Giáo Phận Hưng Hóa

 

Ṭa Giám Mục Giáo Phận Hưng Hóa


Địa chỉ :  Hưng Hóa, Thị Xă Sơn Tây, Hà Nội ( Bản đồ )

Tel         : (04)-3364-1393

(04)-3383-2453

E-mail    :  tgmsontay@gmail.com

 

Web site : http://giaophanhunghoa.org/vi/

 
Năm thành lập   : 24/11/1960 Diện tích    : 54,352 Km2
Số Giáo dân      : 230 000 (năm 2012)  
Số Giáo xứ       : 92 Số Giáo họ : 533
Số Linh Mục     : 67 Số Tu sĩ      : 259

Tư liệu :  Lược sử - H́nh ảnh
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Hưng Hóa
                Danh sách Linh mục Giáo phận Hưng Hóa
                Lược Sử Giáo Phận Hưng Hóa  - Vietnamese Missionaries in Asia
                GIÁO PHẬN HƯNG HÓA - Lê Ngọc Bích - Dũng Lạc
                Catholic Hierarchy Directory - WikiPedia

-  Tin tức sinh hoạt

* Nghị Quyết về Phương Hướng Hoạt Động của Các ủy Ban Mục Vụ Năm 2014
* Thánh lễ Truyền chức Đức cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long Giám mục Phụ Tá Giáo phận Hưng Hóa (6/9/2013)
* Đức Cha Gioan Maria Vũ Tất, tân GM Hưng Hóa (1/3/2011)

 

Lược sử Giáo Phận Hưng Hóa

Nguồn : Sapachurch.org

I. ĐÔI NÉT VỀ GIÁO PHẬN HƯNG HOÁ

Giáo phận Hưng Hoá được thành lập năm 1895 dưới thời Đức Giáo Hoàng LÊ-Ô XIII, với tên gọi là Giáo phận ĐOÀi, Đức Cha Lộc người Pháp làm Giám Mục tiên khởi (1895-1938), tiếp đến là hai giám mục người Pháp: Đức Cha Vạn (1938-1943) và Đức Cha Kim (1946-1960). Ngày 24 tháng 11 năm 1960, Toà Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đồng thời nâng Giáo phận Tông Toà Hưng Hoá lên hàng Giáo phận Chính Toà và đặt Đức Cha Giuse Phan Thế Hinh (1960-1985). Kế vị ngài là Đức Cha Phêrô Nguyễn Huy Quang làm Giám mục Chính toà đầu tiên (1985-1989); sau đó là Đức Cha Giuse Nguyễn Phụng Hiểu (1991-1992). Năm 1924, Giáo phận Đoài được đổi tên thành Giáo phận Hưng Hoá. Như thế, tính đến năm 1992 Giáo phận Hưng Hoá có sáu giám mục: ba vị người Pháp và ba vị người Việt. Vị giám mục thứ bảy là Đức Cha Antôn Vũ Huy Chương, được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kư Tông sắc bổ nhiệm ngày 05/08/2003, sau hơn 11 năm trống ngôi.

Nằm ở Phía Tây Bắc Việt Nam, Giáo phận Hưng Hoá trải rộng trên địa bàn 10 tỉnh, với diện tích khoảng 54.500 km2 và trên 200.000 giáo dân.

- Tỉnh Hà Tây: nơi có Toà giám mục và Nhà thờ Chính toà, có khoảng 20.000 giáo dân.
- Tỉnh Phú Thọ: nơi tập trung nhiều giáo dân nhất, trên 100.000.
- Tỉnh Yên Bái: khoảng 45.000 giáo dân
- Tỉnh Lào Cai: giáp với Trung Quốc, khoảng 10.000 giáo dân.
- Tỉnh Tuyên Quang: có khoảng 14.000 giáo dân
- Tỉnh Hà Giang: trên 1000 giáo dân.
- Tỉnh Hoà B́nh: 5000 giáo dân, mới được phục hồi năm 2002, sau 56 năm không có một hoạt động tôn giáo nào.
- Ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên: có khoảng 5000 giáo dân, nhưng chưa có điều kiện sinh hoạt tôn giáo b́nh thường.

Nh́n chung, các tỉnh Tây Bắc Việt Nam có địa h́nh đồi núi hiểm trở, nền kinh tế khó phát triển. Tuy nhiên, trong trong các tỉnh này có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như: Đền Hùng, Thuỷ Điện Hoà B́nh, Núi Ba V́, Chùa Tây Phương, Sapa...

Hiện nay, với trên 200.000 giáo dân trong tổng số dân gần 8.000.000 người, Giáo phận Hưng Hoá chiếm tỷ lệ 3,5% dân số, với 30 linh mục, trong đó có 2 linh mục đang tu nghiệp tại Pháp; 35 chủng sinh, 127 tu sĩ ḍng Mến Thánh Giá, khoảng 100 tu sinh nam và trên 100 tu sinh nữ; có 70 giáo xứ và hơn 400 họ đạo, sinh hoạt trong 7 giáo hạt… Dân chúng đa số làm nông-lâm nghiệp. Số ít c̣n lại làm nghề tiểu –thủ - công nghiệp.

Toà Giám Mục Hưng Hoá trước đây, từ năm 1895-1950 được đặt tại tỉnh Hưng Hoá (nay chỉ là một thị trấn thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ), nhưng từ ngày 02/05/1950, v́ lư do chiến tranh tàn phá, Toà Giám Mục phải di dời về tỉnh Sơn Tây (nay thuộc thị xă Sơn Tây, tỉnh Hà Tây). Trong dịp kỷ niệm 110 năm thành lập Giáo phận Hưng Hoá (1895-2005), một ngôi nhà thờ nhỏ, theo mô h́nh của Nhà thờ Chính Toà Hưng Hoá sẽ được xây dựng trên một phần khu đất cũ của Toà giám mục trước đây, để làm nơi thờ tự cho khoảng 100 giáo dân, và để ghi nhớ nơi đă đặt Toà Giám Mục và Nhà Thờ Chính Toà xưa kia.

II. PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG GIÁO PHẬN

Giáo phận đă định hướng xây dựng giáo phận, giáo xứ, giáo họ trở thành một cộng đoàn đức tin, một cộng đoàn phụng tự, một cộng đoàn bác ái, tất cả nhằm trở nên một cộng đoàn truyền giáo. Việc này được tiến hành đồng thời cho người đang sống đạo, cho người đă nhập đạo nhưng không c̣n sống đạo – nghĩa là tái Phúc Âm Hoá. Tất cả được thực hiện theo phương thức mới - Tân Phúc Âm Hoá.

Đó là định hướng xây dựng của Giáo phận. Dựa vào định hướng này, Giáo phận đă đưa ra những phương thức để xây dưng Giáo phận.

III. PHƯƠNG THỨC XÂY DỰNG GIÁO PHẬN.

Thứ nhất: quan tâm hàng đầu đến việc đào tạo nhân sự:

- Đào tạo linh mục và tu sĩ: trước đây v́ hoàn cảnh lịch sử không thuận lợi, nên hiện nay các linh mục và tu sĩ cảm thấy cần được bồi dưỡng về mọi mặt, để cập nhật cho phù hợp với đà phát triển và đổi mới của Giáo Hội cũng như của xă hội. Những đợt tĩnh tâm và thường huấn được tổ chức hàng năm nhằm đáp ứng yêu cầu này.

- Đào tạo Ban hành giáo: tất cả những người được bầu chọn vào ban hành giáo trong các họ đạo, đều được tham dự những khoá huấn luyện, do Ban Mục Vụ Giáo Phận tổ chức.

- Đào tạo ứng sinh linh mục: các chủng sinh cần được hỗ trợ tài chính khi theo học tại đại chủng viện, và trong kỳ nghỉ hè được gửi đi thực tập mục vụ một tháng tại các họ đạo. Các tu sinh (đă tốt nghiệp hoặc đang theo học đại học hoặc cao đẳng) tham dự các buổi tĩnh tâm hàng tháng, và được học tập để chuẩn bị vào đại chủng viện. Các tu sinh thuộc Hội Ḍng Mến Thánh Giá cũng được chuẩn bị tương tự. Giáo Phận hỗ trợ kinh phí đi lại và một phần chi phí ăn học cho các tu sinh nói trên. Phần lớn trong số họ, đều xuất thân từ các gia đ́nh nghèo.

- Đào tạo giáo lư viên: qua nhiều khoá huấn luyện, hiện nay giáo phận có khoảng 80 giáo lư viên cấp giáo phận, và trên 2000 giáo lư viên cấp giáo xứ. Ban giáo lư giáo phận hàng năm tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng, và nâng cấp các giáo lư viên về Giáo lư hệ thống, như chuẩn bị lănh nhận Bí tích Thánh Tảy, Thánh Thể, Hoà Giải, Thêm Sức, Hôn Phối, và về Giáo lư Tin Mừng, chẳng hạn giúp các nhóm tĩnh tâm cầu nguyện lâu giờ trong nhiều ngày, hỗ trợ tích cực cho các chương tŕnh giáo lư hệ thống.

- Đào tạo thừa tác viên: do thiếu linh mục, nên một số giáo dân trong các họ đạo tổng cộng khoảng 600 người, được chọn làm thừa tác viên ngoại lệ có thời hạn và được đào tạo để cử hành phụng vụ Lời Chúa và trao Ḿnh Thánh Chúa. Mỗi năm có khoảng 10 khoá, do Ban Phụng tự Giáo Phận tổ chức.

- Đào tạo ca trưởng, người đệm đàn: hàng năm, vào kỳ hè, Ban Thánh nhạc Giáo Phận tổ chức các khoá đào tạo và nâng cấp cho những em được các giáo xứ, giáo họ đề cử. Họ sẽ là những người đệm đàn phụng vụ và dạy hát, điều khiển ca đoàn trong các thánh lễ và sinh hoạt phụng vụ.

Thứ hai: đẩy mạnh công việc phát triển xă hội và bác ái từ thiện qua các việc làm cụ thể như:

- Công tác khuyến học: Đây là việc cấp thiết và khả thi nhất, chẳng hạn như cấp học bổng cho các học sinh nghèo, tặng thưởng cho những học sinh xuất sắc, hỗ trợ kinh phí cho những học sinh nghèo nhưng hiếu học.

- Xúc tiến xây dựng các lớp học mầm non; phổ cập kiến thức cho những người khuyết tật, khiếm thính, khiếm thị; mở các lớp t́nh thương, có hỗ trợ giấy bút và học phí cho các trẻ em nghèo.

- Trợ giúp người cùi: thăm viếng và tặng quà cho các người cùi trong địa bàn Giáo phận.

- Trợ giúp đồng bào các dân tộc: có hơn 20 sắc tộc sống trong địa bàn Giáo Phận Hưng Hoá, trong đó có khoảng 10.000 giáo dân người dân tộc H’mông, và một số giáo dân người Thái, Mường, Dao, Tày. C̣n rất nhiều anh em dân tộc chưa được loan báo Tin Mừng, đặc biệt tại một số tỉnh rộng lớn phía Tây-Bắc.

- Xin các dự án phát triển: ví dụ dự án cấp thoát nước, làm đường bê-tông, làm cầu, xây dựng trường học và bệnh xá…

Thứ ba: Từng bước xây dựng cơ sở vật chất trong Giáo phận như:

- Nhà Thờ: hiện nay tại Việt Nam, nhà thờ là nơi cho người giáo dân được phép tập họp để cử hành phụng vụ và làm các việc đạo đức. Tại giáo phận Hưng Hoá, trong thập niên qua, tuy có nhiều nhà thờ đă được xây dựng, nhưng hiện nay vẫn c̣n khoảng 100 nhà thờ, nhà nguyện xuống cấp trầm trọng cần sửa chữa, gần 200 nơi chưa có điều kiện để xây dựng. Do đó, việc tu sửa và xây dựng nhà thờ, nhà nguyện là một nhu cầu rất bức thiết đối với bà con giáo dân, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa.

- Tu viện: Giáo Phận Hưng Hoá chỉ có một Hội ḍng duy nhất là Ḍng Mến Thánh Giá; các tu sĩ hiện nay sống trong những căn nhà chật chội đă xây dựng từ gân 100 năm qua, sát bên cạnh Toà Giám Mục; Hội Ḍng đang mong muốn có điều kiện xây mới cơ sở của Nhà Ḍng tại khu đất rộng hơn 1 héc-ta của Tiểu Chủng Viện Sơn Lộc trước đây, ngay sát bên Nhà thờ Chính Toà.

- Trung Tâm Mục Vụ: trong Giáo phận, có một cơ sở đă được chính quyền trao trả vài năm nay, nếu có điều kiện, cơ sở này sẽ được tu sửa để trở thành trung tâm mục vụ, nơi mở các khoá đào tạo cho mọi thành phần Dân Chúa.

- Toà Giám Mục: Toà Giám Mục hiện nay c̣n tồn tại những căn nhà được xây dựng từ năm 1950. năm 1990, một ngôi nhà mới đă được xây dựng, nhưng hiện thời không đủ đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt. Khi có điều kiện, Toà giám mục sẽ được tu sửa hoặc xây dựng bổ sung, nhằm phần nào đáp ứng nhu cầu mục vụ của Giáo phận.

Trông cậy vào sự quan pḥng của Thiên Chúa và sự giúp đỡ của các ân nhân xa gần, hy vọng rằng việc xây dựng Giáo phận nói trên sẽ được thực hiện từng bước, nhằm vinh danh Thiên Chúa và mưu ích cho nhiều người.

 

..........................................

 

Lược Sử

Giáo Phận Hưng Hóa

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

A. Lược Sử Giáo Phận Hưng Hóa

Năm 1673, Xứ Đoài đă là một trong 7 xứ đầu tiên ở Đàng Ngoài, Công đồng Bắc Hà họp lần đầu tiên tại Đàng Ngoài đề cử cha Giacôbê Chiêu coi sóc. Với khởi điểm này, việc truyền giáo cho người dân Hưng Hóa được thực hiện từ cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) (1627-1630), hay Gaspar d'Amaral (1631-1638) rồi các cha ḍng Tên đến sau. Từ năm 1670, thêm các cha thuộc Hội Thừa Sai Paris cùng với các linh mục, tu sĩ và giáo dân Hưng Hóa, nổi bật 7 vị thánh (nguyên quán và phục vụ) cùng nhiều vị chứng nhân đă đóng góp hết ḿnh vào trang sử hào hùng của giáo phận Đoài, sau này là giáo phận Hưng Hóa.

Từ năm 1659, Ṭa Thánh thành lập hai giáo phận ở Việt Nam, vùng Hưng Hóa (Xứ Đoài) thuộc giáo phận Đàng Ngoài, do Đức cha Francois Pallu coi sóc. Trong tập Lịch sử Nước Annam do Bentô Thiện gửi cho cha Marini năm 1659 viết: "Santei xứ (Sơn Tây xứ) đựac mườiy (được mười) nhà thánh".

Năm 1679, Ṭa Thánh phân chia giáo phận Đàng Ngoài thành Đông và Tây, Xứ Đoài (Hưng Hóa) đă có nhiều giáo xứ và giáo hữu như: năm 1673, Xứ Đoài được cha Giacôbê Chiêu coi sóc; năm 1707, riêng cha Giuông Hậu coi sóc 2,000 giáo hữu. Các cha ḍng Tên phục vụ tại hai nơi trong Xứ Đoài: Kẻ Blùng có 52 nhà thờ và nhà nguyện, 3,960 giáo hữu; An Tập có 87 nhà thờ và nhà nguyện, 5,344 giáo hữu; tổng cộng 9,340 giáo hữu. Năm 1712, số giáo hữu hai nơi này lên tới 15,462.

Năm 1846, Ṭa Thánh phân chia giáo phận Tây Đàng Ngoài thành giáo phận Nam và Tây, vùng đất Xứ Đoài (Hưng Hóa) phát triển thành nhiều giáo họ, giáo xứ thuộc giáo phận Tây do Đức cha P.A. Retord Liêu coi sóc.

Ngày 15-4-1895, Đức Lêô XIII đă cho tách 3 tỉnh: Sơn Tây, Hưng Hóa và Tuyên Quang thuộc giáo phận Tây, để thành lập giáo phận mới lấy tên gọi giáo phận Đoài, hay c̣n được gọi là giáo phận Tông Ṭa Thượng Du Bắc Kỳ (Tonkin Supérieur), và đặt Đức cha Paul Raymond Lộc làm giám mục tiên khởi. Khi thành lập, giáo phận Đoài (Hưng Hóa) có 16,950 giáo hữu, 24 linh mục (12 thừa sai), 53 tu sĩ, 28 tiểu chủng sinh, 11 giáo xứ, 96 giáo họ.

Năm 1924, Ṭa Thánh đổi tên các giáo phận ở Việt Nam theo địa bàn hành chính nơi đặt ṭa giám mục, giáo phận Tông Ṭa Đoài đổi tên thành giáo phận Tông Ṭa Hưng Hóa, Đức cha Paul Raymond Lộc coi sóc. Từ khi nhận coi sóc giáo phận đến năm ngài nghỉ hưu (1938), giáo phận Hưng Hóa tăng từ con số 16,950 đến 64,233 giáo hữu, 58 linh mục Việt Nam, 22 linh mục thừa sai, 42 giáo xứ, 435 giáo họ, 44 người nhà mụ.

Ngày 2-5-1950, ṭa giám mục, nhà thờ chính ṭa, trường thử (tiểu chủng viện) bị thiêu hủy toàn bộ do chiến tranh và tạm thời di dời về thị xă Sơn Tây.

Ngày 24-11-1960, Ṭa Thánh thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đồng thời nâng giáo phận tông ṭa Hưng Hóa lên hàng giáo phận chính ṭa và đặt Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Quang làm giám mục chính ṭa đầu tiên, thuộc giáo tỉnh Hà Nội.

Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Quang cai quản giáo phận từ năm 1960-1985. Tiếp theo lần lượt có Đức cha Giuse Phan Thế Hinh (1985-1989), Đức cha Giuse Nguyễn Phụng Hiểu (1989-1992). Giáo phận trong t́nh trạng trống ṭa (1992-2003) và được các linh mục giám quản coi sóc: linh mục Phaolô Đinh Tiến Cung (1992-1998) và linh mục Giuse Nguyễn Thái Hà (1998-2003).

Ngày 5-8-2003, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đă bổ nhiệm linh mục Antôn Vũ Huy Chương, giáo sư Thần Học Tín Lư Đại Chủng Viện Cần Thơ, làm giám mục Hưng Hóa.

B. Địa Lư và Dân Số

Ranh giới: Giáo phận Hưng Hóa nằm trên miền Tây Bắc, Bắc Việt Nam. Phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây giáp Lào; phía Tây Nam giáp Thanh Hóa và Phát Diệm; phía Đông Nam giáp Hà Nội và Bắc Ninh; phía Đông Bắc giáp Bắc Ninh và Lạng Sơn. Một giáo phận bao gồm 10 tỉnh: Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Ḥa B́nh, Hà Tây, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang và Tuyên Quang. Tổng diện tích 54,352 km2.

Tổng dân số trên địa hạt giáo phận là 7,145,623 người. Số giáo dân Công giáo là 192,283 người. Dân chúng đa số làm nghề nông - lâm nghiệp. Số rất ít c̣n lại làm tiểu - thủ - công nghiệp.

Núi: Dăy Hoành Liên Sơn: có đỉnh cao gọi là Phanxipăng (3,143m), tiếng H'mông là Phán Si Pản, có nghĩa là 3 phiến đá to phẳng. Dăy Núi Voi: nằm xen giữa hai dăy núi Hoàng Liên Sơn (hữu ngạn) và dăy Núi Voi (tả ngạn). Núi Ba V́ (Tản Viên Sơn): thuộc xă Ba V́, huyện Ba V́, tỉnh Hà Tây.

Sông: Có 5 con sông lớn: Sông Hồng (c̣n gọi là Sông Thao), Sông Đà (c̣n gọi là Sông Bờ), Sông Lô (người Pháp đặt tên là Rivère Claire), Sông Chảy, và nhỏ hơn là con sông Nậm Thị, biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Sắc tộc: giáo phận Hưng Hóa có tới 39 sắc tộc, thực tế mới kiểm chứng được 17 sắc tộc: Kinh (85%), Mèo (H'Mông), Mường, Tày, Nùng, Thái, Dao, Sán Chay, Khờ Mú, Hà Nh́, Lào, La Chí, Phù Lá, Sán Chỉ, và Bố Y...

C. Một số đặc điểm của giáo phận

1. Nhà Thờ chính Ṭa:

Nhà thờ xứ Sơn Lộc (Tông), thuộc xă Trung Sơn Trầm, thị xă Sơn Tây, tỉnh Hà Tây, nay gọi là nhà thờ Chính Ṭa của giáo phận. Nhà Thờ có kiến trúc tương đối rộng lớn, kiên cố nhất giáo phận.

2. Đền Thánh hay Trung tâm Hành hương:

- Pháp Trường Năm Mẫu, G̣ Sói, Đền Thánh Tử Đạo: đều nằm chung quanh các thị xă Sơn Tây, tỉnh Hà Tây.

- Đền thánh Đoàn Văn Vân: được xây cất trong khuôn viên nhà xứ Nỗ Lực, xă Thụy Vân, thành phố Việt Tŕ, tỉnh Phú Thọ.

- Đền Thánh Phêrô Vũ Văn Truật: được xây cất tại khuôn viên nhà xứ Hà Thạch (Kẻ Thiệc là quê hương của ngài), xă Hà Thạch, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

3. Những hoạt động đặc biệt của giáo phận:

Hưng Hóa là một giáo phận gặp rất nhiều khó khăn:

- Về kinh tế: Hưng Hóa trải rộng trên miền thượng du và trung du, nên đời sống vật chất thiếu thốn và phát triển chậm.

- Về tri thức: Là giáo phận có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nên văn hóa thấp, hầu như lạc hậu. Giáo phận thành lập được 99 năm mới có một linh mục đi du học.

- Nghèo về nhân sự: linh mục, tu sĩ quá ít. Hiện chỉ có 24 linh mục, 102 nữ tu (trong đó có 37 chính thức). Giáo phận lại trống ṭa 11 năm, nay mới có giám mục coi sóc.

Đứng trước muôn ngàn khó khăn, hàng giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân đang cố gắng phát triển về công tác đào tạo:

Đào tạo các vị trong Ban hành Giáo, Hội Đồng Giáo Xứ. Mỗi vị được giáo phận đài thọ đi học 7 ngày mỗi năm. Ngoài ra c̣n có những buổi họp, tĩnh tâm tại các giáo xứ; hằng năm có tổ chức đại hội 3 ngày tại ṭa giám mục.

Đào tạo các giáo lư viên các cấp I, II, III, bồi dưỡng mặt tâm linh để họ có khả năng phục vụ giáo họ, giáo xứ, giáo phận.

Củng cố và phát triển các đoàn thể, các giới, giúp nhau sống "tột đạo đẹp đời" tại các gia đ́nh, giáo xứ, giáo họ.

Vun trồng ơn gọi "dâng ḿnh trong nhà Chúa" bằng cách động viên, nâng đỡ về tinh thần cũng như vật chất, để các em có điều kiện theo ơn gọi trong giáo phận.

Giáo phận đă ra nghị quyết chung ngày 11-2-1999, quyết tâm thi đua trong toàn giáo phận, xây dựng giáo xứ trưởng thành với 4 tiêu chuẩn mục vụ.

một cộng đoàn đức tin vững mạnh,

một cộng đoàn phụng tự sốt sắng,

một cộng đoàn bác ái huynh đệ,

một cộng đoàn truyền giáo.

Các họ đạo sẽ cố gắng lập quỹ khuyến học và quỹ t́nh thương để nâng đỡ các em học sinh nghèo, giỏi, và những gia đ́nh khó khăn, hoặc gặp tai nạn, thể hiện sự yêu thương chia sẻ.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

Nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/vnchurch.htm

...............

GIÁO PHẬN HƯNG HÓA

Lê Ngọc Bích - Dũng Lạc

Giáo phận đầu tiên tách ra từ giáo phận mẹ Tây Đàng Ngoài là Hưng Hóa, do sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII kư ngày 15-04-1895. Lúc đầu gọi tên là giáo phận Thượng Bắc Kỳ (Haut Tonkin) thường gọi là giáo phận Đoài (phía Tây) rồi từ cuối năm 1924 gọi tên là giáo phận Hưng Hóa.

Giáo phận mới là một địa bàn miền núi, cao nguyên bao la gồm các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái, Sơn Tây, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu, Ḥa B́nh, Tuyên Quang và một phần của tỉnh Hà Giang. Dân cư đa phần người sắc tộc Mường, Thổ, Mán, Thái, Nùng, H’Mông (Mèo)... tất cả 30 sắc tộc khác nhau. Năm 1895 giáo phận có 16.950 giáo dân với 12 vị linh mục Việt Nam, đến cuối năm 1938 đă có 64.233 giáo dân với 58 linh mục Việt Nam. Giáo dân tập trung chủ yếu ở hai tỉnh Phú Thọ, Sơn Tây (Vĩnh Phú và Hà Tây ngày nay) c̣n ở Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Lào Cai, Ḥa B́nh.

Năm 1954, số người Công giáo Hưng Hóa di cư vào Nam chỉ có 7.000 và 23 linh mục.

Khi mới thành lập trụ sở Giám mục đặt tại tỉnh lỵ Hưng Hóa ở Phú Thọ. Trong chiến tranh chống Pháp cơ sở giáo phận ở Phú Thọ bị bom đạn san bằng, nhà thờ bị lính Pháp chiếm đóng do đó ngày 02-11-1950 Ṭa Giám mục phải dời về thị xă Sơn Tây cho đến ngày nay, cách Hưng Hóa 27km. Đức cha Huy Quang có ư định chuyển về giáo xứ Hiền Quang, cách thị xă Phú Thọ 4km, cách Hưng Hóa 17km. Giáo phận đang xin lập Ṭa Giám mục tại Hiền Quang v́ nơi đây vẫn c̣n đông đảo giáo dân.

Giáo dân miền cao rừng núi này đă được các giáo sĩ ḍng Tên đến truyền bá Tin Mừng từ hạ bán thế kỷ XVIII. Năm 1647, giáo sĩ Filippo De Marini ḍng Tên (người Ư, 1608-1682) cùng vài Thầy giảng được một ông quan có đạo Công giáo tên là Lôrensô mời lên đến Đại Đồng gần phủ Yên B́nh, tỉnh Tuyên Quang để truyền giáo. Giáo hữu ở đây là những nhà buôn, dựng nhà thờ, hội họp nhau sinh hoạt cầu nguyện vào các ngày Chúa nhật. Có một người thủ lĩnh tên là Đôminicô họp giáo dân đón chào giáo sĩ Marini nồng nhiệt trong nhà thờ. Sau gần một tháng, giáo sĩ Marini và các thầy giảng phải từ giă giáo dân v́ không chịu nổi sơn lam chướng khí, người nào cũng bị bệnh (Theo Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo sử tập I, tr. 86-87).

Giáo phận Hưng Hóa có được những linh mục, những giáo sĩ thừa sai âm thầm tận tụy hoạt động về xă hội, về văn hóa mà nổi tiếng là linh mục thừa sai Gustave Hue (tên VN : Hương) ra sức truyền bá Tin Mừng cho người Mường. Linh mục Gustave Hue là tác giả cuốn tự điển tam ngữ Việt-Hán-Pháp. Lúc đă 67 tuổi, linh mục c̣n học tiếng Mường. Kết quả là linh mục Gustave Hue dạy cho trẻ em Mường đọc và viết được tiếng Mường, in sách song ngữ Việt-Mường để dạy giáo lư, văn hóa cho trẻ em Mường. Nhờ các trẻ em này mà người Mường lớn tuổi biết đọc chữ Mường (Phan Phát Huồn, sđd, tập 2, tr. 212-213).

Với những con người như vậy, các sắc tộc miền cao giáo phận Hưng Hóa tiếp nhận văn hóa và giáo lư Công giáo. Và với những con người chấp nhận hy sinh mạng sống để chứng minh chân lư của đạo Công giáo, Hưng Hóa đă ôm ấp 32 vị thánh Chứng nhân đức Tin chịu chết v́ Đạo.

Gần Sơn Tây có dựng đài “Kính Đấng Tây Nam Tử v́ đạo Thiên Chúa”, xây dựng vào năm 1940 ngay trên băi Năm Mẫu là nơi xưa kia triều đ́nh chém đầu các vị Chứng nhân của Hưng Hóa. Thánh linh mục Schoeffler (tên Việt Nam : Đông, bị chém ngày 01-05-1859), thánh linh mục Cornay (Tân, bị chém ngày 20-09-1837), Thầy giảng Vũ Văn Truật (người Hà Thạch, Sơn Tây, bị chém ngày 18-12-1938) v.v... đă sống và chịu chết trên mảnh đất Hưng Hóa hùng vĩ kiên cường.

Từ năm thành lập, 1895, giáo phận Hưng Hóa lần lượt được 3 vị Giám mục người Pháp lănh đạo.

- Tiên khởi : Đức Cha Paul Marie Ramond (tên VN : Lộc, 1895-1938)
- Đức Cha Gustave Vandale (Vạn, 1938-1943)
- Đức Cha Jean Mazé (Kim, 1945-1959)
- Kế nhiệm Đức cha Mazé là Giám mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận : Đức cha PHÊRÔ NGUYỄN HUY QUANG (1960-1985)
- Giám mục GIUSE PHẠM THẾ HINH (1985-1989)
- Giám mục GIUSE NGUYỄN PHỤNG HIỂU (1990-1992).

Sau khi Đức cha Nguyễn Phụng Hiểu tạ thế, giáo phận Hưng Hóa không có Giám mục, gọi là “trống ṭa”. Linh mục Phaolô Đinh Tiến Cung được cử Giám quản giáo phận, một giáo phận trải rộng trên địa bàn 7 tỉnh : Hà Tây, Vĩnh Phú, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Hà Giang, Ḥa B́nh.

***

Tài liệu tham khảo :

- Tài liệu của Ṭa Giám mục Hưng Hóa.
- Việt Nam Công giáo Niên giám 1964.

***

GIÁM MỤC PHÊRÔ NGUYỄN HUY QUANG (1910-1960-1985)

Đức cha sinh ngày 03-10-1910 tại họ đạo Bến Thôn, xứ Vĩnh Lộc, huyện Thạch Thất, Sơn Tây (nay là Hà Tây).

Học Tiểu chủng viện Hà Thạch (huyện Phong Châu). Sau đó, vào Đại chủng viện Xuân Bích Hà Nội.

Thụ chức linh mục ngày 30-11-1940.

Tân linh mục được bổ nhiệm Phó xứ Bách Lộc và đảm nhiệm Phiên Vĩnh Thọ từ 1941-1960. Như vậy, hơn 20 năm sau khi lănh chức, linh mục Phêrô Nguyễn Huy Quang sống với giáo phận trong những biến cố lớn của đất nước : Quân đội Nhật chiếm Việt Nam, 1940-1945, cuộc tổng khởi nghĩa 1945, cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp kết thúc, 1945-1954.

Cho đến cuối năm 1959, Giám mục Jean Marie Mazé (Kim, 1896-1964) phải rời Việt Nam về Pháp, linh mục Nguyễn Huy Quang thay thế điều hành giáo phận Hưng Hóa.

Đến ngày 05-03-1960, Ṭa thánh bổ nhiệm linh mục Nguyễn Huy Quang làm Giám mục Hiệu ṭa Claudiopoli in Asauria, lănh đạo giáo phận Hưng Hóa.

Ngày 23-04-1960 tại nhà nguyện ṭa Giám mục Hà Nội, Đức cha Trịnh Như Khuê tấn phong Giám mục cho linh mục Nguyễn Huy Quang.

Lễ tấn phong diễn ra đơn giản.

Ngày 24-11-1960 ṭa Giám mục Hưng Hóa được nâng lên Chính ṭa và Đức cha Quang là Giám mục Chính ṭa.

Ngày 23-04-1985 Đức cha Nguyễn Huy Quang qua đời tại Sơn Tây, hưởng thọ 75 tuổi, 45 năm linh mục trong đó 25 năm Giám mục giáo phận Hưng Hóa và là Giám mục Việt Nam đầu tiên của giáo phận.

Suốt 25 năm, Giám mục Nguyễn Huy Quang phải quá nhiều vất vả, sống “Trung thành” và “B́nh an” như khẩu hiệu “Pax et Fides” của Ngài đă chọn.

Có lần Ngài đă qua Roma, vào năm 1978.

***

Tài liệu tham khảo :

- Việt Nam Giáo sử, tập II, của LM. Phan Phát Huồn.
- Tài liệu của Ṭa Giám mục Hưng Hóa.
- Việt Nam Công giáo Niên giám 1964.

***

GIÁM MỤC GIUSE PHAN THẾ HINH (1928-1976-1989)

Đức cha sinh ngày 27-10-1928 tại họ đạo Mông Phụ, xứ Bách Lộc, huyện Ba V́, Hà Tây.

Được truyền chức linh mục ngày 13-09-1959 cách âm thầm tại nhà nguyện Giám mục Mazé.

Linh mục được bổ nhiệm giáo sư Tiểu chủng viện giáo phận.

Sau đó ra làm Chánh phiên Ngô Xá cho đến năm 1976.

Ngày 14-11-1976 được tấn phong Giám mục do Đức cha Trịnh Văn Căn chủ lễ tại Thị xă Sơn Tây. Tân Giám mục làm phó cho Đức cha Nguyễn Huy Quang.

Ngày 13-11-1985, Đức cha Nguyễn Huy Quang tạ thế, Đức cha Phó Phan Thế Hinh kế nhiệm, lănh đạo giáo phận Hưng Hóa.

Tháng 05-1980, Đức cha thay mặt cho Đức cha Huy Quang phó hội Roma với Đức cha Trịnh Văn Căn.

Đức cha Phan Thế Hinh là Chủ tịch Ủy ban Giáo dân khóa I của Hội đồng Giám mục Việt Nam.

Sau khi dự lễ tấn phong Đức cha Nguyễn Văn Yến, Giám mục phó Phát Diệm, trở về, Đức cha Phan Thế Hinh qua đời đột ngột tại Sơn Tây vào ngày 22-01-1989, thọ 61 tuổi (Theo linh mục Trần Phúc Long, Nguyệt san Đức Mẹ Hằng cứu giúp, tháng 08-1991, Hoa Kỳ).

***

GIÁM MỤC GIUSE-MARIA NGUYỄN PHỤNG HIỂU (1921-1991-1992)

Sinh ngày 19-03-1921 tại xứ Quán Chiêm, Hàm Phu, huyện Kim Sơn, Ninh B́nh, thuộc giáo phận Phát Diệm.

Năm 1934, vào Tiểu chủng viện Hà Thạch, Phú Thọ, giáo phận Hưng Hóa.

Nhưng đến năm 1945 lại vào Đại chủng viện Thượng Kiệm, giáo phận Phát Diệm.

Ngày 26-05-1951 thụ chức linh mục. Sau đó đi Phó xứ Liễu Đề, giáo phận Bùi Chu.

Đến năm 1952 linh mục Nguyễn Phụng Hiểu gia nhập giáo phận Hưng Hóa, Giám mục giáo phận bấy giờ là Đức cha Jean Marie Mazé (Kim, 1896-1964) cử linh mục Hiểu làm Phó xứ Vĩnh Lộc giúp họ đạo Thạch Thán và các họ đạo mới.

Năm 1954, làm Giám đốc Tiểu chủng viện Sơn Lộc.

Những năm 1960-1967 làm Quản lư giáo phận và Chánh xứ Sơn Tây dưới thời Giám mục bấy giờ là Đức cha Phêrô Nguyễn Huy Quang.

Đến năm 1979, linh mục Nguyễn Phụng Hiểu được Giám mục giáo phận bấy giờ là Đức cha Giuse Phan Thế Hinh (1928-1989) bổ nhiệm Chánh xứ Tinh Lam, phụ trách nhiều xứ đạo, họ đạo nhánh với 42 nhà thờ, 9.200 giáo dân.

Ngày 22-01-1989 Giám mục Giuse Phan Thế Hinh qua đời, Cha già Hiểu được chọn làm Giám quản giáo phận, về cư trú ở Sơn Tây. Thời gian này Ngài c̣n nhận dạy môn Thần học tín lư cho Đại chủng viện Hà Nội.

Ngày 03-12-1990, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II bổ nhiệm linh mục Giám quản Nguyễn Phụng Hiểu làm Giám mục Chính ṭa giáo phận Hưng Hóa, nhưng măi hơn ba tháng sau Quốc vụ Khanh Ṭa thánh mới có thể chính thức thông báo việc bổ nhiệm, cùng với việc Đức cha Nguyễn Văn Sang làm Giám mục chính thức Thái B́nh.

Ngày cử hành lễ tấn phong tân Giám mục Hưng Hóa dự tính vào ngày 19-03-1991, ngày lễ kính thánh Giuse bổn mạng của Tân Giám mục. Nhưng phải hoăn đến ngày 08-04-1991 để toàn thể Giám mục dự Đại hội thường niên tại Hà Nội có thể tham dự đông đủ.

Ngày lễ tấn phong, số Giám mục đông đảo chưa từng có trong bất cứ một lễ tấn phong Giám mục từ xưa đến nay tại Việt Nam : 25 Giám mục. Người ta thấy Đức cha Phạm Đ́nh Tụng, Giám mục Bắc Ninh kiêm Giám quản Hà Nội, chủ lễ, Đức cha F.X. Nguyễn Văn Thuận, Đức cha Nguyễn Sơn Lâm (Đà Lạt), Đức cha Nguyễn Như Thể (Huế), Đức cha Nguyễn Văn Ḥa (Nha Trang), Đức cha Phạm Văn Dụ (Lạng Sơn) v.v... Có hơn 40 linh mục và 20.000 giáo dân đa số là người dân tộc Mèo từ Sapa (Lào Cai) về dự lễ.

Ṭa thánh cử Tổng Giám mục Alberto Tricarico đương nhiệm Sứ thần Ṭa thánh ở Bangkok, đại diện Đức Giáo Hoàng sang dự lễ. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II c̣n gửi tặng tân Giám mục một cây Thánh giá bằng bạc và sẽ do Đức Tổng Giám mục Alberto trao tận tay Đức cha Hiểu. Nhưng vào giờ chót, Tổng Giám mục Alberto Tricarico không sang Việt Nam dự lễ được !

Đức cha Nguyễn Phụng Hiểu lên Giám mục Hưng Hóa lúc đă 70 tuổi, lănh đạo một giáo phận rộng lớn, miền núi non, nghèo khổ được 13 tháng th́ ngă bệnh. Tháng 08-1991, Đức cha đi Roma điều trị tại bệnh viện Piô X trong 2 tháng 21 ngày. Đức Giáo Hoàng đến thăm, Đức cha phải ngồi xe lăn đi ra đón tiếp.

Tháng 12-1991, Đức cha trở về Việt Nam tiếp tục điều trị tại bệnh viện Việt-Xô (Hà Nội) trong 2 tháng.

Sau đó, ngày mồng 8 Tết Nhâm Thân, 11-02-1992 vào Sàig̣n chữa bệnh theo phương pháp Đông Y. Thời gian điều trị bệnh nan y tại Sàig̣n, Đức cha già Nguyễn Phụng Hiểu nhận được nhiều tin buồn dồn dập từ Hưng Hóa : 4 người cộng tác thân mật của Ngài lần lượt qua đời trong ṿng 30 ngày. Đức cha già yếu lại càng yếu hơn. Thế mà, ngày 07-05-1992 Ngài c̣n đi Xuân Lộc dự lễ tấn phong Đức cha Nguyễn Văn Trâm. Hôm sau, 08-05-1992, Ngài đến trụ sở Hưng Hóa tại Sàig̣n thăm viếng, giă từ, chuẩn bị trở về Hưng Hóa.

Căn bệnh ung thư bộc phát, đưa đi Trung tâm cấp cứu bệnh viện Sàig̣n. Đức cha qua đời lúc 14 giờ 20 ngày 09-05-1992 thọ 71 tuổi.

Linh cữu quàn tại nhà thờ xứ Lộc Hưng, quận Tân B́nh, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, chuyển linh cữu về thị xă Sơn Tây nơi tạm đặt Ṭa Giám mục Hưng Hóa.

Lễ an táng cử hành ngày 14-05-1992 do Đức Giám mục Bùi Chu Tạo, giáo phận Phát Diệm, chủ tế, Đức cha Phạm Đ́nh Tụng đọc điếu văn. Giáo dân từ Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Ḥa B́nh, Vĩnh Phú, Hà Tây, cùng với người dân tộc H’Mông từ Sapa, Nghĩa Lộ miền cao cũng về Sơn Tây dự lễ tiễn biệt Đức cha Nguyễn Phụng Hiểu.

Giám mục Giuse Nguyễn Phụng Hiểu chính thức lănh đạo giáo phận Hưng Hóa được 1 năm 29 ngày, tuy nhiên thực sự Ngài gắn bó cuộc đời ḿnh phục vụ giáo phận miền núi Hưng Hóa đă từ lâu, 1934, cùng giáo phận trong những ngày gian khổ chiến tranh, qua những bước thăng trầm của thế sự, của đất nước.

Khẩu hiệu của Giám mục Giuse Nguyễn Phụng Hiểu là “Hăy làm chứng nhân cho Thầy”. Và Ngài đă làm chứng nhân trong cuộc sống đơn sơ, giản dị, nhẫn nại, t́nh nghĩa với đạo, với đời.

***

Tài liệu sử dụng :

- Tài liệu của Ṭa Giám mục Hưng Hóa : “Ít ḍng tiểu sử các Đức cha giáo phận Hưng Hóa”.
- Báo Công Giáo và Dân Tộc số 803, 21-04-1991; số 857, 17-05-1992.
- Bài của linh mục Trần Phúc Long, Nguyệt san Đức Mẹ Hằng cứu giúp, Hoa Kỳ, 08-1991.
- Tài liệu của một linh mục gốc Hưng Hóa tại Sàig̣n.

Tác giả Lê Ngọc Bích


H́nh ảnh sinh hoạt Giáo Phận Hưng Hóa

H́nh ảnh Thánh lễ Truyền chức Đức cha Anphongsô Nguyễn Hữu Long
Giám mục Phụ Tá Giáo phận Hưng Hóa (6/9/2013)