Tổng Giáo phận Huế

Nhà thờ Giáo xứ Phường Tây

 

Nhà thờ Giáo xứ Phường Tây
Giáo hạt Hải Vân

 

Địa chỉ :  Xă Vinh Hưng - Huyện Phú Lộc - Tỉnh Thừa Thiên Huế.  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục GB. Nguyễn Thế Ṭng

Tel

054-387-4709

E-mail

nguyenthetong@gmail.com (Cha Xứ)

Năm thành lập

1902

Lễ Bổn Mạng

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15/8)

Số giáo dân

687 (năm 2013)

Giờ lễ

Chúa nhật     :  5:30
                       8:00 ( Gh Phường Đông)
                       16:00 ( Gh Lương Viện)
Phép lành Ḿnh Thánh Chúa mỗi chiều Chúa nhật: 18h30 và 18h15 ( mùa đông )

Ngày thường :  5:00 (thứ 3,6 - mùa hè 4:45)
                       18:15 (thứ 2,4,5,7 - mùa hè 18:30)
Gh Phường Đông : 5:00 (thứ 4 - mùa hè 4:45)
                             18:15 (thứ 6 - mùa đông 18:30)
Gh Lương Viện    : 18:15 (thứ 3 - mùa đông 18:30)

Các nhà thờ lân cận :   Gh Phường Đông -  Gh Lương Viện - Gh Mỹ Lợi

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh lễ Chúa chăn chiên lành của giáo xứ Phường Tây (11/5/2014)

* H́nh ảnh phát thưởng cho các em học sinh giỏi năm học 2012-2013 (18/2/2014)
* H́nh ảnh Mừng lễ Bổn mạng xứ đoàn TNTT Phường Tây- Lễ Chúa Kito Vua vũ trụ- (24/11/2013)
* H́nh ảnh dâng lễ tại đài nghĩa địa GX Phường Tây- 2/11/2013
* H́nh ảnh làm phép Đài Đức Mẹ của Gx Phường Tây (16/9/2013)
* Thánh Lễ Mừng Bổn Mạng Giáo xứ Phường Tây (18.8.2013 )
* H́nh ảnh Thiếu Nhi Thánh Thể Gx Phường Tây vui Tết Trung Thu (15/8/2013)
 

 

Lược sử Giáo xứ Phường Tây

LƯỢC SỬ ĐỊA SỞ PHƯỜNG TÂY- GIÁO PHẬN HUẾ (*)

Biên soạn: Giuse Trần Hưng
Anrê Phạm Tấn Thăng

Giáo xứ Phường Tây thuộc hạt Hải Vân, Tổng Giáo phận Huế, với ba giáo họ trực thuộc là Phường Đông, Lương Viện và Mỹ Lợi. Về phương diện địa giới hành chính, địa sở Phường Tây nằm trên phần đất của hai xă Vinh Hưng và Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế khoảng 35km về phía Đông Nam. Phía Tây Nam giáp đầm phá Cầu Hai, phía Đông giáp xă Vinh Mỹ và Vinh An, phía Bắc giáp Vinh An.

Nhà thờ Giáo xứ Phường Tây

Phần I: Nguồn gốc, quá tŕnh h́nh thành và phát triển của Giáo xứ Phường Tây

I. Nguồn gốc

Trong khoảng thời gian từ 1820- 1885, lần lượt có những gia đ́nh người Công giáo ở Trài (nay gọi là Cự Lại) về lập gia đ́nh và sinh sống ở vùng đất này. Trên miền đất mới này, những giáo dân di cư đến đây vẫn giữ đạo cách sốt sắng và trung thành, dù xung quanh họ toàn là người lương dân xa lạ. Ngày Chúa Nhật, họ thường đi bộ lên Trài (Cự Lại) hay giáo xứ Chuồn (nay gọi là An Truyền) để dự lễ, mất hai ngày đêm cả đi lẫn về. Những gia đ́nh ấy được xác định, dựa trên gia phả của hai họ Trần ở Phường Tây ngày nay là gia đ́nh các ông: Trần Tin[1] kết hôn với bà Lương Thị Nở[2] và định cư ở đây trong khoảng thời gian từ năm 1820- 1825. Sau đó họ sinh được 5 người con là các ông Long, Lân, Quy, bà Phụng và ông Nhỏ. Gia đ́nh họ làm nên một cộng đoàn Kitô hữu nho nhỏ và là cộng đoàn tiên khởi của giáo xứ Phường Tây sau này. Thời gian sau, hai người khác tên là Trần Ơn và Trần Vang là con ông Trần Công cũng từ Trài (Cự Lại) về Phường Tây định cư trong khoảng thời gian trước năm 1884, làm nên họ Trần thứ hai ở đây. Cùng với hai họ Trần nói trên c̣n có hai ông Gioakim Trần Chung (1858) và Phaolô Trần Truật con ông Trần Định cũng quê Trài về Phường Tây định cư cùng với gia đ́nh. Như vậy, tính đến năm 1884 cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi này đă khá đông và họ giữ đạo rất sốt sắng và lănh nhận các bí tích thường xuyên ở Trài hoặc ở Chuồn. (ước tính khoảng 9 gia đ́nh, và số giáo dân từ 20 đến 40 người).

Nơi yên nghỉ của hai vị chết v́ Đạo ở Phường Tây

 

        

Nhà bia hai Kitô hữu đầu tiên về Phường Tây
Phần mộ ông Gioakim Trần Nhỏ,
chết v́ Đạo thời Văn Thân

Dưới thời Vua Tự Đức (1847- 1883) rồi hai phong trào Cần Vương và Văn Thân 1884, cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ở Phường Tây này phải chịu nhiều bách hại v́ đạo. Nhiều gia đ́nh chịu chết và chịu đau khổ chỉ v́ mang danh Chúa Kitô. Gia đ́nh ông Antôn Trần Ơn và gia đ́nh ông Gioakim Trần Nhỏ đă phải đổ máu để tuyên xưng Đức Tin. Cả thảy tám vị là:

1. Gioakim Trần Nhỏ
2. Antôn Trần Ơn
3. Luxia Nguyễn Thị Duyệt
4. Gioan Trần Vinh
5. Phaolô Trần Khiêm
6. G.B Trần Tuệ
7. Anna Trần Thị Duyên
8. Maria Trần Thị Hỡi.

và một vị người Quảng Nam không rơ danh tính.

Các ngài chịu chết dưới thời Văn Thân, hiện nay chỉ c̣n hài cốt của hai vị đang an nghỉ tại Phường Tây là Gioakim Trần Nhỏ và vị người Quảng Nam c̣n những vị khác đă được đưa lên Trài bên cạnh ḍng tộc của ḿnh. Bên cạnh đó những gia đ́nh khác cũng phải chịu nhiều bách hại, chịu đau khổ, bị chèn ép, đánh đập v́ Đạo Thánh như gia đ́nh của bà Catarina Trần Thị Bĩu (1857); gia đ́nh ông Trần Thuật (1960) con ông Trần Lân và gia đ́nh ông Trần Truật (di cư về từ năm 1865).

Như vậy, giáo xứ Phường Tây hiện nay bắt nguồn từ giáo xứ Trài (Cự Lại) và Chuồn (An Truyền). Gốc cây Đức Tin của cộng đoàn Kitô hữu trên vùng đất cát trắng khô cằn này đă được tưới gội bởi máu của các vị Tử Đạo tiên khởi. Và từ đây, cộng đoàn đức tin nhỏ bé này ngày càng phát triển mạnh mẽ, không chỉ có con cháu trong ḍng họ mà c̣n truyền giáo ra cho những anh em lương dân bên cạnh, thuộc các họ tộc khác trên vùng đất này.

II. Những giai đoạn chính

1. Phường Tây thuộc cha sở Phủ Cam (1820- 1889)

Dưới thời Đức Cha Caspar Lộc (1830- 1907), cha Allys Lư (sau này làm Giám Mục Giáo phận) làm chánh sở Phủ Cam (1885- 1908)có cha Trần Bá Lữ làm cha phó (1885- 1890). Phong trào truyền giáo phát triển mạnh, Giáo xứ Phủ Cam phụ trách việc mục vụ, truyền giáo cả vùng phía nam địa phận và phía biển như Diêm Tụ, Hà Úc, Phường Tây...[3] Thời ḱ này Phường Tây trở thành một trung tâm truyền giáo của cha Trần Bá Lữ, bởi lẽ nơi đây con số giáo dân đă khá đông và đức tin rất vững chắc. Thỉnh thoảng, cha Trần Bá Lữ về Phường Tây cùng các vùng lân cận như Hà Úc, Nam Trường (nay thuộc Giáo xứ Vinh Ḥa) hoạt động tông đồ và chăm sóc những nhóm nhỏ tín hữu ở vùng này.[4] Dựa trên các tài liệu mà chúng tôi t́m được, không thấy con số giáo dân vào thời này và công việc truyền giáo ở đây có đạt được kết quả tốt hay không. Sau thời gian này Phường Tây không thuộc vùng truyền giáo của Phủ Cam nữa nhưng trực thuộc cha sở Diêm Tụ.

2. Trực thuộc cha sở Diêm Tụ (1889- 1894)

Năm 1889, Đức Cha Caspar Lộc (1830- 1907) quyết định thành lập Địa sở Diêm Tụ, tách ra khỏi Phủ Cam và đặt Cố Thể (Antôn Stoeffler) làm cha sở Diêm Tụ đầu tiên. Từ đây Phường Tây không c̣n thuộc Phủ Cam nữa nhưng được đặt dưới sự coi sóc của cha sở Diêm Tụ. Thời cha Philipphê Dương Đức Kỳ làm cha phó từ năm 1892, ngài vẫn thường xuyên lui tới viếng thăm Phường Tây và Mỹ Lợi (Mỹ Lợi v́ là quê hương của bà Lương Thị Nở, vợ của ông Trần Tin, người Kitô hữu đầu tiên về Phường Tây sinh sống) đồng thời chăm sóc cộng đoàn tín hữu ở đây.[5]

3. Phường Tây trực thuộc Hà Úc cho đến trở thành một giáo sở độc lập (1894- 1903)

Năm 1894, nhận thấy người theo đạo ngày càng đông, Đức Cha Caspar Lộc (1830- 1907) quyết định cho Hà Úc được trở thành một giáo sở độc lập và bổ nhiệm Cha Gioan Mery (Cố Y) làm cha sở tiên khởi. Thời kỳ này Phường Tây đương nhiên trở thành một giáo xứ trực thuộc Hà Úc. Thời Cố Y, người ta trở lại Đạo rất đông, nhất là sau trận băo lụt lịch sử năm 1897 (Đinh Dậu), kéo theo nạn đói kém trầm trọng. Có lẽ là nhờ sự giúp đỡ vật chất của Cố cùng với nhiều Giáo dân đối với lương dân cho nên họ trở lại Đạo v́ thấy tấm gương bác ái nơi người Kitô hữu. Cố Y c̣n áp dụng phương pháp “nương Cha, nhà Cố” nghĩa là mỗi gia đ́nh theo đạo th́ thường cha phó cho họ một chỗ đất ở, c̣n Cố th́ lo việc xây nhà. Phải chăng người ta trở lại đông cũng v́ lư do đó?[6]

Cho đến năm 1902, cha Philipphê Dương Đức Kỳ được bổ nhiệm làm Cha sở đầu tiên của giáo sở Phường Tây, đồng thời cũng là cha phó Hà Úc. Như vậy, thời điểm này Phường Tây đă trở thành một giáo sở độc lập với các giáo họ trực thuộc từ Phường Tây đến Nam Trường (nay thuộc Giáo xứ Vinh Ḥa). Tính đến nay (2013) địa sở Phường Tây tṛn 111 năm thành lập. Tuy nhiên thời gian tách riêng chỉ có một năm và chấm dứt sau khi cha Dương Đức Kỳ được thuyên chuyển ra làm cha sở Sơn Quả năm 1903, giáo xứ Phường Tây lại trực thuộc cha sở Hà Úc như trước.

4. Phường Tây lại trực thuộc giáo xứ Hà Úc (1903- 1945)

Sau khi Cha Dương Đức Kỳ được thuyên chuyển đi làm quản xứ Sơn Quả, Phường Tây lại trực thộc giáo xứ Hà Úc. Thời Cố Mầu (Maillebeau) làm quản xứ th́ Địa sở Hà Úc kéo dài từ Xuân Thiên (Vinh Xuân) đến Nam Trường (Vinh Giang). Giáo dân địa sở ngày càng đông, Cố tổ chức lại cơ cấu sinh hoạt của giáo sở. Các giáo họ phía nam Hà Úc được Cố giao cho các cha phó coi sóc, c̣n Cố phụ trách từ Hà Úc lên đến Xuân Thiên. Do đó, trải qua ba đời Cha sở Hà Úc là Cố Mầu, cha Nguyễn Văn Hân, và Cố Vỵ (Viry), Phường Tây có được các cha phó ở biệt cư tại đây như các cha Phêrô Huỳnh Văn Thuận; Tađêô Hồ Bảo Huỳnh; Anrê Nguyễn Văn Từ (1934), Phêrô Trần Văn Hóa; Phaolô Mai Xuân Hiến; G.B Nguyễn Văn Đông (1941- 1943), Gioan Nguyễn Đăng B́nh; Giacôbê Phan Văn Cơ và Fx. Trần Thanh Giản.[7]

Trong thời gian này nh́n chung đời sống đạo của giáo dân Phường Tây tiến triển tốt đẹp. Giáo dân sốt sắng, đạo đức, siêng năng dự lễ, lănh nhận các Bí Tích và nhất là gắn bó với nhau qua những buổi đọc kinh sáng tối ở nhà thờ. Giáo xứ được quan tâm, nhiều hội đoàn được tổ chức thành khiến cho đời sống đạo thêm sinh động. Về đời sống xă hội bên cạnh những lương dân, người Công giáo Phường Tây sống hài ḥa với tất cả những người bên lương cũng như những người thuộc tôn giáo bạn (Phật giáo). Nhờ đó mà mối tương quan hàng xóm láng giềng, Lương - Giáo vẫn luôn tốt đẹp cho đến ngày nay.

Cũng trong thời gian này, năm 1939, Cố Viry xây dựng nhà thờ mới, đây là ngôi nhà thờ thứ ba của giáo xứ Phường Tây. Nhờ đó giáo dân có được nơi thờ phượng kiên cố và xứng đáng. Đồng thời song song với việc xây nhà thờ, Cố c̣n cho xây cơ sở các chị trên đất mà hiện nay Cộng Đoàn Con Đức Mẹ Vô Nhiễm Huế đang ở để phục vụ giáo xứ.

5. Phường Tây lại có cha sở và Giáo xứ độc lập trở lại tách ra khỏi Hà Úc (1945 đến nay)

Vào năm 1945, Đức Cha Lễ (Francois Lemasle) bổ nhiệm cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền[8] làm cha sở thứ hai của Phường Tây. Từ đây đánh dấu một bước trưởng thành mới của giáo xứ, Phường Tây trở thành một giáo sở thực sự và lâu dài với ba giáo họ trực thuộc là Phường Đông, Lương Viện và Mỹ Lợi.

Năm 1947, Cha Hiền rời Phường Tây để làm Giám đốc Đại Chủng Viện Huế, cha Tađêô Trần Văn Tri được bổ nhiệm làm cha sở Phường Tây. Ngài là người có công củng cố Đức Tin và đời sống đạo cho giáo dân. Ngài kêu gọi giáo dân sống bác ái với người lương, tạo mối quan hệ làng xóm tốt đẹp đoàn kết lương giáo nhất là giữa những người cùng chung họ tộc nhưng khác nhau về niềm tin. Cha Tri là người đầu tiên sắm chuông Tây và làm giá chuông bằng gỗ đầu tiên cho giáo xứ. Cũng trong thời gian này, năm 1952 các chị mở trạm xá khám bệnh giúp đỡ nhiều người lương giáo. Đến năm 1955, Cha Tri được thuyên chuyển làm cha sở Thần Phù và Cha Giuse Trần Thế Hưng được bổ nhiệm về Phường Tây kế nhiệm.

Cha Trần Thế Hưng là người có công xây dựng giáo xứ cả về vật chất lẫn đời sống tinh thần. Trong thời gian quản xứ, ngài xây xựng và sửa chữa nhiều công tŕnh của giáo xứ. Việc trước tiên là ngài đại trùng tu nhà thờ tất cả bằng gỗ kiền nhờ sự đóng góp công của của giáo dân và các ân nhân, nổi bật là ông Hội Nghi và ông Viêm. Tiếp theo ngài xây dựng nhà xứ khang trang hơn, rồi các kho lẫm… Số giáo dân của Phường Tây thời gian này lên đến 1500 người. Có lẽ đây là con số giáo dân đông nhất từ trước đến nay. Và chắc rằng cơ cấu của giáo xứ từ khi có cha sở đă được tổ chức cách quy cũ và hiệu quả. Đến năm 1959, cha Giuse Lê Văn Hộ được bổ nhiệm thay thế cha Hưng.

Cha Hộ tiếp tục công tŕnh xây dựng đời sống thiêng liêng cho giáo xứ. Bên cạnh đó, ngài c̣n làm trần nhà thờ, làm lại của sổ, làm cho ngôi nhà thờ thoáng mát và khang trang hơn. Cây Thánh Giá lớn do anh em ông Trần Hào dâng cúng làm cho cung thánh thêm uy nghiêm xứng với một nơi thờ tự lớn. Ngài c̣n xây dựng tháp chuông bằng bêtông kiên cố (sau này được trùng tu lại).

Tháp chuông nhà thờ Phường Tây ngày nay

Sau hai năm ở Phường Tây, ngài được thuyên chuyển làm cha sở Hội Yên, Phường Tây được coi sóc bởi Cha Phạm Bá Viên.

Cha Phạm Bá Viên làm cha sở Phường Tây từ năm 1961 đến 1963, cũng như các cha sở tiền nhiệm, mối quan tâm hàng đầu của ngài là củng cố những ngôi nhà thiêng liêng của người tín hữu và sửa sang lại nhà xứ.

Tiếp nối Cha Viên là Cha Phaolô Tống Văn Đơn từ năm 1964 đến 1970. Ngoài việc chăm sóc đời sống thiêng liêng tín hữu, ngài c̣n chú tâm việc mở mang văn hóa, nâng cao đời sống tri thức cho con em trong vùng không phân biệt lương giáo bằng việc mở trường tiểu học Mai Khôi. Nhờ đó con em trong vùng có được điều kiện học tập, nhiều người biết chữ, những người sau này có điều kiện học thêm và thành đạt cũng ghi ơn mái trường này.

Từ năm 1970 đến 1972, giáo xứ Phường Tây được Cha Matthêu Nguyễn Văn Triêm coi sóc. Bên cạnh việc lo lắng đời sống tinh thần, ngài c̣n quan tâm đến đời sống vật chất của giáo dân. Ngài mua lại ruộng Nhà Chung, tất cả 80 mẫu cho giáo dân canh tác và nộp huê lợi để góp phần cho đời sống của cha sở và các chị. Ngài cũng tổ chức các hội đoàn như hội Legiô với 35 thành viên và nhất là ngài có công thành lập Đoàn Thiếu nhi Thánh Thể giáo xứ với 241 đoàn viên, với sự điều hành của chính ngài và 15 huynh trưởng. Như vậy, thời Cha Triêm, Đoàn Thiếu nhi Thánh Thể tuy mới thành lập nhưng đă được tổ chức quy mô với mục đích giáo dục đức tin, giúp gia tăng ḷng mến Chúa Giê-su Thánh Thể nơi các em thiếu nhi. Đồng thời, ngài giúp các em rèn luyện các kỹ năng sống và đặc biệt là đời sống nhân bản. Trong thời kỳ này trường Mai Khôi vẫn c̣n tiếp tục hoạt động và mang lại tri thức cho các em thiếu nhi lương giáo trong vùng. Đời sống giáo xứ trong thời gian này có nhiều khởi sắc.

Thời ḱ 1972 đến 1999, Cha G.B Lê Văn Hiệp làm cha sở Phường Tây trong một hoàn cảnh chính trị - xă hội hết sức phức tạp. Ngài về nhận xứ năm 1972, yên b́nh không được bao năm, nhiệt huyết tông đồ của một linh mục trẻ chưa kịp thi thố, th́ bất ngờ biến cố chính trị 1975 xảy đến. Chiến tranh loạn lạc, nhiều giáo dân trong xứ phải chạy trốn (chạy giặc) hoặc di cư đi nơi khác ít nhiều, riêng ngài vẫn trung thành bám trụ với miền đất được trao phó. Chiến tranh qua đi, ḥa b́nh lập lại giáo dân cũng như dân chúng trong vùng lại phải đối phó với những khó khăn cùng cực về kinh tế và cha sở cũng cùng chung số phận. Ngoài việc phải chăm lo đời sống thiêng liêng cho giáo dân, ngài c̣n phải tự tay lao động nuôi sống bản thân. Thời bấy giờ, ngài trở thành một “Linh Mục nông dân” thực thụ. Ngài từng phải cuốc đất trồng khoai, phải lội nước cào phân, phải đi làm “ruộng tập đoàn” …Trong hoàn cảnh hết sức khó khăn như vậy, nhiệt huyết tông đồ và đức ái mục tử luôn là đức tính sáng ngời của một vị linh mục trẻ âm thầm. Ngài chu toàn một cách trung thành, tự nguyện bổn phận của một mục tử đối với đoàn chiên. Không những thế, một mặt ngài t́m cách thuyết phục giữ chân nhiều giáo dân đang muốn bỏ xứ đi t́m những miền đất mới v́ không chịu nổi cảnh khó khăn, đói kém ở quê nhà, mặt khác ngài cũng t́m mọi cách để hoạt động truyền giáo, tăng cường đối thoại với lương dân. Trong thời gian này trường Mai Khôi bị ngưng hoạt động, cơ sở vật chất của nhà trường th́ nhà nước mượn tạm để làm trường học của nhà nước. Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể do thời cuộc cũng không c̣n những sinh hoạt sôi nổi như thời Cha Triêm, măi đến năm 1996 mới được tái thành lập. Số giáo dân ngày một ít đi do nhiều giáo dân rời giáo xứ di cư vào miền Nam hoặc đi các “vùng kinh tế mới” như Nam Đông, Tây Nguyên, một số đi ra nước ngoài…

Sau năm 1986 t́nh h́nh đất nước có nhiều khởi sắc hơn về kinh tế nhờ cải cách, những vấn đề chính trị nhạy cảm cũng dần lắng dịu. Lúc này ngài bắt đầu ra sức củng cố lại giáo xứ về đời sống thiêng liêng cũng như hoạt động của các hội đoàn. Ngài thành lập hội đoàn theo từng giới như Cha gia đ́nh, Mẹ gia Đ́nh, Ông bà Lăo, Thiếu Nhi Thánh Thể (1996), các Ca Đoàn lớn nhỏ và đặc biệt chú ư đến việc dạy giáo lư cho con em trong giáo xứ từ lớp khai tâm đến lớp vào đời… Tất cả mọi giáo dân theo giới của ḿnh giúp nhau sống đạo. Ngài rất hăng say hoạt động tông đồ truyền giáo cho anh em lương dân. Cụ thể, ngài cho lập những nhóm nhỏ các Tông đồ giáo dân hoạt động truyền giáo. C̣n chính Ngài luôn luôn nói về Đạo cho người lương dân khi có điều kiện. Theo một số giáo dân trong xứ kể lại, th́ trong những dịp Kị Giỗ, tiệc tùng…, ngài luôn t́m cách để đồng bàn với những người lương dân qua đó có dịp nói cho họ hiểu hơn về đạo . Những người lương dân vùng này khi nhắc đến ngài họ đều dành cho ngài những t́nh cảm hết sức quư mến. Hiện nay có rất nhiều giáo dân theo đạo từ thời của ngài đang sống đạo rất sốt sắng.

Trải qua “một cuộc bể dâu” như thế Cha cố GB. Lê Văn Hiệp vẫn đủ nghị lực hầu nâng đỡ tinh thần giáo dân ngày một vững mạnh. Hay đúng hơn phải nói: Chúa vẫn ban cho ngài đủ nghị lực, ḷng can đảm, nhiệt huyết cùng sự khôn ngoan để thi hành sứ vụ mục tử và dẫn dắt đoàn chiên Phường Tây mà Chúa giao phó.

Đặc biệt, Cha cố GB. Hiệp cũng đă có công xây dựng mới các ngôi nhà thờ Phường Đông, Lương Viện, Mỹ Lợi và nhất là nhà thờ Phường Tây bao gồm cả nhà cha sở, nhà hội trước khi ngài rời Phường Tây năm 1999. Suốt 27 năm lao tâm, lao lực với biết bao thăng trầm sướng khổ trên mảnh đất Phường Tây thân yêu, sức khỏe ngài đă xuống dốc trầm trọng nên chỉ sau 3 năm sau đó (2001) ngài đă qua đời khi đang làm quản xứ tại Giáo xứ Cồn Hến, giáo phận Huế. Một chi tiết chúng tôi thiết tưởng cũng nên đề cập ở đây nhằm nói lên những đức tính tuyệt vời của một vị mục tử có công lớn với Phường Tây. Vốn ngài là người trải qua một cuộc đời linh mục trong hoàn cảnh khó khăn vất vả, nhưng luôn hết ḿnh cho đoàn chiên đến nỗi khi lâm bệnh mà ngài không hề hay biết. Trong một lần đi mừng lễ bổn mạng Cha PX. Lê Văn Hồng (Hiện là Đức Tổng Giám Mục GP. Huế), có một cha đă phát hiện những triệu chứng của bệnh tiểu đường nơi ngài. Cha đó khuyên ngài đi khám và quả thật ngài bị bệnh tiểu đường khá nặng. Từ đó, mỗi ngày ngài phải chịu khó tự ḿnh chích 4 mũi Insulin suốt nhiều năm liền cho đến khi qua đời. Theo một tác giả của cuốn “Tiểu sử các linh mục Tổng Giáo Phận Huế” th́: “Cha Hiệp là người có tính tốt: chịu khó, không mấy khi phàn nàn v́ cơn bệnh”[9].

Năm 1999, Cha Phaolô Tống Thanh Trọng được Đức Tổng Stêphanô Nguyễn Như Thể bổ nhiệm làm quản xứ Phường Tây thay thế Cha Hiệp. Tiếp nối cha Hiệp chăm sóc cộng đoàn giáo xứ, Cha Trọng đă tiếp tục công cuộc “trăm năm trồng người” của các vị tiền nhiệm. Ngài tổ chức các hội đoàn đi vào quy cũ hơn, cộng tác với ngài là một hội đồng giáo xứ được phân công với đầy đủ các chức danh và công việc. Ngoài những hội đoàn truyền thống như Cha gia đ́nh, Mẹ gia đ́nh, Lăo ông, lăo bà…c̣n có hội đoàn Legiô hoạt động trở lại khá quy mô. Việc dạy giáo lư cho các em và sinh hoạt của Đoàn Thiếu nhi Thánh Thể cũng được ngài quan tâm cách đặc biệt, tổ chức sinh hoạt hàng tuần, và quan tâm đến việc đào tạo thế hệ huynh trưởng tương lai.

Đến năm 2004, Cha Trọng được thuyên chuyển làm cha sở Triều Sơn Nam, và Cha Đôminicô Trương Văn Quy được bổ nhiệm làm cha sở Phường Tây. Cha Quy chủ trương xây dựng một giáo xứ mà giáo dân tự trưởng thành về mọi mặt cả trong tổ chức đời sống giáo xứ cũng như trong đời sống đạo đức. Ngài c̣n quan tâm đến việc chăm sóc tinh thần cho một bộ phận lớn những người trẻ là mầm non “đức tin” của giáo xứ. Đối với những con em của giáo xứ v́ kế sinh nhai phải đi làm ăn xa nhà, ngài cho tổ chức những buổi tĩnh tâm, họp mặt, chia sẻ kinh nghiệm sống đạo vào dịp tết, ngài cũng ao ước có một trang mạng (hay Blog) để gắn kết những người xa xứ với những sinh hoạt của giáo xứ nhưng đến nay vẫn chưa làm được. Trong thời gian làm cha sở, ngài đă cho xây dựng mới nhà thờ Phường Đông cùng với tường rào bao quanh và nhà cha sở (tuy chưa hoàn thiện), ngài cho đại trùng tu ngôi nhà thờ Phường Tây xuống cấp do mối mọt (năm 2011). Trước đó, khi mới về làm quản xứ ngài cũng đă cùng với giáo dân làm đơn đề nghị nhà nước trả lại trường Mai Khôi khi họ không dùng cơ sở này vào việc dạy học nữa. Sau những khó khăn thử thách tưởng chừng khó vượt qua, nhưng nhờ ơn Chúa quan pḥng cuối cùng nhà nước đă hoàn trả cơ sở này cho giáo xứ vào năm 2006. Giờ đây trên mảnh đất đó một đài Đức Mẹ đă được dựng lên trước khuôn viên nhà các chị, góp phần tăng thêm vẻ tôn nghiêm của một cơ sở tôn giáo.

Năm 2012, cha G.B Nguyễn Thế Ṭng được bổ nhiệm làm cha sở Phường Tây thay thế Cha Quy. Với con số giáo dân hiện tại gồm cả Phường Tây, Lương Viện, Phường Đông và Mỹ Lợi vào khoảng 800 người[10]. Có các hội đoàn đang hoạt động sôi nổi như: Cha Gia đ́nh; Mẹ Gia đ́nh; Lêgiô; Ḷng Chúa thương xót; Chung sự hiếu đạo; Thiếu Nhi Thánh Thể; Lễ Sinh; Tu Sinh, Ca Đoàn lớn nhỏ…

--------------------------------------------------------------------------------

[1] trước đó họ Nguyễn, khi về Phường Tây cải lại thành họ Trần

[2] người Mỹ Lợi- một làng giáp với Phường Tây

[3] x. Tiểu sử các linh mục giáo phận Huế, tr.202

[4] Xem thêm Lược sử giáo xứ Diêm Tụ, in trong cuốn Lược sử các giáo xứ Tổng giáo phận Huế, tr.296

[5] Theo tài liệu viết tay của Cha Giuse Đỗ Văn Y, người con của giáo xứ Phường Tây.

[6] x. Lược sử giáo xứ Hà Úc, in trong cuốn Lược sử các giáo xứ Tổng giáo phận Huế, tr.401

[7] Theo Cha Giuse Đỗ Văn Y trong tài liệu chép tay của ngài.

[8] Thụ phong Giám mục năm 1955, làm Giám mục phó Sài G̣n; Giám mục tiên khởi GP Đà Lạt năm 1960.

[9] Tiểu sử các linh mục Tổng Giáo Phận Huế, cuốn II, tr. 222- 223

[10] Lịch công giáo, Tổng giáo phận Huế năm 2012-2013.

 

Phụ Lục

Các linh mục quản xứ Phường Tây

1. Philiphê Dương Đức Kỳ (1902- 1903)
2. Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền (1945- 1947) (sau này làm giám mục phó Sài G̣n (1955) rồi Giám mục chính ṭa Đà Lạt (1960))
3. Tađêô Trần Văn Tri (1947- 1955)
4. Giuse Trần Thế Hưng (1955- 1959)
5. Giuse Trần Văn Hộ (1959- 1961)
6. Phạm Bá Viên (1961- 1963)
7. Phaolô Tống Văn Đơn (1964- 1970)
8. Matthêu Nguyễn Văn Triêm (1970- 1972)
9. G.B Lê Văn Hiệp (1972- 1999)
10. Phaolô Tống Thanh Trọng (1999- 2004)
11. Đôminicô Trương Văn Quy (2004- 2012)
12. G.B Nguyễn Thế Ṭng (19/11/ 2012…)

* Trong ngoặc đơn là thời gian các ngài làm quản xứ Phường Tây

Những hoa trái của “vườn cây” đức tin giáo xứ Phường Tây

1. Lm. Giuse Đỗ Văn Y (1965)
2. Lm. Simon Đỗ Viên (1990)
3. Lm. Gioakim Hồ Quang Tâm (1994 + qua đời 9/7/2006)
4. Lm. Êmilianô Đỗ Minh Liên (1995)
5. Lm. Antôn Phan Bá (2001)
6. Lm. Antôn Trần Văn Binh (2003)
7. Lm. Fx. Hồ Văn Uyển (1/ 1/ 2007)
8. Lm. Mathêô Trần Nguyên (04 /06 /2009)
9. Lm. Giuse Maria Đỗ Cao Nhân (2013)

· Trong ngoặc là năm chịu chức linh mục

Và nhiều tu sĩ nam nữ khác gồm:

5 Đại chủng sinh ( ĐCV- Huế)
4 Nam tu sĩ
53 Nữ tu đă khấn tạm và vĩnh khấn
11 Thanh tuyển

... tất cả đang sống trong các ḍng tu của Giáo phận nhà và ngoài Giáo phận.

Tài liệu tham khảo

- Tiểu sử các linh mục giáo phận Huế, tập I, II, lưu hành nội bộ.
- Lm. Giuse Đỗ Y, Lược sử giáo xứ Phường Tây, tài liệu chép tay.
- Lược sử giáo xứ Phường Tây, in trong Lược sử các giáo xứ Tổng giáo phận Huế, 2001, tr. 486- 499
- Lược sử giáo xứ Diêm Tụ, in trong Lược sử các giáo xứ Tổng giáo phận Huế, 2001, tr. 295- 302.
- Lược sử giáo xứ Hà Úc, in trong Lược sử các giáo xứ Tổng giáo phận Huế, 2001, tr. 398- 407.
- Lịch công giáo, Tổng giáo phận Huế năm 2012-2013.

 

Nguồn : Linh mục Chánh xứ Gx Phường Tây
Trích từ : ""LƯỢC SỬ ĐỊA SỞ PHƯỜNG TÂY- GIÁO PHẬN HUẾ (*) -  Biên soạn: Thầy Giuse Trần Hưng và Thầy Anrê Phạm Tấn Thăng

 

Mời xem thêm : Lược sử Gh Phường Đông -  Gh Lương Viện - Gh Mỹ Lợi

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Phường Tây

H́nh ảnh Thánh Lễ Mừng Bổn Mạng Giáo xứ Phường Tây - Ngày 18.8.2013

[ Sẽ bổ sung ]

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com