Giáo phận Kontum

Nhà thờ Giáo xứ Tân Điền

 

Nhà thờ Giáo xứ Tân Điền
Giáo hạt Kontum

 

Địa chỉ :   Xă Đoàn Kết, tp. Kontum   ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục

Tel

 

E-mail

 

Năm thành lập

 

Bổn Mạng

 

Số giáo dân

2100

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

 

Lược sử Giáo xứ Tân Điền

I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ MỘT VÙNG ĐẤT

Từ xa xưa, Tây Nguyên là vùng đệm, một thời là nơi giao tranh giữa các bộ tộc. Do địa h́nh và chủng tộc, người Lào đă có quan hệ lâu đời và sâu với các dân tộc ở Tây Nguyên: Bản Đôn ở Đăk Lăk, Mường Hon ở cụm núi Ngok Linh…đến ngày nay c̣n mang nhiều dấu vết của Lào.

Vùng đất Tân Điền thuộc xă Đoàn Kết nằm ở phía tây nam của thành phố Kontum, từ xa xưa đă có quan hệ khá mật thiết với người Lào. Cánh đồng Hà-Ghẹt [1], cánh đồng lớn nhất của tỉnh Kontum, nằm cách thành phố Kontum 5 km thuộc thôn 5 xă Đoàn Kết, hiện nay vẫn c̣n vết tích những “ụ g̣ mối” được cho là “mồ mả xưa” mà người dân nơi đây gọi là “Mả Lào” ; hoặc trong lúc cày ruộng người dân đă phát hiện nhiều hiện vật như “ghè Lào”, “ché Lào”, những “xâu hạt cườm” vốn là đồ trang sức của cư dân Lào xưa.v.v. ; hay trong các buôn làng người dân tộc trong vùng trước đây từng lưu giữ nhiều bộ chiêng Lào…

Đây có thể là một làng người Lào đến định cư đă lâu đời trong vùng b́nh nguyên rộng lớn này, cũng có thể là vết tích của những người Lào chạy dạt vào đây do hệ quả của các cuộc chiến tranh bộ lạc ngày xưa…[2]

Tập quán lâu đời của người Lào là canh tác lúa nước. Có thể họ cũng đă từng khai phá lợi thế của vùng đất trũng này để làm ruộng.

- Đến nửa sau thế kỷ thứ 19, khi người Pháp lập lên chế độ bảo hộ trên toàn vùng phía đông sông Mê Kông, đă thực hiện một số sửa đổi và định ra một số luật lệ về biên giới giữa Lào và Việt Nam, người Lào đă rời vùng này đi về phía Tây dăy Trường Sơn định cư như ngày nay.

Về sau, khi cư dân đến khai phá và sinh sống nơi vùng đất này, họ thường gọi nơi đây là “Ruộng Lào”.

II. THỜI KỲ SƠ KHAI

Khi các cơ sở công giáo đầu tiên đă được cha Do và các vị thừa sai thiết lập trên Miền Kontum, những tín hữu người Kinh từ miền xuôi theo chân các ngài lên Kontum làm ăn sinh sống đă đến cư ngụ tại làng G̣ Mít (Tân Hương ngày nay). Những cư dân này đă khám phá ra vùng đất Ruộng Lào, lúc bấy giờ chỉ là một đồng cỏ hoang dại. Mùa nắng, ngoài những vùng trũng śnh lầy cỏ xanh quanh năm, c̣n lại th́ cỏ khô héo, đất nứt nẻ. Nhưng về mùa mưa nước ngập trắng đồng, chim cá sinh sôi phát triển nhiều vô kể. Điều kiện thiên nhiên ưu đăi rất dồi dào, cùng với sự thích hợp cho việc canh tác lúa nước nên một số người đă cùng nhau đến đây khai khẩn và lập cḥi cư ngụ.

Năm 1871, linh mục Phêrô Nguyên ở trung tâm Rơhai (G̣ Mít-Tân Hương) đă qua bên kia sông Dak Bla lập làng Dak Kiă gần con suối Dak Kiă giáp ranh với Tân Điền ngày nay. Trong vài năm, làng Dak Kiă trở nên hưng thịnh nhờ những cánh đồng tươi tốt màu mỡ, dễ canh tác. Cha Nguyên đă làm nhà thờ cao ráo rộng răi, nhà xứ và lán trại…Đến năm 1877, cha Nguyên theo lệnh Bề trên phải trở về phụ trách trung tâm Rơhai, nên dần dần làng Dak Kiă tan ră [3]. Nhưng một số người vẫn trụ lại, cộng với số dân mới đến định cư đă lập nên làng Phương Ḥa (1892). Dân làng Phương Ḥa đă đi vào sâu trong hướng phía tây để khai khẩn đất đai làm ruộng nước: “Làng Phương Ḥa bên kia sông Bla gần Kontum bây giờ nhơn số hơn 300. Làng này xưa vốn là người Tân Hương theo cha Cận (P. Nicolas) qua lập đó cho dễ làm ruộng, v́ bên trong có chỗ gọi là ruộng rộng và tốt dễ phá ruộng. Đến sau người ta đến thêm lần lần, và sau nầy chắc c̣n đông hơn”.[4]

Năm 1903, họ đạo Phương Ḥa được thành lập trực thuộc trung tâm Rơhai (Tân Hương), do cha Nicolas Cận (MEP) coi sóc [5]. Cha Nicolas đă đưa thêm giáo dân sang vùng này, cộng với số di dân từ Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định lên lập nghiệp, nên số giáo dân trong vùng ngày một tăng thêm.

Để thuận tiện cho công việc đồng áng, một số giáo dân vào canh tác tại Ruộng Lào đă dựng cḥi ở lại. Những Kitô hữu này thường qui tụ đọc kinh tối với nhau, nên đă cùng nhau dựng nên một nhà nguyện nhỏ bằng tranh nứa, trên một vị trí cao ráo, bao quát, chính giữa các trang trại. Vị trí nhà nguyện đầu tiên này nằm trong khu vực trường Trung học Cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm, thuộc thôn 5, xă Đoàn Kết hiện nay [6].

Năm 1921, họ đạo Phương Ḥa được nâng lên thành giáo xứ với cha sở tiên khởi là cha Phêrô Irigoyen (Hương) [7], Ruộng Lào lúc bấy giờ đă được công nhận là một xóm đạo trực thuộc giáo xứ Phương Ḥa. Số giáo dân lúc ấy khoảng độ dăm ba chục người.

III. THÀNH LẬP HỌ ĐẠO RUỘNG LÀO 1933

 

Năm 1933 đă ghi dấu mốc quan trọng đối với cộng đoàn tín hữu Ruộng Lào: Họ đạo Ruộng Lào được thành lập, thuộc địa sở Phương Ḥa, do cha Irigoyen (Hương) phụ trách [8]. Lúc này Họ Ruộng Lào đă có Ban chức việc hoàn chỉnh với ông Câu họ và quí ông Biện. Quí chức việc thời kỳ đầu có ông Câu Trần Tính (tức ông câu Hai), về sau có ông Câu Phạm Nhơn (c̣n gọi Câu Thuận hay câu Câu Đàn).v.v.

Ngày 21/04/1935, cha Irigoyen qua đời sau 14 năm phục vụ địa sở. Đức Giám mục đă bổ nhiệm cha Phêrô Trần Ngọc Thích tiếp nối coi sóc địa sở Phương Ḥa, bao gồm họ Ruộng Lào, Plei Hơnor, Plei Rơhai, Plei Groi và Kon Hara Kơtu. Tổng số tín hữu người Kinh cả Phương Ḥa và Ruộng Lào vào năm 1936 là 517 người [9].

IV. THỜI KỲ PHÁT TRIỂN

Thập niên 1940 trở đi là thời kỳ phát triển cả về tôn giáo lẫn hành chính.

Từ năm 1942 đến 1949, họ Ruộng Lào lúc bấy giờ đă có thêm khoảng 20 giáo dân trưởng thành của 5 gia đ́nh từ làng Phụng Sơn về gia nhập [10], cùng với số người công giáo từ miền đồng bằng lên lập nghiệp nên số lượng tín hữu trong họ đạo đă tăng lên. Năm 1948, số giáo dân họ Ruộng Lào là 174 người [11]. Họ đạo có thêm cha Micae Hiâu (Hóa) đến phụ tá (1946-1949). Do nhu cầu tôn giáo, cha Phêrô Thích đă cho phá dỡ nhà nguyện cũ, di dời về vị trí bây giờ và dựng lên một nhà thờ mới lát ván rầm, rộng 8 mét, dài 15 mét. Đồng thời ngài cũng dựng lên một nhà xứ (quen gọi là nhà vuông). Ngôi nhà thờ mới này được thánh hiến vào năm 1950, chọn Thánh Cả Giuse làm tước hiệu của Nhà thờ, cũng là thánh bổn mạng của họ đạo, lễ mừng vào ngày 19/03 hằng năm.

Về hành chính, dân chúng đă làm nhà cư ngụ rộng khắp các khu vực trong làng Tân Điền, trải dài từ cánh đồng Hà-Ghẹt vào đến tận Dốc Xă Cảnh (đường vào xă Ia Chim). Đầu thập niên 1950, ấp Tân Điền được thành lập, thuộc xă Phương Ḥa. Họ Ruộng Lào từ đây cũng được gọi là họ Tân Điền, theo tên gọi hành chính của ấp Tân Điền thời đó.

Về tên gọi Tân Điền, theo ông Nguyễn Hữu Phú, trong tập “Tân Hương, làng Việt đầu tiên trên xứ Thượng” có ghi như sau:

“Sau Tân Hương, nhiều làng xă người Kinh được thành lập. Trừ các làng Trung Lương, Lương Khế, Vơ Lâm được khai sinh theo đà phát triển của tỉnh, hầu hết các làng xă khác đều do số dân được các Cha đưa lên lúc đầu làm ṇng cốt.

Riêng các xă ấp: Tân Thành, Tân Điền (1954), Tân Cảnh (1956), Tân Phú (1958) đă được thành h́nh do chính người dân Tân Hương đứng đầu hoặc làm ṇng cốt, cho nên lấy chữ “Tân” đứng đầu, để nhớ đến làng Mẹ là Tân Hương.” [12]

(x. Nguyễn Hữu Phú, “Tân Hương, làng Việt đầu tiên trên xứ Thượng”, bản đánh máy chữ tháng 10.1974.)

Cũng trong năm 1950, Đức Giám mục đă bổ nhiệm cha Antôn Nguyễn Đ́nh Nghĩa đến phụ trách họ đạo Ruộng Lào [13]. Như vậy, cùng với việc khánh thành ngôi nhà thờ mới, chọn thánh bổn mạng mới là Thánh Cả Giuse (bổn mạng cũ theo địa sở Phương Ḥa là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội) và có linh mục riêng biệt phụ trách, họ đạo Tân Điền trên thực tế đă trở thành một Chuẩn Giáo xứ [14].

Cha Antôn Nguyễn Đ́nh Nghĩa

Năm 1952, Đức Giám mục đă cử cha Phêrô Dương Ngọc Đáng về giáo xứ Tân Điền để nghỉ dưỡng và lo mục vụ, thay cha Antôn Nguyễn Đ́nh Nghĩa được thuyên chuyển đi nơi khác. Để chăm lo việc học hành của con em trong làng, cha Phêrô Đáng đă cho dựng lên một ngôi trường sơ cấp gồm hai gian bằng gỗ cà chít, mái lợp ngói và nền lát gạch. Đây là ngôi trường học đầu tiên của Tân Điền, được dựng trong khuôn viên đất của nhà thờ. Việc dạy học được tổ chức học theo kiểu “lớp ghép” (học sinh ít nên nhiều lớp cùng học chung một lúc và chỉ có một thầy dạy). Giáo viên được cha mời từ nơi khác đến, và học phí do phụ huynh đóng góp.

Mọi việc đang trên đà tiến triển th́ ngày 05/09/1960, Cha Già Phêrô Dương Ngọc Đáng đă ra đi trong sự tiếc thương của cộng đoàn tín hữu của ngài.

Từ thời gian này, họ đạo Tân Điền lại bước sang một khúc quanh mới, trong nỗ lực vươn lên sống và làm chứng Tin Mừng Chúa Kitô, hướng đến tương lai.

V. HƯỚNG ĐẾN TƯƠNG LAI

Sau khi cha sở Phêrô Dương Dương Ngọc Đáng qua đời, họ đạo Tân Điền không có cha sở phụ trách riêng, nên trở lại thuộc quyền quản trị của cha sở Phương Ḥa.

+Giai đoạn 1960-1967, họ đạo được Cha Gioakim Chế Nguyên Khoa coi sóc.

+Từ 1967-1969, cha Gioakim Nguyễn Thúc Nên phụ trách. Cha Gioakim Nguyễn Thúc Nên đă tiến hành xây dựng ngôi nhà thờ Tân Điền thứ 2, thừa kế nét gỗ của nhà thờ cũ do cha Phêrô Dương Ngọc Đáng dựng trước kia, và bản vẽ do Gioakim Chế Nguyên Khoa để lại. Kết cấu khung sườn nhà thờ bằng gỗ, mái đóng rui, mè và lợp ngói vảy. Ngôi nhà thờ được làm theo kiểu h́nh thánh giá, có hai cánh hai bên. Công tŕnh chưa hoàn thành th́ cha Gioakim Nguyễn Thúc Nên được thuyên chuyền đi nơi khác.

+Cha Giuse Trần Trí Tuệ đến phụ trách giáo xứ từ năm 1969-1983. Vừa nhận nhiệm sở, cha cùng với giáo dân tiếp tục hoàn thiện ngôi nhà thờ đang c̣n dang dở. Cha Giuse cho đóng bàn thờ mới, chuộc một tượng Thánh Giuse đặt trên máng thượng trước tiền đường nhà thờ và đặt mua một chiếc chuông đồng từ Sài G̣n về để sử dụng cho đến ngày nay. Và cũng từ đó, lệ kéo chuông báo tử trong họ đạo được thực hiện và duy tŕ cho đến bây giờ. Ngôi nhà thờ đă được Đức Cha Phaolô Seitz (Kim) làm phép thánh hiến vào năm 1970. Ngoài ra, cha c̣n dựng một cây Thánh Giá bằng gỗ cà-chít rục (chết khô) cổ thụ, đường kính hơn 1m, cao khoảng 25 mét trong khuôn viên nhà thờ. Vào những ngày lễ lớn cha cho treo cờ Ṭa Thánh trên đỉnh, cả một vùng đều nh́n thấy rơ, trông rất uy nghi.

Những năm sau 1975 là những năm cực kỳ gian khó. Linh mục bị hạn chế đi lại. Mặc dù cha Giuse Trần Trí Tuệ t́m mọi cách để chăm sóc đoàn chiên Tân Điền, nhưng do hoàn cảnh, cộng đoàn tín hữu vẫn c̣n gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn. Nhiều “tông đồ giáo dân” đă không quản ngại khó khăn gian khổ cộng tác với chủ chăn trong công việc mục vụ giai đoạn này. Để ngôi nhà thờ được tồn tại, một số giáo dân nhiệt thành đă duy tŕ việc đọc kinh tối thường xuyên ở nhà thờ và luôn giữ vững nề nếp phụng vụ trong giáo xứ.

+Năm 1983, Cha Simon Phan Văn B́nh được bổ nhiệm chính xứ Phương Ḥa kiêm Tân Điền (1983-1997). Sau nhiều năm thiếu bóng linh mục v́ luôn bị chính quyền cản trở, ngôi Thánh Đường cũng đă xuống cấp trầm trọng. Cha Simon và quư chức việc phải đóng cọc lơi kè nền móng và giăng giữ các vách khỏi bị đổ sập. Sau khi vườn tiêu không thành, Cha Simon đă tái tạo lại khuôn viên nhà thờ bằng một màu xanh hoa viên.

+Giai đoạn 1997-2010, cha Giuse Đỗ Hiệu được bổ nhiệm về thay cha Simon Phan Văn B́nh. Cha sở Giuse Đỗ Hiệu đă quan tâm lo lắng cả về đời sống tinh thần lẫn cơ sở vật chất cho giáo xứ. Cầu nguyện và đời sống nội tâm được cha chú trọng đặc biệt. Vừa nhận nhiệm sở, cha đă băi bỏ ngay thói quen tổ chức ăn uống tốn kém nơi nhà tang vốn đă thành lệ trói buộc giáo hữu xưa nay. Cha tổ chức tĩnh tâm cho các giới, cổ vơ tôn kính Ḷng Chúa Thương Xót…Vào ngày 24/07/1998, cha đă tiến hành khởi công xây dựng ngôi nhà thờ mới (nhà thờ thứ 3 hiện nay). Sau 8 tháng thi công, ngày 19/03/1999, giáo xứ Tân Điền đă hân hoan đón chào ĐGM Giáo phận Phêrô Trần Thanh Chung cùng với 24 Linh mục về đồng tế thánh hiến ngôi nhà thờ mới. Cha Giuse cũng đă xây dựng Nhà xứ, 2 dăy nhà giáo lư và một nhà kho, khởi công ngày 12/01/2009, khánh thành ngày 08/11/2009.

Sau 13 năm tận tụy phục vụ giáo xứ, đến ngày 28/11/2010, cha Giuse Đỗ Hiệu được thuyên chuyển đến giáo xứ Tân Hương. Nguyện vọng của vị chủ chăn và cộng đoàn dân Chúa là một thời gian không xa, chuẩn giáo xứ Tân Điền sẽ được nâng lên thành giáo xứ thực thụ, có cha xứ và có tên giáo xứ trong sổ bạ của Giáo Phận.

+Cha Luy Nguyễn Quang Vinh được bổ nhiệm về địa sở Phương Ḥa, tiếp tục coi sóc giáo xứ Tân Điền (từ 28/11/2010 đến nay 2013).

Cha Luy đă kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức sẵn có của giáo xứ. Cha đă khéo léo kết hợp giữa giáo dục đạo đức và nâng cao tŕnh độ tri thức cho giáo dân. Mọi hoạt động đang trong chiều hướng phát triển tốt đẹp…

Cha Luy Nguyễn Quang Vinh

 

Đức Cha Micae - Thánh lễ ban phép Thêm Sức

 

 

VI. VÀI NÉT VỀ GIÁO XỨ TÂN ĐIỀN HIỆN NAY 2013

Ranh giới giáo xứ Tân Điền hiện nay gói gọn trong xă Đoàn Kết, thuộc Thành phố Kontum, có trục Tỉnh lộ 671 chạy qua xă Đoàn Kết và xă Ia Chim và các đường giao thông liên thôn, tiếp giáp với 01 phường và 05 xă: phía đông giáp phường Nguyễn Trăi (giáo xứ Phương Ḥa), phía nam giáp xă Ḥa B́nh (giáo xứ Trung Nghĩa), phía tây giáp xă Ia Chim và xă Đăk Năng (giáo xứ Plei Jơdrâp…), phía bắc giáp xă Ngọc Bay và Vinh Quang (bên này sông). Xă đoàn Kết là một xă thuần nông, người dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp chiếm tỷ lệ 98%, c̣n lại một số hộ buôn bán nhỏ lẻ, hàng năm số người từ địa phương khác đến tạm trú làm ăn theo thời vụ rất đông. Hiện nay giáo xứ Tân Điền có 5 Xóm giáo thuộc các thôn 5, 6 và 7 của xă Đoàn Kết và Xóm giáo Stêphanô thuộc Ia Chim:

-Xóm giáo Mân Côi (thôn 5)
-Xóm giáo La Vang (thôn 5)
-Xóm giáo Fatima (thôn 6)
-Xóm giáo Lộ Đức (thôn 7)
-Xóm giáo Stêphanô (Ia Chim)

Tổng số giáo dân khoảng 2.100 người.

Ngoài ra c̣n có làng dân tộc Plei H’nor (hướng gần Ia Chim) thời gian trước đây cũng về nhà thờ Tân Điền để được chăm sóc mục vụ.

Quí chức việc qua các thời kỳ có các vị như:

Ông câu Trần Tính (Câu Hai), thời kỳ đầu ;

Ông câu Phạm Nhơn (câu Thuận hay câu Đàn) làm việc rất lâu, măi đến thời cha Gioakim Nguyễn Thúc Nên ;

Các ông biện như biện Thiên, biện Bảo, biện Tuệ…

Hiện nay là các ông câu Nguyễn Chánh ; quư ông biện Ngô Đ́nh Quyền, Nguyễn Văn Nhanh, Phạm Trung Kỳ.v.v.

Năm 2013, Giáo xứ Tân Điền kỷ niệm 80 năm thành lập họ đạo (Ruộng Lào 1933-2013), 63 năm Chuẩn giáo xứ Tân Điền (1950-2013). Trải qua bao thăng trầm, cộng đoàn giáo xứ vẫn giữ vững đức tin, sống chứng tá Tin Mừng và làm triển nở hạt giống Lời Chúa trên mảnh đất thấm đượm mồ hôi nước mắt của bao thế hệ tín hữu. Nếu như thuở sơ khai chỉ với vài ba giáo dân đến khai khẩn lập cḥi nơi vùng đất Ruộng Lào xưa kia, trải qua 80 năm hành tŕnh đức tin can trường và sống động, giáo xứ Tân Điền ngày nay đă vượt qua con số 2000 tín hữu, xấp xỉ số tín hữu của giáo xứ Phương Ḥa kề cận. Đó thật sự là một hồng ân cao quí Chúa đă ban cho giáo xứ! Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cả Giuse, cộng đoàn giáo xứ tin tưởng Thiên Chúa sẽ ân ban một mùa gặt dồi dào trên “cánh đồng ruộng mới”-giáo xứ Tân Điền, ngay hôm nay và trong suốt hành tŕnh tương lai.

Phêrô Minh Sơn
Lễ Thánh Têrêxa HĐGS, 1.10.2013

CHÚ THÍCH:

[1]Cũng có khi viết là Hà-Gặt. Tuy nhiên theo những bản đồ điền thổ thời Pháp thuộc về vùng đất này c̣n lưu giữ tại các gia đ́nh ở Tân Điền, đều ghi là Hà-Ghẹt. Ngoài ra trong vùng Tân Điền-Ia Chim c̣n có các địa danh như Hà Dul, Hà Giay, Hà Măt, Ba Voi.v.v.

[2] Sự tích “Ruộng Lào” c̣n được gắn với truyền thuyết về một câu chuyện t́nh được nhiều thế hệ người dân nơi đây biết đến: Câu chuyện t́nh đẹp và buồn giữa nàng Brai con của tộc trưởng Lào và chàng trai J’Lưng dân tộc Bahnar sống ở thượng nguồn sông Dak Bla…Sau khi nàng Brai không thuyết phục được chàng J’Lưng, nàng quay trở về và từ đó bị ốm và chết trong sự buồn bă nhớ nhung…

(x. “Như lạc vào chốn xưa”, Tường Lam, www.kontum.gov.vn).

[3] x. Cha Ban và Cha Thiệt, Kể sự cha Nguyên lập làng Dak Kiă, “Mở Đạo Kontum”, Nhà in Qui Nhơn 1933 tr.189-190.

[4] x. Cha Ban và Cha Thiệt, sđd tr.234.

[5] x. Echos de la Mission, Địa phận Kontum, số tháng 2-3-4/1948, tr.5.

[6] Theo lời kể của các vị bô lăo tại Tân Điền 8/2013 (x. Vài nét về giáo xứ Tân Điền, Philip Phương, gx Tân Điền 2013).

[7] x. Echos de la Mission, Địa phận Kontum, số tháng 2-3-4/1948, tr.5.

[8] x. Echos de la Mission, Địa phận Kontum, số tháng 2-3-4/1948, tr.5.

[9] x. La Mission des Pays Mois en 1937.

[10] Làng Phụng Sơn do cha Simon Nguyễn Diện lập năm 1924 ở vùng gần Ia Ly, gốc cũng bởi người Tân Hương và Phương Ḥa. Tuy nhiên làng không phát triển, và một số đă quay lại gia nhập vào các làng khác.

[11] x. Echos năm 1949, tr.6.

[12] Tên gọi “Tân Cảnh” do Đức cha Phêrô Trần Thanh Chung đặt ra phiên âm theo tên làng dân tộc Dak Tơkan. Tuy nhiên về cư dân người Kinh ở Tân Cảnh thời kỳ đầu vẫn do ṇng cốt là dân Tân Hương đến lập nghiệp.

[13] Cha Antôn Nguyễn Đ́nh Nghĩa đang dạy học tại TCV Thừa sai Kontum đă đến giúp mục vụ từ cuối năm 1949 (x. Tiểu sử cha Antôn N.Đ. Nghĩa)

[14] Theo Giáo luật Điều 516, Triệt 1: “Trừ khi luật đă dự liệu cách khác, chuẩn giáo xứ được đồng hóa với giáo xứ ; chuẩn giáo xứ là một cộng đoàn Kitô hữu nhất định trong giáo hội địa phương được ủy thác cho một tư tế như là chủ chăn riêng của chuẩn giáo xứ ấy, nhưng v́ hoàn cảnh đặc biệt chưa được thiết lập thành giáo xứ.” (x. Bộ Giáo luật 1983, HĐGMVN, NXB Tôn Giáo, Hà Nội 2007).

[15] Xă Đoàn Kết trước đây có tất cả 7 thôn (từ 1 đến 7). Từ khi chia tách Phường Nguyễn Trăi, xă Đoàn kết chỉ c̣n lại các thôn 5, 6 và 7 (các thôn 1, 2, 3, 4 thuộc Phường Nguyễn Trăi).

[16] Làng Plei H’nor nguyên ngày xưa ở cạnh con suối H’nor, đầu làng Phương Ḥa (vị trí sân banh cũ). Làng H’nor ṭng giáo năm 1900 và trực thuộc TT Rơhai, đến năm 1921 thuộc địa sở Phương Ḥa (x. Echos tháng 2-3-4/1948, tr.5). Khoảng trước năm 1975, Plei H’nor đă di dời vào xă Đoàn Kết vị trí hiện nay (gần Ia Chim)

Tác giả bài viết: Phêrô Minh Sơn
Nguồn : Website Đức Mẹ Măng Đen

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Tân Điền

< chưa có >

Nguồn : Trang web Giáo Phận Kontum

Chi tiết - h́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]