cho các cha phó coi sóc, c̣n Cố phụ trách từ Hà Úc lên đến Xuân Thiên. Do đó, trải qua ba đời quản sở Hà Úc là cha Mar. Maillebuau (1902-1930), cha G.B. Nguyễn Văn Hân (1930-1937) và cha Jean Viry (cố Vị) (1937-1943), Phường Tây có được các phó xứ đến biệt cư như các cha Phêrô Huỳnh Văn Thuận (từ 1922), Tađêô Hồ Bảo Huỳnh (từ 1929), Anrê Nguyễn Văn Từ (từ 1934), Phêrô Huỳnh Văn Hóa (từ 1937), Phaolô Mai Xuân Hiến (từ 1940), G.B Nguyễn Văn Đông (từ 1941), Gioan Nguyễn Đăng B́nh (1943).[4]

Trong thời gian này, nh́n chung đời sống đạo tại Phường Tây tiến triển tốt đẹp. Giáo dân sốt sắng, siêng năng dự lễ, lănh nhận các bí tích, nhất là gắn bó với nhau qua những buổi đọc kinh sáng tối ở nhà thờ. Nhiều hội đoàn được tổ chức khiến đời sống đạo thêm sinh động. Trên phương diện xă hội, giáo dân Phường Tây sống hài ḥa với tất cả những người ngoại đạo. Nhờ đó mà mối quan hệ láng giềng, lương giáo vẫn luôn tốt đẹp cho đến ngày nay.

Cũng trong thời gian này, năm 1939, cố Vị xây dựng cho Phường Tây nhà thờ mới, ngôi nhà thờ thứ ba của họ đạo. Nhờ đó giáo dân có được nơi thờ phượng kiên cố và xứng đáng. Song song đó, Cố c̣n cho xây cơ sở các nữ tu trên đất mà hiện nay cộng đoàn Con Đức Mẹ Vô Nhiễm đang ở để phục vụ giáo xứ (cạnh nhà thờ, bên kia Quốc lộ 49B).

4. Trở thành giáo xứ độc lập (từ 1945 đến nay)

Vào năm 1945, Đức cha François Lemasle (Lễ) bổ nhiệm cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền (gốc Nhu Lư, 1906-1935-1973)[5] làm quản xứ thứ hai của Phường Tây. Từ đây đánh dấu một bước trưởng thành mới của giáo xứ, Phường Tây trở thành một giáo sở thực sự và lâu dài với ba giáo họ trực thuộc là Phường Đông, Lương Viện và Mỹ Lợi.

Năm 1947, cha Hiền rời Phường Tây để làm Giám đốc Đại chủng viện Huế, cha Tađêô Trần Văn Tri (gốc Kim Long, 1912-1943-1970) kế nhiệm. Ngài là người có công củng cố đức tin và đời sống đạo cho tín hữu, kêu gọi giáo dân sống bác ái với lương dân, tạo mối quan hệ làng xóm tốt đẹp, đoàn kết lương giáo, nhất là giữa những kẻ cùng chung họ tộc nhưng khác niềm tin. Cha Tri là người đầu tiên sắm chuông Tây và làm giá chuông bằng gỗ đầu tiên cho nhà thờ. Cũng trong thời gian này, năm 1952, các nữ tu mở trạm xá khám bệnh, giúp đỡ cư dân. Đến năm 1955, cha Tri được thuyên chuyển làm quản xứ Thần Phù.

Được bổ nhiệm thay thế, cha Giuse Trần Thế Hưng (gốc Tân Mỹ, 1912-1940-1981) ra sức củng cố giáo xứ cả về vật chất lẫn tinh thần. Ngài xây xựng và sửa chữa nhiều công tŕnh họ đạo. Trước tiên là đại trùng tu nhà thờ: tất cả bằng gỗ kiền kiền, nhờ sự đóng góp công của của giáo dân và ân nhân, nổi bật là ông Hội Nghi (Nguyễn Văn Nghi) và ông Kư Viêm (Nguyễn Quang Viêm). Tiếp theo là xây dựng nhà xứ khang trang hơn, rồi các kho lẫm… Số giáo dân của Phường Tây thời gian này lên đến 1500 người. Có lẽ đây là con số đông nhất từ trước đến nay. Và chắc rằng cơ cấu của giáo xứ từ khi có cha sở đă được tổ chức cách quy củ và hiệu quả.

Đến năm 1959, cha Giuse Lê Văn Hộ (gốc Trí Bưu, 1907-1936-1969) được bổ nhiệm thay thế. Cha Hộ tiếp tục công cuộc xây dựng đời sống thiêng liêng cho giáo hữu. Bên cạnh đó, ngài c̣n đóng trần nhà thờ, làm lại cửa sổ, khiến nhà thờ thoáng mát và khang trang hơn. Cây Thánh giá lớn do anh em ông Trần Hào dâng cúng làm cho cung thánh thêm uy nghiêm, xứng với một nơi thờ tự. Ngài c̣n xây tháp chuông bằng bêtông kiên cố (sau này được trùng tu lại).

Sau hai năm ở Phường Tây, ngài được thuyên chuyển ra Hội Yên làm cha sở. Phường Tây được cha G.B. Phạm Bá Viên (1913-1943-1998, từ Lào về nhập giáo phận năm 1957) coi sóc cai quản. Làm quản xứ từ 1961 đến 1963, y như các vị tiền nhiệm, cha Viên có mối quan tâm hàng đầu là củng cố ngôi nhà thiêng liêng của tín hữu và sửa sang ngôi nhà vật chất của mục tử.

Tiếp nối cha Viên là cha Phaolô Tống Văn Đơn (gốc Nhất Đông, 1918-1951-1988). Ngài coi xứ từ 1964 đến 1970. Ngoài việc chăm sóc đời sống thiêng liêng tín hữu, ngài c̣n chú tâm mở mang văn hóa, nâng cao kiến thức cho con em trong vùng không phân biệt lương giáo bằng việc mở trường tiểu học Mai Khôi và giao cho các chị Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm phụ trách. Nhờ đó thiếu nhi địa phương có được điều kiện học tập. Nhiều người biết chữ, những người sau này có điều kiện học thêm và thành đạt cũng ghi ơn mái trường này.

Từ năm 1970 đến 1972, giáo xứ Phường Tây được cha Matthia Nguyễn Văn Triêm (gốc Kẻ Sen, 1914-1945-1984) coi sóc. Bên cạnh việc lo lắng đời sống tinh thần, ngài c̣n quan tâm đến đời sống vật chất của tín hữu. Ngài mua lại ruộng Nhà chung -tất cả 80 mẫu- cho giáo dân canh tác và nộp huê lợi để cha quản xứ và các nữ tu có thể sinh sống và hoạt động. Ngài cũng tổ chức các hội đoàn như hội Legio Mariae với 35 thành viên, nhất là đoàn Thiếu nhi Thánh Thể với 241 đoàn viên, dưới sự điều hành của chính ngài và 15 huynh trưởng. Như vậy, thời cha Triêm, đoàn Thiếu nhi Thánh Thể tuy tân lập nhưng đă được tổ chức quy mô với mục đích giáo dục đức tin, giúp gia tăng ḷng mến yêu Thánh Thể nơi giới trẻ. Đồng thời, ngài giúp các em rèn luyện các kỹ năng sống và đặc biệt là tinh thần nhân bản. Thời kỳ này, trường Mai Khôi vẫn tiếp tục hoạt động và mang lại kiến thức cho thiếu nhi lương giáo trong vùng. Đời sống giáo xứ nhờ vậy có nhiều khởi sắc.

Giai đoạn từ 1972 đến 1999, cha G.B Lê Văn Hiệp (gốc Trí Bưu, 1939-1968-2001) làm quản xứ trong một hoàn cảnh chính trị-xă hội hết sức phức tạp. Ngài về nhận xứ năm 1972, yên b́nh chưa được bao lâu, nhiệt huyết tông đồ của một linh mục trẻ chưa kịp thi thố, th́ bất ngờ biến cố chính trị 1975 xảy đến. Chiến tranh loạn lạc, nhiều giáo dân trong xứ phải chạy trốn hoặc di cư đến nơi khác, riêng ngài vẫn trung thành bám trụ với miền đất được trao. Chiến tranh qua đi, ḥa b́nh lập lại, giáo dân lẫn dân chúng trong vùng lại phải đối phó với những khó khăn cùng cực về kinh tế, và cha sở cũng cùng chung số phận. Ngoài việc chăm lo đời sống thiêng liêng cho giáo dân, ngài c̣n phải tự tay lao động nuôi sống bản thân ḿnh. Thời bấy giờ, ngài trở thành một “linh mục nông dân” thực thụ: phải cuốc đất trồng khoai, phải lội nước cào rong làm phân bón, phải đi làm “ruộng tập đoàn”… Đó là chưa kể bao sách nhiễu đủ loại từ những kẻ vô thần có quyền lực. Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như vậy, nhiệt huyết tông đồ và đức ái mục tử luôn là hai nét sáng ngời của vị quản xứ trẻ. Ngài chu toàn cách trung thành bổn phận đối với đoàn chiên. Không những thế, một mặt ngài thuyết phục giữ chân nhiều giáo hữu đang muốn bỏ đi t́m những miền đất mới v́ không chịu nổi cảnh khó khăn, đói kém ở quê nhà, mặt khác ngài cũng t́m mọi cách để hoạt động truyền giáo, tăng cường đối thoại với lương dân. Trong thời gian này, trường Mai Khôi ngưng hoạt động, v́ phải chuyển qua sự quản lư của nhà nước, biến thành trường công. Đoàn Thiếu nhi Thánh Thể do thời cuộc cũng chẳng c̣n những sinh hoạt sôi nổi như thời cha Triêm, măi đến năm 1996 mới được tái thành lập. Nhân số ngày một ít đi do nhiều giáo dân di cư vào miền Nam, đi các “vùng kinh tế mới” như Nam Đông, Tây Nguyên, thậm chí ra hải ngoại…

Sau năm 1986, t́nh h́nh đất nước có nhiều khởi sắc hơn về kinh tế nhờ “cải cách”, những vấn đề chính trị nhạy cảm cũng dần lắng dịu. Lúc này cha G.B. bắt đầu ra sức củng cố lại giáo xứ về đời sống thiêng liêng lẫn hoạt động của các đoàn thể. Ngài thành lập hội đoàn theo từng giới như Cha gia đ́nh, Mẹ gia đ́nh, Ông bà lăo, Thiếu nhi Thánh Thể (1996), các ca đoàn lớn nhỏ và đặc biệt chú ư đến việc dạy giáo lư cho con em trong giáo xứ từ lớp khai tâm đến lớp vào đời… Mọi giáo dân theo giới của ḿnh giúp nhau sống đạo. Ngài cũng hăng say rao giảng Tin Mừng cho anh em lương dân. Cụ thể, ngài lập những nhóm nhỏ tông đồ giáo dân hoạt động truyền giáo. C̣n chính ngài luôn luôn nói về đạo Chúa cho người lương khi có điều kiện, như vào những dịp kị giỗ, tiệc tùng. Lương dân trong vùng khi nhắc đến cha quản xứ G.B. đều dành cho ngài những t́nh cảm hết sức quư mến. Rất nhiều người trở lại từ thời của ngài đang sốt sắng giữ đạo.

Về cơ sở vật chất, cha GB cũng đă xây mới hay tu sửa các nhà thờ Phường Đông, Lương Viện, Mỹ Lợi, nhất là nhà thờ Phường Tây và cả nhà xứ, nhà hội trước khi rời đây năm 1999.

Thế nhưng 27 năm lao tâm, lao lực với biết bao buồn vui sướng khổ trên mảnh đất Phường Tây thân yêu đă khiến sức khỏe ngài xuống dốc trầm trọng, nên chỉ 3 năm sau (2001) ngài đă qua đời khi đang cai quản giáo xứ Cồn Hến (Tân Thủy), v́ bệnh tiểu đường nặng. Sự suy yếu này đă bắt đầu khá lâu trước đó, do từ khi chịu chức, ngài đă luôn trải qua những hoàn cảnh khó khăn vất vả (từng làm mục vụ tại vùng địa đầu giới tuyến đầy gió cát và mất an ninh như Mai Xá, Long Hà, Chợ Hôm, Hà Lợi từ 1969 đến 1972).

Năm 1999, cha Phaolô Tống Thanh Trọng (gốc Ngọc Hồ, 1941-1975-, nay nghỉ ở Nhà hưu Giáo phận) được Đức Tổng Têphanô Nguyễn Như Thể bổ nhiệm làm quản xứ Phường Tây thay thế. Cha Phaolô đă tiếp tục công cuộc “trăm năm trồng người” của các vị tiền nhiệm. Ngài tổ chức các hội đoàn cho có quy củ hơn, cộng tác với ngài là một hội đồng giáo xứ được phân công với đầy đủ các chức danh và công việc. Ngoài những đoàn thể truyền thống như Cha gia đ́nh, Mẹ gia đ́nh, Lăo ông, lăo bà… c̣n có hội Legio hoạt động trở lại khá quy mô. Việc củng cố đức tin cho trẻ em qua các lớp giáo lư và đoàn Thiếu nhi Thánh Thể cũng được ngài quan tâm cách đặc biệt: tổ chức sinh hoạt hàng tuần, đào tạo thế hệ huynh trưởng tương lai.

Đến năm 2004, cha Trọng được thuyên chuyển làm quản xứ Triều Sơn Nam, và cha Đôminicô Trương Văn Quy (gốc Ngọc Hồ, 1967-2004-) kế nhiệm, ngay sau khi chịu chức linh mục. Cha Đôminicô chủ trương xây dựng một giáo xứ mà giáo dân tự trưởng thành về mọi mặt cả trong sinh hoạt cộng đồng cũng như đời sống đạo đức. Ngài c̣n quan tâm đến việc chăm sóc tinh thần cho mầm non “đức tin” của giáo xứ là giới trẻ. Đối với những con em của Phường Tây v́ kế sinh nhai phải đi làm ăn xa nhà, ngài tổ chức những buổi tĩnh tâm, họp mặt, chia sẻ kinh nghiệm sống đạo vào dịp tết (lúc họ về quê nghỉ).

Cha cũng đă xây mới nhà thờ Phường Đông, nhà cha sở cùng với tường rào bao quanh (tuy chưa hoàn thiện), rồi đại trùng tu nhà thờ Phường Tây xuống cấp do mối mọt (năm 2011). Trước đó, lúc mới nhận nhiệm sở, ngài cũng đă cùng giáo dân làm đơn yêu cầu nhà nước trả lại trường Mai Khôi khi họ không dùng cơ sở này vào việc dạy học nữa. Sau nhiều khó khăn thử thách tưởng chừng khó vượt qua, nhưng nhờ ơn Chúa, cuối cùng ngôi trường đă được hoàn trả cho giáo xứ vào năm 2006. Giờ đây trên mảnh đất đó, một đài Đức Mẹ đă được dựng lên trước khuôn viên nhà các nữ tu, góp phần tăng thêm vẻ tôn nghiêm cho một cơ sở tôn giáo.

Năm 2012, cha G.B Nguyễn Thế Ṭng (gốc Nước Ngọt, 1968-2003-) được bổ nhiệm làm quản xứ, thay thế cha Quy săn sóc linh hồn cho số giáo dân hiện tại gồm cả Phường Tây, Lương Viện, Phường Đông và Mỹ Lợi vào khoảng 800 người[6]. Các hội đoàn như Cha gia đ́nh, Mẹ gia đ́nh, Legio Mariae, Ḷng Chúa thương xót, Chung sự hiếu đạo, Thiếu nhi Thánh Thể, Lễ sinh, Tu sinh, Ca đoàn lớn nhỏ… đều hoạt động sôi nổi.

Ngày 21-5-2019, cha Phêrô Phạm Ngọc Hoa (chánh quán Tam Ṭa, sinh quán Phủ Cam, 1957-2000-) từ giă nhiệm sở quản xứ Đông Hà để vào tiếp nhận giáo sở Phường Tây. Bài sai kư ngày 10-5-2019. Ngài hiện đang tiếp tục chương tŕnh mục vụ của các cha tiền nhiệm.

Bên trong Nhà thờ Phường Tây hiện thời

5- Tổng lược các linh mục quản xứ

Philiphê Dương Đức Kỳ (1902-1903)

Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền (1945-1947)

Tađêô Trần Văn Tri (1947-1955)

Giuse Trần Thế Hưng (1955-1959)

Giuse Trần Văn Hộ (1959-1961)

G.B. Phạm Bá Viên (1961-1963)

Phaolô Tống Văn Đơn (1964-1970)

Matthia Nguyễn Văn Triêm (1970-1972)

G.B Lê Văn Hiệp (1972-1999)

Phaolô Tống Thanh Trọng (1999-2004)

Đôminicô Trương Văn Quy (2004-2012)

G.B Nguyễn Thế Ṭng (2012-2019)

Phêrô Phạm Ngọc Hoa (từ 21-05-2019).

III- HOA TRÁI ĐỨC TIN

1- Linh mục

Giuse Đỗ Văn Y (1935-1965-) Nghỉ hưu tại Phường Tây.

Simon Đỗ Viên (1951-1990-) Mục vụ tại Hoa Kỳ.

Gioakim Hồ Quang Tâm (-1994-2006) Ḍng Chúa Cứu Thế.

Êmilianô Đỗ Minh Liên (1945-1995-) Ḍng Thánh Tâm, em cha Đỗ Văn Y.

Antôn Phan Bá (1965-2001-) Mục vụ tại Hoa Kỳ.

Antôn Trần Văn Binh (1962-2003-) Giáo phận Bà Rịa-Vũng Tàu.

PX. Hồ Văn Uyển (1977-2007-)

Mathêô Trần Nguyên (1975-2009-)

Giuse Maria Đỗ Cao Nhân (1980-2013-) Ḍng Đaminh.

Gioakim Trần Đình Tạo (1979-2016-)

Gioan Bosco Trần Anh Thao (1984-2016-)

Gioakim Đào Xuân Thành (1967-2003-) Mục vụ tại Hoa Kỳ.

Gioakim Nguyễn Binh (1983-2018-) Ḍng Xitô Châu Sơn, Ninh B́nh.

2- Đại chủng sinh

1- Giuse Trần Hưng

2- Anrê Phạm Tấn Thăng

3- Giuse Trần Đình Phước.

3- Nam nữ tu sĩ

1- Cataria Trần Thị Uy, sn: 1942, vk: 1970, chết 2013, Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

2 – Mađalêna Trần Thị Lợi, sn: 1953, vk: 1987, Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

3- Madalêna Trần Thị Vẻ, sn: 1954, vk: 1989, Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

4- Anê Lương Thị Thiên, sn: 1955, vk: 1987, Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

5- Madalêna Đào Thị Thu Thanh, sn: 1971, vk: 2002, Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

6- Madalêna Phạm Thị Thanh Nhàn, sn: 1981, vk: 2012. Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

7- Anê Trần Thị Huyền Nga, sn: 1982, vk: 2014. Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

8- Anê Cao Thị Điệp, sn: 1983, vk: 2014. Ḍng Con Đức Mẹ Đi Viếng.

9- Ursule Anê Trần Thị Mai, sn: 1906, vk: 1925, qđ: 1989, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

10- Jeanne d’Arc Agnès Đỗ Thị Sa, sn: 1941, vk: 1968, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

11- Léontine Maria Đỗ Thị Lan, sn: 1943, vk: 1968, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

12- M. Domitilla Phạm Thị Sen, sn: 1946, vk: 1972, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

13- Maria Đỗ Thị Thế, sn: 1956, vk: 1990, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

14- Maria Phạm Thị Dinh, sn: 1959, vk: 1992, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

15- Maria Trần Thị Tuyết, sn: 1961, vk: 1994, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

16- Maria Phạm Thị Thanh Cảnh, sn: 1977, vk: 2010, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

17- Anê Phạm Thị Thanh Nga, sn: 1979, vk: 2012, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

18- Madalêna Trần Thị Kim Bích, sn: 1981, vk: 2012, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

19- Têrêxa Phạm Thị Lan, sn: 1983, vk: 2014, Ḍng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm.

20- Madalêna Trần Thị Nhiệm, sn: 1902(+), vk: 1976, Ḍng Mến Thánh Giá.

21- Madalêna Trần Thị Gẫm, sn: 1921(+), vk: 1981, Ḍng Mến Thánh Giá.

22- Madalêna Đỗ Thị Vọng, sn: 1935(+), vk: 1982, Ḍng Mến Thánh Giá.

23- Anê Đỗ Thị Loan, sn: 1937, vk: 1982, Ḍng Mến Thánh Giá.

24- Clara Trần Thị Tuyết, sn: 1939(+), vk: 1985, Ḍng Mến Thánh Giá.

25- Maria Trần Thị Hiền, sn: 1947, vk: 1982, Ḍng Mến Thánh Giá.

26- Maria Đỗ Thị Dung, sn: 1952 , vk: 1981, Ḍng Mến Thánh Giá.

27- Madalena Mai Thị Lệ Hằng, sn: 1986, vk: 2013, Ḍng Mến Thánh Giá.

28- Maria Trần Dạ Thảo, sn: 1988, vk: 2014, Ḍng Mến Thánh Giá.

4- Giáo dân:

– Năm 2010: 800 người (Lịch Giáo phận)

– Năm 2015: 694 người. (Lịch Giáo phận)

– Năm 2020: 661 người. (Lịch Giáo phận)

...............

[1] Trước đó họ Nguyễn, khi về Phường Tây cải lại thành họ Trần

[2] Người Mỹ Lợi, một làng giáp với Phường Tây (xem bản đồ).

[3] Theo tài liệu viết tay của cha Giuse Đỗ Văn Y, người con của giáo xứ Phường Tây.

[4] Theo cha Giuse Đỗ Văn Y trong tài liệu chép tay của ngài.

[5] Thụ phong Giám mục năm 1955, làm Giám mục phó Sài G̣n, rồi Giám mục tiên khởi GP Đà Lạt năm 1960.

[6] Lịch Công giáo, Tổng Giáo phận Huế năm 2012-2013.

[7] Theo cha Giuse Đỗ Văn Y trong tài liệu chép tay của ngài

[8] Trước đó Phường Tây đă từng có quản xứ là cha Dương Đức Kỳ từ năm 1902-1903

[9] Hai ông Antôn Huyên (1885) và Eutakio Hờm (1886) cùng gia đ́nh sau này định cư ở Phường Tây.

[10] Giáo xứ Mỹ Á nằm tại làng Mỹ Á, xă Vinh Hải (băi ngang, ven biển), huyện Phú Lộc, cách Mỹ Lợi khoảng 3km theo đường chim bay về hướng đông đông nam. Xem thêm lược sử Giáo sở Vinh Ḥa.

Nguồn : Nhóm Biên sử Tổng Giáo phận Huế (2/2/2020)
            Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi witness2005@gmail.com

....  Xem thêm ....

Lược sử Giáo xứ Phường Tây :
Nguồn : Linh mục Nguyễn Thế Ṭng - Chánh xứ Gx Phường Tây - nguyenthetong@gmail.com
Trích từ : ""LƯỢC SỬ ĐỊA SỞ PHƯỜNG TÂY- GIÁO PHẬN HUẾ (*)
Biên soạn: Thầy Giuse Trần Hưng và Thầy Anrê Phạm Tấn Thăng

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Phường Tây

H́nh ảnh Thánh Lễ Mừng Bổn Mạng Giáo xứ Phường Tây - Ngày 18.8.2013

[ Sẽ bổ sung ]

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]