Tổng Giáo phận Huế

Giáo xứ Trí Bưu

JB. LV Huề
 
 

Làng Trí Bưu (Cổ Bưu 古 郵) hiện nay thuộc phường 2 thị trấn Quảng Trị. Trí Bưu, một làng Công giáo toàn ṭng lâu đời nằm trong Giáo hạt Dinh Cát Trung, thuộc Tổng Giáo Hạt Dinh Cát mà nay là Giáo Hạt Quảng Trị trực thuộc Tổng Giáo Phận Huế.

Ư nghĩa về danh xưng (Cổ) Trí Bưu

Cổ Bưu có nghĩa là trạm thư tín, công văn được chuyển từ triều đ́nh về các đạo (tỉnh hiện nay) và ngược lại. Mănh đất làng Trí Bưu bây giờ, nguyên vào khoảng đời nhà Trần hay nhà Hồ có dựng một nhà trạm để lo việc chuyển nhận thư từ và công văn (Ty Bưu Điện bây giờ). Về sau này vị Khai tiên làng Trí Bưu đă đến định cư trên vùng đất nhà Trạm này nên đă có tên gọi là “Cổ Bưu”. Theo Hán Việt Từ Điển của Thiều Chửu và nét viết chữ Hán trong “Ô Châu Cận Lục” th́: Cổ (古) nghĩa 1 là ngày xưa. 2 là không xu phụ thói đời, như cổ đạo hay đạo cổ, cao cổ cao thượng như thói xưa.

Bưu (郵) nghĩa 1 là nhà trạm. Dùng ngựa truyền tin gọi là Trí (智) chạy bộ truyền tin gọi là bưu. Công sở dùng để thông tin tức chạy thơ từ khắp nơi, bây giờ gọi là bưu chính cục.

Như vậy ư nghĩa của hai từ “Cổ Bưu hay Trí Bưu” đă đúng theo định nghĩa ghi ở đầu mục này. Sự thay đổi từ Cổ Bưu sang Trí Bưu th́ theo ư nghĩa của Hán Việt Từ Điển đă cho biết; vào thời kỳ đầu, người mang thư tín phải đi bộ, nên gọi là Cổ Bưu. Về sau người ta dùng ngựa thay v́ đi bộ nên gọi là Trí Bưu. Một số khác cho rằng gọi là làng “Cổ Vưu”, có lẽ do tiếng địa phương nói trại ra, chứ trong Hán Việt Từ Điển chữ “Vưu” ghép với “Cổ” hay “Trí” đều vô nghĩa.

Theo “Une page de l’histoire du Quảng Trị” của nguyên công sứ Jabouille nói về cuộc thiêu sát của Văn Thân có đoạn viết về Trí Bưu như sau: “Đất làng Trí Bưu hiện nay là chỗ đất thời nhà Trần hay nhà Hồ làm trạm liên lạc (trạm Bưu điện). Sau này dân làng Trí Bưu đến ở trên mănh đất đó, nên gọi là Cổ Bưu, đọc trại ra là Cổ Vưu. Đến đời nhà Nguyễn, cũng chọn đất Cổ Vưu làm nhà trạm công văn thư từ, nên cải tên Cổ Vưu đọc ra là Trí Bưu” (có nghĩa là vị trí đặt trạm Bưu điện).

Thời điểm thành h́nh làng Trí Bưu

Theo ḍng lịch sử đất nước trải qua các thời đại vua chúa, kể từ sau khi nhà Trần tiếp nhận đất hai châu Ô và Rí năm 1307 cho đến sau này, đều không thấy nói đến thời điểm các cuộc di dân nào từ các tỉnh phía Bắc vào Nam, trừ thời gian sau 1954 đến nay. Do đó việc truy t́m thời điểm thành h́nh các hương làng là một việc làm khá khó khăn. “Ô Châu Cận Lục” cũng chỉ cung cấp phần nhỏ nào cho việc truy t́m mà thôi.

Làng Cổ Bưu trong “Ô Châu Cận Lục”của Dương Văn An xuất bản năm 1553 cũng không thấy có tên trong hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương, mà chỉ có làng “Cổ Bưu” xă Hương Sơ, thành phố Huế mà thôi. Thế nhưng, trong Bản tin liên lạc đồng hương Trí Bưu số 1 (2003) viết: “Năm 1306, vua Chiêm Thành dâng hai châu Ô và Rí làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân, tổ tiên Trí Bưu đă theo tiếng gọi lịch sử vào miền đất này khai hoang lập nghiệp”.

Theo thiển ư th́ đây cũng chỉ là một luận cứ chung chung theo định đoán cá nhân mà thôi. Nếu làng Cổ Vưu được thành h́nh từ lúc vua nhà Trần nhận đất hai châu Ô và châu Rí vào năm 1307, có quá sớm chăng? Làng Trí Bưu cùng chung một vùng thuộc Bắc Quảng Trị ngày nay, nên cũng có thể đă thành h́nh vào khoảng thời vua Lê Thánh Tông niên hiệu Hồng Đức nguyên niên từ 1470 về sau. V́ nếu không cùng thời gian này th́ sẽ không c̣n đất để khai hoang lập hương làng nữa.

Các vị khai tiên làng Trí Bưu

Một vài vị cao niên làng Trí Bưu cho biết; Trí Bưu có 2 họ tộc chính, đó là họ Lê Thiện và họ Bùi, các họ tộc khác như Lê Văn, Lê Viết, Nguyễn về sau này mới nhập cư vào. Trong 2 họ tộc chính như đă nói chúng tôi không rơ họ tộc nào là họ khai tiên ra làng và chính tên của vị khai tiên này.

Địa lư: Làng Trí Bưu nằm về phía Đông-Đông Bắc thành cỗ Quảng Trị. Phía Đông giáp làng Quy Thiện, Tây giáp Cỗ Thành thị xă Quảng Trị, Nam giáp làng Long Hưng , Bắc giáp làng Hạnh Hoa và một đoạn sông Vĩnh Định.

Tin Mừng đến với dân làng Trí Bưu

Qua ḍng lịch sử truyền giáo thời Bề trên Francessco Buzomi (1576-1639) sau khi rao giảng ở Quảng Nam và Phú Yên. Năm 1619 ngài ra Dinh Cát nơi chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên trấn đóng, thăm các họ đạo cho đến ranh giới Bắc triều. (thời gian này cũng chưa qua khỏi vùng Ái Tử). Từ đây các vùng phía Nam trấn Dinh Cát trong đó có dân làng Trí Bưu đă đón nhận Tin Mừng do thừa sai Fx. Buzomi rao giảng.

Cũng vào thời điểm này, theo A. Launay trong cuốn “Histoire de la Mission de Cochinchine” Từ năm 1615, các cha Ḍng Tên ở Áo Môn lần lượt qua truyền giáo tại xứ Đàng Trong (đất chúa Nguyễn). Thời gian từ 1666-1690 các cha thuộc hội truyền giáo Ba Lê đă thành lập tại Dinh Cát (Quảng Trị) được 16 xứ. Trong đó có Giáo xứ Cổ Bưu. Như vậy làng Cổ Bưu đă theo đạo từ bán thế kỷ XVII do các linh mục thuộc hội truyền giáo Ba Lê.

Theo cố linh mục Matthêô Lê Văn Thành, sinh quán Trí Bưu th́ dân làng Trí Bưu bắt đầu đón nhận Tin Mừng dưới thời Thừa sai Alexandre De Rhode rao giảng cùng với sự trợ giúp của 12 thầy giảng. (X “Lược sử các Giáo xứ” trang 884, 885)

Với luận cứ này th́ cha Alexandre De Rhodes lúc trở lại Đàng Trong lần thứ ba (01.1642) ngài mới cho tổ chức và huấn luyện lớp thầy giảng như đă tổ chức ở Đàng Ngoài. Tổ chức này đến tháng 07.1643 mới có 10 thầy tuyên hứa. Nếu luận cứ của linh mục Lê Văn Thành là đúng, th́ dân làng Trí Bưu theo đạo sớm lắm cũng vào năm 1643.

Cụ Lê Hy có thể là một trong những giáo dân đầu tiên chịu phép Rửa tội của Giáo họ Trí Bưu.

Khi linh mục bản xứ là Lôrensô Huỳnh Văn Lâu (Long) được cha Chính Labbé gởi ra phục vụ ở Dinh Cát năm 1690, ngài chọn trú sở tại Giáo xứ Dương Lệ Văn. Đầu năm 1691 ngài đă lần lượt đi thăm các họ đạo do ngài phụ trách, trong đó có họ Trí Bưu, th́ lúc đó Giáo họ Trí Bưu có 120 giáo dân, nhưng đa số đều đi làm rừng không mấy người ở nhà. (Sđd trang 885)

Cổ Bưu thành h́nh phường La Vang

Khoảng đầu thế kỷ XVII, dân làng Cổ Bưu đă cùng nhau vượt đồi tiến về phía Tây Nam làng hơn 5 hay 6 cây số nơi rừng thiêng nước độc với bao hiểm nguy của thú dữ, để cùng nhau khai phá một vùng đất mới, hầu t́m thêm đất canh tác, đồng thời cũng t́m đồng cỏ cho bầy gia súc của họ. Thời gian trôi qua gần 100 năm sau đó, một số con cháu của họ đă sinh sống tại đây, tuy không thường trực nhưng cũng đủ để tạo nên một phường mới, đó là phường Lá Vằng (nơi có nhiều cây lá Vằng).

Về thời điểm thành h́nh phường Lá Vằng, th́ trong một lá thư đề ngày 17.02.1691 của cha Lôrensô Huỳnh Văn Lâu gởi về Rôma nói về việc ngài đi thăm Giáo xứ Trí Bưu vào đầu năm 1691 có đoạn như sau: “… Ngày 08.01.1691 trong cuộc viếng thăm các họ đạo vùng Dinh Cát, tôi đă tới thăm họ Cổ Vưu. Số giáo dân ở đây gồm có 120 người. Phần đông làm nghề đốn củi ở trong rừng, không có mấy người ở nhà …”. Như vậy, khu vực phường Lá Vằng này đă bắt đầu h́nh thành từ trước 1691.

Trong “Gia Long toàn tu địa bộ” được thành lập năm 1802 khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, sau khi đă cho lệnh kiểm tra dân số và tu chính lại địa bộ trong cả nước, người ta đă thấy có thêm phường mới với tên là “Phường Lá Vằng” trực thuộc làng Trí Bưu.

Phường Lá Vằng đă trở thành một địa danh, mà trong những bài viết về sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại đây, dưới thời vua Cảnh Thịnh bắt đạo, đă gây nhiều thắc mắc giữa tên Lá Vằng hay La Vang? đến nay vẫn chưa có kết quả. Thế nhưng tên dùng chính thức hiện nay là “La Vang”.

Trở về quá khứ giữa sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang với giáo dân Trí Bưu, th́ đây là một diễm phúc cho giáo dân Trí Bưu, đă được chứng kiến và cũng là chứng nhân cho một sự kiện lạ, đó là sự kiện Đức Mẹ hiện ra đầy an ủi và khích lệ. Từ đó Trí Bưu đă có những cuộc rước kiệu Mẹ hằng năm từ Giáo xứ vào La Vang thật tưng bừng sốt sắng, để rồi cũng từ đó Trí Bưu đă trở thành trung tâm niềm tin của Giáo phận Huế.

Trí Bưu đă có công khai dựng nên La Vang, và chính La Vang cũng là nơi cho chính con cháu của những người đă tạo dựng nên nó ẩn náu trong những lúc bị bách hại khủng khiếp nhất. Giờ đây hậu sinh của tiền nhân Trí Bưu phải là người trách nhiệm đầu trong việc tô điểm lại La Vang hầu cho mỗi ngày một phát triển thêm để xứng đáng là hậu duệ của các vị Tiền nhân.

Một sự kiện khác có liên quan đến vùng đất Phường Lá Vằng, là vào thời Đức Giám Mục Sohier (B́nh) cai quản Giáo Phận (06/1862 - 09/1876), ngài muốn xin giáo dân phường Lá Vằng (Trí Bưu) một khu đất để lập viện Dục Anh cho Giáo Phận, hầu quy tụ các gia đ́nh Công giáo bị bách hại trong quá khứ, đặc biệt là vụ “Phân Tháp” của vua Tự Đức. Nhưng không được dân phường chấp nhận nhượng đất, nên ngài phải trở về Huế và chọn vùng Ba Trục, Ồ Ồ. Từ đó viện Dục Anh được khai sinh (1864) và là tiền thân của Giáo xứ Thanh Tân. (Sđd trang 666).

Giáo xứ Trí Bưu vào năm 1776 được thừa sai Jean Labartette (cố An) tới ở họ Thợ Đúc Huế 4 năm, rồi ra Cổ Bưu trú tạm khoảng 1 năm, để viếng thăm các Giáo họ ở Dinh Cát, sau đó ngài đi ra Di Loan (Cửa Tùng). Thừa sai Jean Labartette đă được Đức Giám mục Pigneau de Béhaine chọn làm Giám mục phó Giáo Phận Đàng Trong phụ trách vùng Bắc, thời gian này ngài vẫn chờ đợi sắc chỉ thụ phong Giám mục từ Rôma đến. Năm 1786 cha Jacques Longer (cố Gia) đến Cổ Bưu lo điều hành Chủng viện một thời gian, rồi sau đó cũng về Di

Loan theo ư cha Jean Labartette. Sau cha Longer là cha Hiền một linh mục bản quốc về Cổ Bưu thay thế nhiệm vụ của cha Longer điều hành Chủng viện.

Năm 1793 cha Jean Labartette được tấn phong Giám mục, nhưng ngài phải ẩn trốn v́ đang thời bắt đạo của nhà Nguyễn Tây Sơn. Măi đến năm 1804 tức sau khi vua Gia Long lên ngôi ở Phú Xuân, ngài mời xuất hiện chính thức và đặt Ṭa Giám mục tại Giáo xứ Trí Bưu.

Từ đó Trí Bưu đă trở nên một trung tâm hội tụ và xuất phát các công tác mục vụ và truyền giáo. Ṭa Giám mục tại Trí Bưu vẫn tồn tại từ đó cho đến lúc Đức cha Jean Labartette qua đời ngày 06.08.1823 dưới thời vua Minh Mạng, tính ra thời gian hoạt động công khai của Đức cha được 19 năm (1823-1804). Thi hài ngài được quàn tại Trí Bưu 3 tuần, sau đó được an táng trong nhà thờ Trí Bưu. Năm 1971 khi Trí Bưu làm lại nhà thờ, xác Đức cha và một số cha khác đă được đem lên đặt vào một hầm mộ trên cao sau cung thánh nhà thờ. Nhưng hiện nay, hài cốt của các ngài được chôn cất tại đất Thánh của Giáo xứ.

Nhà thờ Giáo xứ Trí Bưu

Không thấy tài liệu nào nói đến việc xây dựng nhà thờ đầu tiên tại Trí Bưu. Trong “Lược sử các Giáo xứ” tập I trang 892 th́ sau cuộc bắt đạo thời vua Tự Đức (thời Phân Sáp) giáo dân làng Trí Bưu đă theo lời kêu gọi của Đức Giám mục Sohier (B́nh) đă cùng nhau xây dựng một ngôi nhà thờ bằng tranh tre, và một nhà xứ vào năm 1864. Khi đă có nơi tạm trú, Đức Giám mục đă sai cha Adolphe Delvaux (cố Văn) làm Hạt trưởng Dinh Cát và tạm trú tại Trí Bưu. Năm 1866 cha Adolphe Delvaux được sai ra xứ Bắc.

Nhà thờ Trí Bưu trước 1972

Tháng 08.1866 Đức cha Sohier (B́nh) khi ra thông cáo chia Giáo hạt Dinh Cát ra 7 Địa sở (Giáo xứ) th́ Trí Bưu là một trong 7 Địa sở của Dinh Cát và do linh mục Gioan Đoạn Trinh Khoan (Kim Long) chánh xứ (Có sách viết Nguyễn Hũu Khoan), và cha Phêrô Đặng Văn Minh (An Vân) phó xứ (không phải cha Phêrô Trần (Trương) Công Quang về thay thế cha Delvaux).

Năm 1887 dưới thời Linh mục Patinier (cố Kính) làm chánh xứ Trí Bưu lần 2 ngài đă cho xây lại nhà thờ Trí Bưu mới khang trang và rộng mát hơn, và đă khánh thành, cung hiến vào năm 1889.

Đầu thế kỷ XX dưới thời cha Cadière (cố Cả) làm chánh xứ (1904-1911) ngài đă cho xây lại nhà thờ khác lớn hơn bằng vật liệu nặng. Năm 1971 v́ nhà thờ đă xuống cấp trầm trọng, nên Giáo dân dưới sự chỉ đạo của L/m Matthêô Lê Văn Thành một người con của Giáo xứ đă phá đi để làm lại mới nhưng chưa hoàn thành th́ chiến tranh mùa hè đỏ lửa 1972 xảy ra.

Sau 04/1975 linh mục Tôma Lê Văn Cầu và một số giáo dân c̣n lưu luyến với Trí Bưu, họ đă trở về lại quê cũ, nơi mà Tiền nhân họ đă từng hy sinh đến nổi đă hiến mạng sống ḿnh để giữ vững niềm tin vào Chúa. Họ đă bằng ḷng sống lại cái thủa ban đầu của cha ông ḿnh nơi mănh đất thân thương Trí Bưu với hai bàn tay trắng. Cha Tôma Cầu đă cùng với giáo dân tạm sửa lại ngôi Thánh đường để tạm thờ phượng.

Văn Cầu và cha phó xứ là Phanxicô X. Nguyễn Văn Huy (1975-1979) sau đó cha Antôn Dương Quỳnh phó xứ (1979 - 1985). Năm 1985 cha Cầu bị quản thúc tại Giáo họ Phan Xá, cha phó xứ là Antôn Dương Quỳnh thay thế tạm quyền chánh xứ, sau đó chính thức làm chánh xứ đến 1997. Nhà thờ đă được khởi công xây dựng lại ngày 22.02.1994 thời cha Dương Quỳnh chánh xứ. Sau vừa đúng một năm nhà thờ đă hoàn tất và được khánh thành vào ngày 14.02.1995.

Sau lễ Phục Sinh năm 2000 nhà thờ Trí Bưu lại được trùng tu lần hai, và năm sau cũng đă hoàn tất. Đức TGM Huế đă đến dâng Thánh Lễ Cung Hiến và làm phép nhà thờ ngày 21.06.2001 và chọn tước hiệu là "Các Thánh Tử Đạo Việt Nam"

* Các cơ sở phục vụ xă hội

Dưới thời linh mục Giuse Lê Hữu Huệ chánh xứ Trí Bưu (1948-1961) ngài đă lập các cơ sở phục vụ xă hội như sau:

- Cô Nhi Viện. Viện cô nhi của Giáo xứ Trí Bưu do bà Anna Nguyễn Thị Hóa và bà Anna Nguyễn Thị Huệ (Tùng) nguyên gốc Nhu Lư đảm trách. Năm 1961 cha Huệ chuyển đổi, cô nhi viện này được chuyển giao cho Giáo phận, từ đó Giáo phận đặt linh mục Philipphê Nguyễn Như Danh chánh xứ Thạch Hăn (1953-1968) đăm trách. Năm 1969 linh mục Phêrô Trần Hữu Tôn chánh xứ thay cha Danh ngài đă xây lại cô nhi viện này thành một nhà lầu rộng răi thoáng mát. Cơ sở vừa mới hoàn thành th́ chiến tranh 1972 xảy đến, cơ sở này đă bị tàn phá hết.

- Nhà Cứu Tế. Cơ sở cứu tế cũng do cha Lê Hữu Huệ thành lập, tọa lạc kế bên Cô nhi viện. Cơ sở đă cấp dưỡng trên 100 người già cả và tàn tật. Năm 1963 cơ sở này đă chuyển giao cho Ty Xă Hội tỉnh Quảng Trị đảm trách.

- Kư Nhi Viện. Cơ sở này do linh mục Giuse Đỗ Bá Ái thành lập trên mănh đất của hội Rô-sa Trí Bưu, và chính thức hoạt động từ năm 1970.

Trí Bưu qua các cuộc bách hại

Tạm bỏ qua các thời kỳ bách hại đạo Công giáo thuộc các đời chúa nhà Nguyễn. Dưới triều vua Tự Đức, theo biên niên sử của Hội Thừa sai Hải Ngoại, nguyên bản bằng Pháp ngữ do Lê Thiện Sĩ sưu tầm với tựa đề: “Những người xác tín và tuyên xưng đức tin từ 1848 đến 1862”, của ông Bernard, xuất bản năm 1918, từ trang 574-581 th́ Giáo xứ Trí Bưu có 2 vị tuyên xưng đức tin trong thời gian trên. Nguyên bản và tạm dịch như sau:

Chrétienté de Cổ Vưu (Giáo xứ Cổ Vưu)

Le lettré Luong fut d’abord détenu, pour cause de religion, sep mois à la prefecture du Quảng Tri, à la cangue et aux entraves. Sa sentence rendue, il recut la chaine et dut partir pour l’exil dans la province de Bắc Ninh. Durant les vingt premiers mois de sa detention il ne quitta jamais son cachot; pendant la nuit, il avait les pieds aux ceps. Quelque chose de plus pénible l’attendait ensuite. Pendant 28 jours, couché sur le dos entre deux pieux qui lui serraient les côtés et servaient à fixer un bamboo passant sur la poitrine én forme de traverse, les pieds aux entraves et les mains liées fortement, on ne lui donna à manger qu’une pincée de riz chaque jour. Plus tard, on lui délia les mains, mais on lui lás sa traverse et sa chaine; il put avoir du riz en suffisante quantité, mais pas autre chose à manger. Quand parut l’édit d’amnistie. Il était malade; son corps était tout enflé. Malfré cela, il se mit en route pour regagner sa patrie. Arrivé à Nghệ An, il mourut (an 15 de Tự Đức). Peu de jours auparavant, il s’était confessé et avait recu e l’extrême-onction à Hà Nội. On put lui procuter un cercueil, et on l’enterra au lieu de sa mort. (tạm dịch):

Một học sĩ tên Lương. V́ lư do tôn giáo, thọat tiên đă bị bắt, giam giữ , cùm và xiềng bảy tháng ở huyện Quảng Trị. Khi nhận được bản án vừa tuyên, người ta xiềng chân tay và điệu đi lưu đày tại tỉnh Bắc Ninh. Ông ta ở trong xà lim, không hề ra khỏi đó trong suốt hai mươi tháng đầu tiên. Đêm đêm, chân ông lại bị xích chặt. Những nhọc nhằn, tủi khổ cứ chờ đợi ông ta phía trước. Suốt 28 ngày đêm trong tư thế nằm ngữa, hai tay bị buộc chặt vào nhau, hai chân tra vào cùm; một thếp tre đặt lên lồng ngực, hai bên có hai cột chằng giữ, và chỉ được ăn một muổng cơm nhỏ mỗi ngày. Về sau, người ta cởi trói tay ông ra, nhưng vẫn bị mang xiềng khi di chuyển, và ông ta đă có thể có đủ cơm để ăn, nhưng không có thức ǵ để ăn với cơm. Khi có lịnh ân xá, ông ngă bịnh. Ṭan thân phồng lên v́ phù thủng. Mặc dầu vậy, ông vẫn lên đường về quê. Khi đến được Nghệ An th́ ông chết (năm thứ 15 đời vua Tự Đức). Một vài ngày trước đó, ông đă được xưng tội và xức dầu ở Hà Nội. Người ta đă cấp cho ông ta một quan tài và chôn cất ông ta ngay tại nơi ông mất.

Le soldat Guong, fils du bourgeois Ninh et de sa femme Sang, refusa d’abandonner sa religion. Après dix mois de deten-tion à la prefecture de la capital, avec la cangue sur les épaules, il fut condamné à l’exil pour quatre ans, dans la province de Hưng Yên. Il partit après avois recu une lourde chaine, et arriva épuisé de fatigue. Là, sommé de nouveau d’apostasier, il refusa et fut décapité. (tạm dịch):

Một người lính tên Gương. Là con trai của vợ chồng phú hộ Ninh và Sang, cũng đă từ chối không chịu bỏ đạo. Sau mười tháng bị giam cầm tại nhà lao Huyện Phủ, cổ mang gông, ông đă bị kết án lưu đày bốn năm ở Hưng Yên. Tại đây, một lần nữa được khuyến dụ bỏ đạo, nhưng ông ta một mực từ chối, và v́ thế đă bị chặt đầu.

Đến thời vua Cảnh Thịnh v́ thất bại trong vụ bố ráp làng Trí Bưu để bắt Đức cha Jean Labartette. Ngày 17.8.1798 Vua Cảnh Thịnh ra chỉ dụ cấm đạo, do chỉ dụ cấm đạo này nên một số giáo dân thuộc hai làng Trí Bưu và Thạch Hăn đă chạy vào ẩn trốn tại khu vực phường Lá Vằng. Ban đêm họ tụ họp nhau cầu nguyện dưới một gốc cây Đa cổ thụ, v́ thương cảnh đoàn con đang ẩn trốn, Đức Mẹ đă hiện ra với đoàn người đang cầu nguyện này như đă nói trong phần “Trí Bưu h́nh thành phường La Vang” ở trên, và mục “Sự kiện Đức Mẹ hiện ra tại La Vang” phần nói về Giáo hạt Dinh Cát.

Trí Bưu với vụ thiêu sát của Văn Thân

Một cuộc thảm sát kinh hoàng nhắm vào người Công giáo đă xảy ra dưới thời Văn Thân. Theo “Một trang huyết lệ …” của Jabouille, trích phần Giáo xứ Trí Bưu trang 12-17 như sau:

Trí Bưu thời gian này do linh mục Matthey (cố Thiện) làm chánh xứ, và cha Giuse Bùi Thông Bửu phó xứ. Chiều Chúa nhật 06.09.1885 một tiếng nổ lớn do trong thành Quảng Trị bắn ra, đó là dấu hiệu báo sự thắng trận của phái Văn Thân, và tuyên bố việc thiết quân luật cho tỉnh Quảng Trị. Tiếng súng cũng là đấu hiệu báo tin cuộc tàn sát của Văn Thân sẽ khai diễn. Cha Thiện đă tụ họp được khoảng 800 giáo dân Trí Bưu trong nhà thờ, sau khi giảng dạy và ban phép Giải tội ḷng lành cho họ xong, ngài quyết định đem số giáo dân đi đào nạn, ngài khuyên họ phân ra từng toán, theo đường tắt và hiểm trở mà đi, ngài chọn xóm La Vang làm nơi gặp nhau. Nhung một số giáo dân v́ sợ hiểm nghèo sắp đến nên họ không đi. Chiều ngày 06. 09.1885 ngài cải trang ra đi. Cha Bửu hướng dẫn những giáo dân c̣n lại đi theo ngài. Cha Thiện đă đem được khoảng 200 giáo dân Trí Bưu chạy trốn vào La Vang. Sau một đêm trốn ngoài rừng, ngài được người đem đường vào tới Ba Trúc, và từ đó ngài về Kim Long. Số giáo dân vào La Vang họ không muốn đi với ngài vào Huế, mà vẫn ẩn núp tại rừng La Vang. Linh mục Bùi Thông Bửu cũng theo giáo dân vào La Vang nhưng không gặp cha Thiện, sau đó ngài trở về lại Trí Bưu.

Qua ngày 07.09.1885 Văn Thân do Đội Cự điều khiển, bao vây làng Trí Bưu, gom và đuổi dần giáo dân về nhà thờ. Họ chất rơm xung quanh nhà thờ rồi phóng lửa đốt. Số người bên trong đều bị chết ngộp, ai chạy thoát ra ngoài đều bị chém. Giáo xứ Trí Bưu bị Văn Thân giết chết khoảng 600 giáo dân và một Linh mục là cha Giuse Bùi Thông Bửu. Số giáo dân ở rừng La Vang sau 12.09.1885 được tin tỉnh thành Quảng Trị đă được giải vây, họ chia nhau từng toán t́m về lại làng, chẳng may một toán khoảng 30 người đă bị Văn Thân chận bắt.

Khi đă bị bắt, ông Thoàn một người trong nhóm bị bắt xin được chết trên nền nhà thờ Đức Mẹ La Vang đă bị đốt. Yêu cầu này đă được đảng Văn Thân cho toại nguyện.

Cùng thời gian này, các Giáo họ trực thuộc giáo sở Trí Bưu như: Hạnh Hoa, Trí Lễ (nay là Quy Thiện) Ngô Xá, Thạch Hăn và chợ Săi, tất cả có khoảng 400 giáo dân, đều chịu chung số phận như Trí Bưu, chỉ c̣n 80 người trong các Giáo họ này sống sót. Đặc biệt là giáo dân của Giáo họ Chợ Săi một họ lẽ của Trí Bưu đă bị tàn sát không sót một người nào.

Giáo họ Quy Thiện th́ bị chính người của đảng Văn Thân trong làng (tức những nhà Nho trong làng) lừa gạt nên đă bị giết chết.

Các linh mục chánh, phó xứ Trí Bưu

- Lm Gioan Đoạn Trinh Khoan (1) 1867 - . . . .
- Lm Phêrô Đặng Văn Minh phó xứ
- Lm . . . . . . . . Khoang . . . - . . . .
- Lm . . . . . . . . Doăn (Gia Môn) 1874 - 1879
- Lm . . . . . . . . Patinier (phó xứ)
- Lm . . . . . . . . Patinier (cố Kinh) 1882 - 1884
- Lm Inhaxiô Lê Văn Huấn (Dương Lệ Văn) 1880 - 1882
- Lm . . . . Matthey (cố Thiện) 1883 - 1885
- Lm Giuse Bùi Thông Bửu (phó xứ)

Cuối năm 1885 thu góp và cất xác hơn 241 giáo dân bị thiêu sát v́ đạo tại đám ruộng trước mặt làng. Qua năm 1887 giáo dân về dựng lại làng họ. Đức cha Caspar (Lộc) truyền lập một Tu viện Mến Thánh Giá để quy tụ các chị của Nhu Lư và Bố Liêu c̣n tản mác đó đây. Đồng thời xây một nhà Dục anh trong vườn nhà cha xứ.

- Lm . . . . Patinier (cố Kính) (lần 2) 1887 - 1895
- Lm Gioan B. Nguyễn Văn Học (phó xứ)
- Lm Grêgôriô Đỗ Khắc Quyến (phó xứ) sách “Tiểu sử các linh mục” ghi phó xứ cha Bonnand (cố Bổn).
Cố Kinh và hai cha phó xây nhà thờ mới, khánh thành năm 1889 và xây lăng Tử đạo Trí Bưu.
Lm Phêrô Đỗ Khắc Nhơn II theo “Tiểu sử các Linh mục” tập I trang 126 ghi ngài từ Bái Trời về Trí Bưu từ 1867 đến 1874 th́ qua đời, an táng tại Trí Bưu.
- Lm . . . . Bonin (cố Ninh) 1895 - . . . .
- Lm . . . . Cadière (cố Cả) 6/1904 - 10/1911
- Lm . . . . Cảnh (phó cố Cả) xây nhà thờ lớn hơn, lợp ngói
xây trường học cho con em do các nữ tu điều hành.
- Lm Francois Arsène Lemasle (cố Lễ) 1911 - 1922
- Lm . . . . Reyne (cố Phú) (phó xứ) 1912 - 1915
- Lm . . . . Nguyễn Linh Giáo (phó xứ) 1912 - 1918
- Lm Phaolô Ng. V. Chuyên (phó xứ) 1918 – 1921
- Lm Phêrô Nguyễn Văn Oai (phó xứ) 1921 - 1922
- Lm . . . . Morineau (cố Trung) 1922 - 1934
- Lm Phao lô Bùi Quang Tuần (phó xứ) 1923 - 1925
- Lm Phanxicô Ng. Cao Đẳng (phó xứ) 1925 - 1927
- Lm Giacôbê Ng. Linh Kinh (phó xứ) 1927 - 1928
- Lm Đôminicô Lê Hữu Luyến (phó xứ) 1929 - 1933
- Lm Tadéo Hồ Bảo Huỳnh (phó xứ) 1929 - 1934
- Lm Tôma Nguyễn Văn Luật (phó xứ) 1933 – 1936
- Lm . . . . Chapuis (cố Châu) 1934 - 1936
- Lm . . . . Cressonier (cố Báu) (phó xứ)
- Lm . . . . Reyne (cố Phú) 1936 - 1941
- Lm Gioakim Vơ Văn Quang (phó xứ) 1936 - 1938
- Lm Giuse Trần Văn Tường (phó xứ) 1938 - 1941
- Lm . . . . Eb (cố Hương) 1941 - 1945
- Lm Phaolô Trương Công Giáo (p xứ) 1941 - 1945
- Lm Phaolô Trương Công Giáo quyền cha sở 1945 - 1948
- Lm Giuse Lê Hữu Huệ (nhiều cha phó) 1948 - 1961
- Lm Đôminicô Nguyễn Văn Nghĩa 1953 - 1955
- Lm Giuse Nguyễn Văn Trinh 1955 - 1956
- Lm . . . . Nguyễn Văn Nghi (không nói phó)
- Lm Phaolô Nguyễn Khắc Hiền 1956 - 1957
- Lm Giuse Nguyễn Ngọc Ban 1958 - 1961
- Lm Anré Bùi Quang Tịch 1961 - 1968
- Lm Phêrô Lê Văn Ngọc 1968 - 1971 : Cha Ngọc làm nhà thờ chưa hoàn thành.
- Lm Gioan B. Nguyễn Cao Lộc 1971 - 1972 : Cha Lộc tiếp tục làm nhà thờ, di tản năm 1972
- Lm Tôma Lê Văn Cầu 1975 – 1985

- Lm Phanxicô X. Ng. V. Huy (phó xứ) 1975 - 1979
- Lm Antôn Dương Quỳnh (phó xứ) 1979 - 1985
- Lm Quỳnh tạm quyền chánh xứ rồi chính thức đến 1997
- Lm Antôn Nguyễn Ngọc Hà 1997 - 1999 : Cha Hà làm nhà cha xứ mới, và trùng tu lăng Tử Đạo.
- Lm Gioan B. Lê Quang Quư 1/1999 - . . . .
- Lm Phêrô Phạm Linh Nghi (phó xứ)

Trí Bưu hiện c̣n kiêm 2 Giáo họ là An Lưu và Quy Thiện.

Các Linh mục nguyên quán Trí Bưu
-Lm . . . . Lê Thật . . . . - 1818 - . . . .
-Lm . . . . Lê Thiện Cần 1837 - 1875 - 1885
-Lm Phanxicô Salêdiô Lê Cung 1867 - 1897 - 1903
-Lm Phanxicô X. Lê Văn Định 1884 - 1913 - 1964
-Lm Philiphê Lê Thiện Bá 1891 - 1918 - 1981
-Lm Giuse Lê Văn Hộ 1907 - 1936 - 1969
-Lm Gioan B. Lê Xuân Mầng 1911 - 1941 - 2005
-Lm Matthêô Lê Văn Thành 1919 - 1945 - 1999
-Lm Giacôbê Bùi Chung 1924 - 1961 - . . . .
-Lm Gioakim Lê Thanh Hoàng 1934 - 1968 - . . . .
-Lm Phêrô Lê Viết Hoàng 1933 - 1961 - . . . .
-Lm Gioan B. Lê Văn Hiệp 1939 - 1968 - 2001
-Lm Đôminicô Lê Đức . . . . - 1968 - . . . .
-Lm Tôma Lê Văn Cầu 1922 - 1955 - 1999

-Giám mục P.X Lê Văn Hồng 1940 - 1969 - 2005 - . . . .

-Lm Giuse Lê Viết Phục DCCT 1928 - 1955 - . . . .
-Lm Anrê Lê Văn Hải 1956 - 1995 - . . . .
-Lm Lê Thanh B́nh 1964 - 1998 - . . . .
-Lm Gioan B. Lê Quốc Tuấn (D Tên) 1957 - 1999 - . . . . Cha Q. Tuấn và cha Hùng đang phục vụ tại Hoa Kỳ.

-Lm Phê-rô Lê Viết Hùng 1955 - 2001 - . . . .
-Lm Gioan B. Lê Văn Tuấn 1957 - 1990 - . . . . Cha Văn Tuấn đang phục vụ tại Pháp.
-Lm Mathêu Lê Lực 1965 - 2007 - . . . . Cha Lực thuộc Giáo Phận Xuân Lộc.
-Lm Luca Lê Viết Phương DCCT 1975 - 2007 - . . . .
- Lm Đôminicô Lê Đức Vi . . . . - 1968 - . . . . : Cha Vi đă nhập Giáo Phận Xuân Lộc.

Các nữ tu nguyên quán Trí Bưu

- Nữ tu Maria Nguyễn Thị Tường MTG Dương Sơn
- Nữ tu Maria Madalena Lê Thị Tú Hà MTG Huế.
- Nữ tu Maria Lê Thị Triết Thánh Phaolô
- Nữ tu Maria Lê Thị Tri Đức Mẹ Đi Viếng
- Nữ tu Têrêxa Lê Thị Niềm Thánh Phaolô
- Nữ tu Maria Lê Thị Kim Quyên MTG Bà Rịa

- - Maria Lê Đ́nh Ly Lan -
- - Nguyễn Thị Thùy Trâm -
- - An-na Nguyễn Thị Châu Trinh -
- - Cécilia Lê Thị B́nh (A) Ḍng Kim Đôi
- - Lê Thị B́nh (B) - - - Lê Thị Tường MTG Bà Rịa
- - Lê Thị Hồng Đơn -
- - Lê Thị Triết Ḍng Thánh Phaolô
- - Lê Thị Cần Ḍng Kín
- - Lê Thị Thanh Ḍng Kim Đôi
- - Lê Thị Phương -
- - Lê Thị Tích -
- - Lê Thị Đơn Ḍng Mến Th.Giá
- - Lê Thị Trợ -
- - Lê Thị Quyên -
- - Lê Thị Được Huế
- - Lê Thị Trợ - -
- - Lê Thị Hy - -
- - Lê Thị Trang Ḍng Đa Minh

(Nữ tu của Trí Bưu c̣n nhiều, nhưng chưa có tài liệu)

Trí Bưu hôm nay

Từ sau 4/1975, Trí Bưu cũng như các Giáo xứ và Giáo họ khác, chỉ có một số ít giáo dân nguyên quán trở về lại với quê cha đất tổ, trong số có linh mục Tôma Lê Văn Cầu.

Ngày trở về, một cha (linh mục) cùng với một số ít giáo dân không khỏi ngậm ngùi trước cảnh hoang tàn đổ nát v́ chiến tranh. Thế rồi, trong suốt gần 10 năm dù gặp bao gian nan khổ ải. Cha con, anh em cũng đă gắng sức với đôi bàn tay, để cùng mưu cầu sự sống và để giữ lấy niềm tin đă có từ lâu đời do cha ông để lại. Việc quan trọng hơn là phải cố công tu tạo lại những Thánh tích đă bị đổ nát với những phương thế nào có thể được, hầu tu tạo lại cho một Trí Bưu mới sau biến cố của thời cuộc.

Mười năm qua đi, cha Cầu bị lệnh quản thúc phải rời quê quán về nơi chỉ định là Giáo họ Phan Xá, một địa danh nơi đó đă sinh ra và ấp ủ Thánh Tử Đạo Phanxicô Trần Văn Trung. Phải chăng đây là ư Chúa quan pḥng, nên từ ngày có mặt cha Tôma, Phan Xá đă thay đổi bộ mặt và cho đến hôm nay cũng đă trở thành một Giáo xứ.

Tiếp nối việc mục vụ và tái tạo lại Trí Bưu cha Antôn Dương Quỳnh đă cho tu tạo lại nhà thờ bắt đầu từ ngày 22.02. 1994, Sau gần một năm công tác sửa chửa nhà thờ cũng đă hoàn tất và được khánh thành ngày 14.02.1995.

Tiếp theo là việc chỉnh trang lại khu Nghĩa địa, vẽ sơ đồ ghi chép các bia mộ và đặt thành quy chế về đất Thánh theo quy củ lâu dài về sau cho việc chôn cất.

Năm 1997 linh mục Antôn Nguyễn Ngọc Hà đến thay cha Dương Quỳnh, ngài đă thực hiện hai công tác, đó là xây dựng lại nhà xứ Trí Bưu khang trang thoáng mát. Việc kế tiếp là đă cho trùng tu lại ngôi lăng Các Thánh Tử Đạo của Giáo xứ.

Đầu năm 1999 Linh mục Gioan B. Lê Quang Quư đến thay thế cha Hà trong trách nhiệm phục vụ dân Chúa cho Giáo xứ bao gồm Trí Bưu, An Đôn, Thạch Hăn, Ngô Xá, Quy Thiện, An Lưu, Gia Đẳng và Ba Ḷng. … Ngoài việc lo trùng tu lại ngôi Thánh đường Trí Bưu, ngài c̣n lo cho các Giáo họ trực thuộc, nơi đâu cũng cần đến việc tái tu tạo lại những ǵ đă đổ nát. Các nhà thờ Thạch Hăn, Ngô Xá và Quy Thiện, cũng được xây dựng hoàn chỉnh, đồng thời củng cố lại sinh hoạt giáo xứ. Được biết Giáo xứ Thạch Hăn đă được Ṭa Giám mục Huế chuẩn thuận cho tái lập lại Giáo xứ từ năm 2009, và Linh mục quản xứ là cha Phaxicô Xavie Trần Phương. Giáo xứ Ngô Xá cũng được lập lại Giáo xứ năm 2001 do linh mục Đôminicô Lê Đ́nh Du quản xứ

Hiện nay, giáo xứ Trí Bưu có trên 800 giáo dân. Trong đó có các hội đoàn như: hội Vinh Sơn, hội Hiền Mẫu, hội Gia đ́nh Cùng Theo Chúa, hội Thiếu nhi Thánh Thể trong lứa tuổi từ cấp 1 đến cấp 3, gồm 270 em do các anh chị huynh trưởng trực tiếp điều hành sinh hoạt và dạy giáo lư, với sự giúp đỡ của các Nữ tu thuộc Ḍng Mến Thánh Giá Trí Bưu. Hội Hiền Mẫu gồm 40 chị em đă có gia đ́nh. Sinh hoạt hằng tuần, cầu nguyện và giúp nhau sống đạo. Ngoài ra, hội c̣n lănh nhận công tác làm vệ sinh, quét dọn nhà thờ.

Hội Đạo Binh Đức Mẹ, gồm 2 tiểu đội. Tiểu đội nam mang Thánh hiệu Đức Mẹ Mân Côi, có 15 thành viên và 40 hội viên tán trợ. Tiểu đội nữ mang Thánh hiệu Đức Mẹ Mông Triệu, gồm 15 thành viên và 36 hội viên tán trợ. Hội Gia đ́nh cùng theo Chúa gồm 30 thành viên. Sinh hoạt hàng tuần với mục đích giúp nhau và giúp đở những gia đ́nh khác sống đời đạo đức thánh thiện, làm gương sáng cho những gia đ́nh chung quanh. Hội Vinh Sơn, có 27 thành viên, sinh hoạt hàng tuần, chia sẻ lời Chúa, thăm viếng những người ốm đau hoạn nạn, những gia đ́nh gặp thiên tai, đi thu góp gạo tại những gia đ́nh hảo tâm đă đăng kư, gọi là “Hũ gạo t́nh thương”. Mỗi tháng, họ cấp phát gạo cho những gia đ́nh khó khăn hoặc neo đơn 1 lần. Số gạo được cấp luôn đủ ăn trong tháng.

Ngoài những sinh hoạt trong giáo xứ, các Hội đoàn luôn được sự điều động, để tăng cường giữ trật tự trong các dịp lễ trọng, và Đại Hội tại Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc La Vang nữa.

Đặc biệt Giáo xứ Trí Bưu nhờ ơn Chúa thương ban cho Giáo xứ có nhiều ơn gọi Linh mục và Tu sĩ các ḍng. Đặc biệt có Đức Tổng Giám Mục PX. Lê Văn Hồng, nguyên là GM Phụ Tá của Tổng Giáo Phận Huế, đồng thời cũng là vị Giám mục thứ 4/5 của Tổng Giáo Hạt Dinh Cát. Tháng 8/2012 ngài đă được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm TGM Huế từ 18.08.2012.

* * * * *

Qua những chặng đường gian nan đầy sóng gió mà Trí Bưu đă gánh chịu. Giờ đây con cháu họ có quyền tự hào, như lời của Linh mục Tôma Lê Văn Cầu, một người con của Trí Bưu đă kêu gọi: “Trí Bưu đă nhiều lần tưởng như đă chết đi trong quá khứ như biến cố Văn Thân, như mùa hè đỏ lửa 1972 … … Nhưng Chúa quan pḥng đă giữ ǵn che chở để Trí Bưu vẫn tồn tại và đang phục hồi sinh khí trên đất Mẹ thân yêu. Một trong những động lực chính yếu và dồi dào phong phú là nhờ vào bửu huyết của tiền nhân tử v́ đạo đang lưu chuyển trong thân thể của các thế hệ cháu con … …”.

Nguyện xin các ngài luôn luôn hành động nơi những con cháu của Trí Bưu để họ luôn luôn được thể hiện một niềm tin trung kiên với Giáo Hội, xứng đáng là cháu con các Đấng tiền nhân Tử Đạo.

.........................

* GXGHVN nhận trực tiếp từ tác giả ngày 24/2/2015
Mọi ư kiến đóng góp xin gởi email về huele63@yahoo.com

= = = = = = =

Tiểu sử

Đức Tổng Giám mục

Phanxicô Xavie LÊ VĂN HỒNG

SICUT QUI MINISTRAT

(Thầy sống giữa anh em như người phục vụ)

= = = = =

Sinh tại Trí Bưu ngày: 30.06.1940

Thân phụ mẫu: Phanxicô X. Lê Bá và Maria Lê Thị Măi.

Nghĩa phụ: Linh mục Bartôlômêô Nguyễn Phùng Tuệ.

Vào Tiểu chủng viện Phú Xuân, Huế 1953-1960

Giáo Hoàng học viện Piô X Đà Lạt 1961-1969

Thụ phong linh mục tại nhà thờ Trí Bưu 21.12.1969

Giáo sư Tiểu Chủng viện Hoan Thiện 1970-1973

Phụ trách văn pḥng mục vụ Giáo phận, đặc trách Chủng sinh ngoại trú 1973-1974

T/úy Quân Y viện Ng Tri Phương. Tốt nghiệp Cử nhân Văn Khoa Pháp tại Viện Đại học Huế 1974

Quản xứ Giáo xứ Truồi, kiêm mục vụ vùng kinh tế mới Nam Đông 1975-1999

Du học tại Viện Đại học Công giáo Paris 1999-2002

Quản xứ Phú Hậu và Triều Nam Sơn. Phụ trách Ủy Ban Linh mục và Chủng sinh. Thẩm phán Ṭa án hôn phối Giáo Phận Huế 30.12.2002

Ṭa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục phụ tá Giáo Phận Huế hiệu ṭa Gadiaufala. 19.02.2005

Tấn phong GM tại Phủ Cam ngày 07.04.2005

Được Đức Thánh Cha Bênêdicto XVII bổ nhiệm làm Tổng Giám mục TGP Huế thay thế ĐTGM Stêphanô Nguyễn Như Thể nghĩ hưu 18.08.2012

Chính thức nhận quyền TGM Huế 20.08.2012

= = = = = = =