Giáo Phận KonTum

Ṭa Giám Mục Giáo Phận KonTum


Địa chỉ : 146 Trần Hưng Đạo-Thành Phố Kontum - Tỉnh Kontum (Bản đồ)

Tel         : 84 (60) 38 62 372

 

E-mail    : tgmktum@gmail.com

 

Web site : http://giaophankontum.com

 
Năm thành lập : Diện tích    : 25,110 km2
Số Giáo dân    : 203,723  
Số Giáo hạt     : Số Giáo xứ : 68

Tư liệu :  Lược sử Giáo phận Kontum
                H́nh ảnh Giáo phận Kontum
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Kontum
                Danh sách Linh mục Giáo phận Kontum
                Số liệu thống kê GP Kontum 2012
                Giới thiệu Giáo Phận Kontum

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo phận Kontum: Kỷ niệm 75 năm thành lập CV Thừa sai và phong chức 10 tân Linh mục (3/12/2010)
* Văn thư của ṭa Giám Mục Kontum gửi giáo dân Giáo phận Kontum (11/11/2010)
* Văn thư của ṭa Giám Mục Kontum gửi Ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Gialai. (11/9/2010)
* Là thư đầu Xuân của Đức Giám Mục Kontum (12/2/2010)

 

Lược Sử

Giáo Phận Kontum

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

A. Lược Sử Giáo Phận Kontum

 

1. Miền Đất Tây Nguyên

Địa giới giáo phận Kontum hiện nay nằm gọn trong hai tỉnh Kontum và Gia Lai với diện tích 25,728 km2, thuộc vùng Bắc Tây Nguyên.

Miền Bắc Tây Nguyên chạy dọc 2 bên sườn phần phía Nam của dăy Trường Sơn, dài khoảng 450km, rộng khoảng 140km. Bắc giáp với tỉnh Quảng Nam - Đàng Nẵng. Nam giáp Nam Bộ. Đông giáp các tỉnh duyên hải miền Trung. Tây giáp Lào - Cambodia. Triền phía Tây Trường Sơn thoai thoải; triền phía Đông hơi thẳng đứng. Chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dăy Trường Sơn có nhiều nếp h́nh thành phức tạp. Nhấp nhô trùng điệp các rặng núi với các ngọn cao như Ngọc Niay cao 2,259m (Huyện ĐăkGlei), Nang Brai cao 1,780m (Huyện Sa Thầy), Lang Biang cao 2,163m (Thành Phố Đà Lạt), Hàm Rồng cao 1,028m (ở thành phố Pleiku) hay Phượng Hoàng (Huyện Đức Cơ) nơi đây, năm 1958, có đặt một tượng Đức Mẹ cao 3m. Cao nhất là đỉnh Ngọc Linh - được mệnh danh là nóc nhà Tây Nguyên - cao 2,598m (Huyện ĐăkGlei), nơi bắt nguồn của nhiều ḍng sông, lạch, suối.

Miền Kontum có sông Pôkô chảy từ Bắc Kontum (ĐăkGlei) xuống phía Nam nhập với sông Sêsan đổ qua Mekong. Từ Đông Bắc đổ vào ḍng Pôkô này c̣n có sông Đak-Tơkan chảy qua Đăktô, sông ĐăkPsi chảy qua Diên B́nh và sông ĐăkPla bọc qua thị xă Kontum.

Miền Pleiku có sông Ayun và sông Ba, bắt nguồn từ hướng K'Bang chảy xuôi gặp nhau tại thị trấn Ayun Pa (Cheo Reo), rồi đổ vào sông Đà Rằng chảy ra Thái B́nh Dương.

Cũng có những hồ lớn: như Biển Hồ, c̣n gọi là hồ Ia Nueng rộng 230ha (Thành Phố Pleiku), hồ Ia Băng (Huyện Mang Yang), hồ Yok Dania, hồ Lắc (Đăklăk).

Có các thác nổi tiếng như thác Ialy, cao 60m (Huyện Sa Thầy và Huyện Chư Păk), nơi đang xây dựng công tŕnh thủy điện lớn thứ 3 trong cả nước; thác Lệ Kim cao hơn 30m (Huyện Ia Grai), thác Đăk Trôi (Huyện Mang Yang), thác Suối Đá (Huyện Ayun Pa), thác Đăk Xơ Nge (Huyện Kon Plông), thác Maray (Huyện Sa Thầy).

Vùng Bắc Tây Nguyên chủ yếu là núi và đồi, đồng bằng chỉ là những dải đất nhỏ bé trải dọc theo mấy sông chính như sông Pôkô, sông ĐăkBla, sông Ayun và sông Ba. Cánh đồng ven sông ĐăkBla ở Kontum chính là miền Đất Hứa mà Đức cha Cuénot Thể đă từng mong ước đoàn truyền giáo sớm t́m gặp và đây là cái nôi truyền giáo Tây Nguyên kể từ năm 1848.

Miền Tây Nguyên nằm gọn trên các cao nguyên Xơ Đăng, Kontum - Pleiku, Đăklăk và Lang Biang. Có người gọi là cao nguyên Nam Trung Bộ. Đất được cấu tạo với khối đá phún xuất, hao cương và bazan. Chủ yếu là vùng bazan đất đỏ rất thích hợp với các loại cây công nghiệp như chè, cà phê, tiêu, cao su. Khí hậu tương đối dễ chịu, phân thành 2 mùa mưa nắng rơ rệt, nhiệt độ trung b́nh 230C.

 

2. Con Người Tây Nguyên

Các bộ tộc bản địa Tây Nguyên chủ yếu là Ba Nơ, Xơ Đăng, Gia Rai, Ê Đê, Gié-Triêng, M'nông, Cơ Ho, Brâu, Rơ Măm... Vao đầu thế kỷ XIX, bắt đầu có ít người Kinh từ miền xuôi lên buôn bán dọc biên giới, tiếp sau là số người thuộc các phái đoàn truyền giáo, tiếp đến số người lên lập nghiệp, khi miền xuôi bắt đạo gắt gao. Măi về sau các nhà chính trị, các nhà quân sự người Pháp mới bắt đầu quan tâm tới vùng đất này, kể từ đó con số người Kinh lên lập nghiệp lại càng đông.

Những năm 1925-1930, người Pháp đă chiêu mộ tới 75,000 người Kinh lên lập các đồn điền cao su, chè. Năm 1954, sau hiệp định Genève 20-7-1954, có tới 64,000 người, đa số là đồng bào Công giáo từ miền Bắc di cư vào lập nghiệp ở tỉnh Đăklăk và Pleiku (Gia Lai ngày nay). Tới năm 1957-1958, thêm 30,000 người thuộc 3 tỉnh miền duyên hải Quảng Nam, Quảng Ngăi và B́nh Định lên xây dựng các khu dinh điền rải rác khắp 4 tỉnh Kontum, Pleiku, Đăklăk và Phước Long.

Sau 1975, nhiều gia đ́nh từ miền Trung hay miền Bắc lên xây dựng các vùng kinh tế mới cũng như lập nên các nông trường và các trang trại, trong số đó có đồng bào thuộc nhiều sắc tộc thiểu số từ miền Bắc vào lập nghiệp. Nguyên tại địa bàn Thành phố Pleiku đă có tới 28 sắc tộc như Thái, Nùng, Mường...

Tây Nguyên đă thay da đổi thịt cách nhanh chóng kể từ ngày số người Kinh lên lập nghiệp. Nhiều con đường đă được h́nh thành nối Đông với Tây, tức thành phố Quy Nhơn với cửa khẩu Đức Cơ chạy qua hai đèo An Khê và Mang Yang (Cổng Trời), thành phố Pleiku, có quốc lộ 19. Chạy từ phía Bắc (Thành phố Đà Nẵng) xuống phía Nam (quốc lộ 13, tỉnh B́nh Phước) có quốc lộ 14 chạy qua Kontum - Pleiku - Buôn Ma Thuột. Quốc lộ 24 nối Kontum với Quảng Ngăi. Quốc lộ 25 nối Pleiku - Phú Bổn - Tuy Ḥa (Phú Yên). Quốc lộ 26 nối Buôn Ma Thuột với Nha Trang. Quốc lộ 27 nối Buôn Ma Thuột với Đà Lạt. Quốc lộ 28 nối Gia Nghĩa (Tỉnh Đăklăk) với Di Linh (Tỉnh Lâm Đồng) và Phan Thiết. Hy vọng rằng hệ thống đường ngang dọc này sẽ giúp Tây Nguyên phát triển mạnh trong những năm tháng tới, nhờ đó các thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên như rừng, mỏ quặng vẫn c̣n bị chôn giấu dưới ḷng đất đỏ bazan cũng sẽ được khai thác nhằm nâng cao đời sống người dân.

Năm 1997, dân số trên địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Kontum, cũng đă có tới hơn 1,181,682 người với 50.68% là dân tộc thiểu số.

 

3. Đường Truyền Giáo Tây Nguyên

Ngay từ năm 1765, Đức cha Guillaume Piguel (1704-1771) đă gửi thừa sai lên truyền giáo miền Kontum, nhưng không thành công.

Năm 1775, Đức cha Pigneau de Béhaine (1771-1799) gửi một đoàn truyền giáo do cha Faulet hướng dẫn tiến vào vùng Tây Nguyên thuộc sắc tộc Xtiêng, người Cuy (?) sống dọc theo sông Chlong, các ngài gặp 2 gia đ́nh Công Giáo đă tới sinh sống tại đây từ trước. Sau khi mua một mảnh đất, các ngài cho dựng một căn nhà vừa làm nơi tạm trú vừa làm nhà nguyện. V́ ngă bệnh, các ngài phải trở về Prambey-Chlom, sau b́nh phục mới trở lại và rồi lại ngă bệnh một lần nữa. Công việc truyền giáo đành phải bỏ ngang vào mùa xuân 1776.

Nhưng có lẽ công cuộc truyền giáo Tây Nguyên đă thật sự sôi động và đạt thành quả vững chắc lại chính là vào thời kỳ Đức cha Etienne Théodore Cuénot Thể, giám mục đại diện tông ṭa Đông Đàng Trong. Chính ngài đă mở đường truyền giáo vùng phía Tây, tức vùng Tây Nguyên ngày nay. Lịch sử truyền giáo vùng này có thể chia thành 3 giai đoạn:

- Giai đoạn 1: khai sáng.

- Giai đoạn 2: phát triển.

- Giai đoạn 3: trưởng thành.

 

B. Lịch Sử Truyền Giáo vùng Tây Nguyên

 

1) Giai đoạn 1: Giai đoạn khai sáng miền truyền giáo Kontum (1848-1932)

T́nh h́nh Việt Nam đă có nhiều thay đổi từ sau khi Đức cha Pigneau de Béhaine (+ 9-10-1779) và vua Gia Long qua đời (3-2-1820). Kể từ năm 1825, nhiều sắc lệnh cấm đạo đă được ban hành. Công việc truyền giáo cho đồng bào các sắc tộc từ hướng Tây Đàng Trong hầu như bị chậm lại, th́ từ hướng B́nh Định, Phú Yên lại có phần sôi động hơn. Mặc dù phải chăm sóc đoàn chiên rải rác trên một lănh thổ rộng lớn, chạy dài từ sông Gianh phân chia hai miền Bắc Nam tới mũi Cà Mau và biên giới Thái Lan, Đức cha Cuénot Thể vẫn không quên những anh chị em thuộc nhiều sắc tộc khác trên vùng cao. Đây luôn là ưu tiên trong các chương tŕnh hoạt động của ngài.

Vừa lên kế vị Đức cha J.L. Taberd năm 1841, Đức cha Cuénot Thể đă triệu tập Công đồng G̣ Thị để ổn định đời sống giáo phận sau nhiều năm cấm cách, đặc biệt, đưa ra hướng mục vụ cảm thông tha thứ và tạo điều kiện cho những anh chị em v́ yếu đuối đă sa ngă trong thời cấm đạo. Nhưng chủ yếu vẫn là đào tạo hàng ngũ linh mục bản xứ để đẩy mạnh công việc truyền giáo.

Năm 1839, ngài đă cử hai phái đoàn truyền giáo: một do ông Cả Ninh dẫn đầu khởi hành từ Cam Lộ, Quảng Trị và một do ông Cả Quới lên đường từ Phú Yên. Cả hai đoàn đều thất bại.

Qua năm 1842, phái đoàn ông Cả Quới gồm Cố Duclos và Cố Miche, 11 thầy giảng và 3 giáo dân lại lên đường. Nhưng ai ngờ chỉ mới đi sâu vào vùng dân tộc, ngày 16-2-1842 tất cả đă bị bắt giải về Huế.

Năm 1846, Đức cha Cuénot Thể gửi 2 cha người Việt là cha Vận và cha Ḥa lên mở vùng Buôn Đôn thuộc Đăklăk. Tiếp sau là cha Fontaine Phẩm được chuyển từ Plei Chư xuống. Năm 1856, tất cả phải rút về Kontum.

Với một ư chí sắt đá, Đức cha Cuénot không chùn bước, ngài hoàn toàn tin tưởng và phó thác nơi Chúa Thánh Thần. Năm 1848, một năm có tính quyết định đă đến.

Vị mục tử này hướng tới thầy Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, c̣n gọi là An, một chủng sinh vừa tốt nghiệp Đại chủng viện Pinang về nước. Ngài thấy nơi con người thông minh, quả cảm và khiêm tốn này có khả năng mở đường tiến sâu vào thế giới các sắc dân miền núi phía Tây.

 

a. Thầy Sáu Do mở đường (1848-1850)

Thầy Do đă khéo léo đóng vai một ngưới đầy tớ trung thành và cần mẫn gánh hàng cho một nhà buôn người Kinh. Sáu tháng đi từ làng này tới làng khác, thầy đă tiếp cận với dân Ba Na, nói được tiếng nói của họ, biết phần nào phong tục tập quán cùng thu thập được ít điều về địa h́nh địa vật của vùng cao. Thầy mau mắn về G̣ Thị tường thuật lại cho vị chủ chăn ngày đêm ngóng chờ tin vui.

Được tin vui, Đức cha cử ngay một đoàn thừa sai lên đường và cắt cử thầy Do làm trưởng đoàn, Một đoàn buôn chính hiệu, có 4 chủng sinh cùng đi. Chính "cái chính hiệu với đồ hàng cồng kềnh của nhà buôn" này đă làm lóa mắt những kẻ tham chặn đường cướp hết. Các vị thừa sai đành phải bỏ chạy lấy người.

Qua năm 1849, lại một đoàn truyền giáo khác lên đường. Đoàn gồm có cha J.P. Combes Bê, 4 thầy giảng và một số chủng sinh. Đi từ G̣ Thị, lên Bến, tới trạm G̣, đoàn gặp phải một đàn voi rượt đuổi. Tất cả bỏ chạy tán loạn, thoát được cơn giận của voi, về tới B́nh Định, phái đoàn chạm phải cơn "thánh nộ" của Đức cha Cuénot. Được nghỉ 15 ngày, phái đoàn lại lên đường, lúc đó là đầu năm 1850.

Lên đường lần này có thêm cha Fontaine Hoàn (sau gọi là Bok Phẩm) với 7 thầy. Đến Trạm G̣, tiến vào làng Baham, đi qua làng Kon Bơlu, phái đoàn tiến sâu vào làng Kon Phar. Đức cha đă ân cần dặn ḍ nhiều lần "nhớ" phải tránh đường ṃn của các lái buôn người Kinh, phải tránh tù trưởng Bok Kiơm kiêm chức vị "quan triều đ́nh Huế" có nhiệm vụ chặn đường xâm nhập của các thừa sai.

Ngày núp, đêm đi, vạch rừng, lội suối, leo đèo, với đủ thứ đe dọa của rừng thiêng nước độc, của khí hậu, của thú dữ. Lệnh "không được trở lại" vẫn văng vẳng bên tai. Nhưng "Đất động! Trời sập! Đoàn gặp đúng Bok Kiơm! Biết làm sao bây giờ? Hồn xiêu, phách lạc, hết đường "chạy trốn", cả đoàn như chết đứng giữa trời! Chính lúc đang đứng đơ như những tượng gỗ, th́ "con người hung dữ kia lại lên tiếng trước: "Sao? Quư vị là ai? Cứ nói thật đi, tôi sẽ giúp cho!"

Thế là lại thêm một bất ngờ nữa! Thay v́ đi hạch họe, bắt nộp cho triều đ́nh, Bok Kiơm lại tỏ ra thân thiện ngay. Có lẽ cũng chính cái vẻ mất hồn khiếp vía trên các khuôn mặt những con người không có một tham vọng nào khác ngoài t́nh thương mà liều ḿnh đi đến với những anh chị em miền đất xa lạ, nên con người "đáng khiếp" kia bỗng trở thành "con người dễ thưong". Ông đă trở thành một Cyrus miền truyền giáo Tây Nguyên! Phái đoàn tiếp tục đi vào làng Kon Kơlang.

Ngày 11-11-1850, thầy Thám, em thầy Do, dẫn một nhóm truyền giáo khác lên Kontum. Cùng đi có cha P. Dourisboures Ân (25 tuổi), cha B. Desgouts Đề (45 tuổi). Họ đi theo lộ tŕnh G̣ Thị - Bến - trạm G̣ - Bơham - Bơlu - Kon Phar để tới Kon Kơlang. Tại đây, anh em gặp nhau mừng vui khôn xiết. Tất cả bắt tay dựng căn nhà 2 gian: một gian để ở, một gian làm nhà nguyện. Công việc truyền giáo Tây Nguyên bắt đầu một trang sử mới với nhiều hứa hẹn, nhưng cũng đầy khó khăn!

 

b. Phân định và thành lập các trung tâm Miền Truyền Giáo (1851)

Sau một thời gian ḍ dẫm, t́m hiểu với sự giúp đỡ chân t́nh của Bok Kiơm, các vị thừa sai đă tới được miền Đất Hứa năm 1850, chính là cánh đồng Đăk Bla như Đức giám mục hằng chờ mong. Năm sau, ngài quyết định thiết lập ngay 4 trung tâm truyền giáo và đặt cha Combes Bê làm bề trên miền.

- Trung tâm Plei Rơhai: do cha Bernard Desgouts và thầy Sáu Do phụ trách lo truyền giáo cho bộ tộc Ba Na. Địa điểm nằm ngay địa sở Tân Hương ngày nay. Sau ít tháng, thầy Sáu Do được gọi về G̣ Thị chuẩn bị lănh tác vụ linh mục. Năm 1853, cha Do trở lại trung tâm và tiến hành xây dựng nhà thờ Plei Rơhai. Cha phát động mô h́nh nông trang trên miền đất này để cải thiện cuộc sống của đồng bào dân tộc và để tự túc lương thực pḥng đường tiếp tế từ vùng xuôi khi bị cắt đứt! Đức cha c̣n chỉ thị cho cha Desgouts mở ngay Chủng viện thừa sai Miền Kontum trong khi miền xuôi đang bị cấm cách gắt gao. Nhưng v́ khí hậu khắc nghiệt, chủng viện đă không trụ lâu được.

- Trung tâm Kon Trang: Nằm phía Bắc Kontum, được trao cho cha P. Dourisboures Ân phụ trách để truyền giáo cho bộ tộc Xơ Đăng. Cha hăng say học tiếng và La Tinh hóa chữ viết Xơ Đăng làm phương tiện tiếp xúc và truyền giáo. Một năm sau, Đức cha đă tăng cường cho trung tâm một vị thừa sai mới, cha Arnoux A. Ngày 1-1-1852, Cha Dourisboures Ân đă ban phép Thanh Tẩy cho một em bé sơ sinh. Đây là hoa trái đầu mùa. Vào ngày 16-10-1853, hai thiếu niên Giuse Ngui, 12 tuổi (+ 1857) và Gioan Pat, 9 tuổi, được lănh nhận phép Thanh Tẩy.

- Trung tâm Plei Chư: Nằm phía Tây Kontum. Cha Fontaine Hoàn (Bok Phẩm) phụ trách trung tâm lo loan báo Tin Mừng cho bộ tộc Gia Rai. Năm 1854, Đức cha thuyên chuyển cha xuống Pơnong (M'nông) - Trung tâm Buôn Đôn - ở Đăklăk - làm việc với cha Ḥa và cha Vận. Nhưng chẳng được bao lâu cha cũng phải rút về lại Kontum.

- Trung tâm Kon Kơxâm: được trao cho cha Bề trên đầu tiên Miền Truyền Giáo, cha J.P. Combes. Nằm về phía Đông Kontum, trung tâm có nhiệm vụ giảng đạo cho anh chị em Ba Nơ, Jơ Lơng. Cha chọn Đức Bà Cứu Chữa làm bổn mạng trung tâm, cha cũng bắt tay ngay vào công việc La Tinh hóa chữ viết. Năm sau, cha soạn xong cuốn Giáo Lư và Sách Kinh bằng tiếng Ba Na. Qua năm 1853, cả làng Kon Kơxâm ṭng giáo và ngày 28-12-1853, cha đă ban phép Thanh Tẩy cho ông Giuse H'Mur. Đây là người tín hữu Ba Na đầu tiên. Nhưng cha đă qua đời 5 năm sau (1857), khi mới 32 tuổi. Trách nhiệm bề trên chuyển qua vai cha P. Dourisboures.

 

c. Máu Đức cha Cuénot thể đă đổ. Giáo đoàn Tây Nguyên nở rộ

Đức cha Cuénot Thể đảm nhận giáo phận rộng lớn Đàng Trong đúng vào thời điểm cấm đạo gắt gao nhất. Các phương thức cấm cách thật tinh vi, nhắm tiêu diệt từng đối tượng theo từng giai đoạn khác nhau. Ngài điều khiển giáo phận từ hầm trú ở G̣ Thị, ngài làm việc ngày đêm để nắm vững t́nh h́nh giáo phận, nhưng không thể xuất hiện công khai hoặc đi lại tự do. Dù số nhân sự ít ỏi, ngài vẫn dành cho miền truyền giáo này nhiều vị thừa sai. Ngài cũng không ngừng cổ vũ và vun trồng ơn gọi linh mục bản xứ.

Để đẩy mạnh công cuộc truyền giáo, ngài đă xin Ṭa Thánh chia nhỏ địa phận.

- Đợt 1: Năm 1844, chia địa phận Đàng Trong thành Đông Đàng Trong và Tây Đàng Trong.

- Đợt 2: Năm 1850, chia địa phận Đông Đàng Trong thành Bắc Đàng Trong và Đông Đàng Trong; chia Tây Đàng Trong thành Tây Đàng Trong và Nam Vang. Kontum vẫn thuộc Đông Đàng Trong, tức giáo phận Quy Nhơn sau này.

Trong khi miền xuôi c̣n bị cấm cách, th́ trên cao nguyên các làng dân tộc "đua nhau" trở lại. Khởi đầu là làng Kon Klor (1886), tới Kon Hngo Kơtu (1887). Chỉ trong 21 năm, đă có tới 94 làng trở lại. Có năm tới 12 làng (1893), 14 làng (năm 1895) hoặc như năm 1897, ngoài 14 làng Ba Na, Xơ Đăng xin theo đạo, c̣n có cả một số làng bộ tộc Ê Đê cũng xin ṭng giáo. Kết quả thật tốt đẹp. Sức người theo không kịp. Trước một t́nh h́nh sôi động như thế, các vị chủ chăn đă đẩy mạnh việc đào tạo nhân sự bản xứ. Đây là giai đoạn h́nh thành trường đào tạo Yao Phu và h́nh thức Nhà Chung sau này. Đúng như Ṭa Thánh đă tiên liệu và chỉ đạo: "phải ưu tiên làm sao cho sớm có người bản xứ truyền đạo và phục vụ người bản xứ!".

Ư thức tầm quan trọng của chỉ thị trên, cha J.L. Bonnard Hương quy tụ một số thanh niên dân tộc nhằm đào tạo họ thành các giáo lư viên cho các họ đạo. Công việc và chương tŕnh này chỉ thật sự được tổ chức và đẩy mạnh nhờ sự được tổ chức và đầy mạnh nhờ quyết tâm cao của cha Martial Jannin Phước. Năm 1905, ngài xúc tiến xây dựng trường đào tạo các Yao Phu và khánh thành ngày 7-1-1908. Cha M. Jannin Phước là vị giám đốc đầu tiên. Chính ngài đă dám nghĩ dám thực hiện mẫu người Yao Phu. Ngài là linh hồn của công tŕnh trọng điểm này. Năm 1911, tạp chí Hlabar Tơbang đă được phát hành để hỗ trợ cho công việc đào tạo.

Từ trường này, nhiều thanh niên dân tộc đă chọn đời sống tu tŕ. Cụ thể, ngày 29-6-1932, ba thanh niên Ba Na đầu tiên đă lănh nhận tác vụ linh mục: đó là các cha Micae Hiêu (1900-1949), cha Giuse Châu (1900-1955), cha Antôn Đen (1903-1987). Một trong 3 vị đă có một chỗ đứng đặc biệt trong lịch sử giáo phận Kontum: cha Antôn Đen, một nhà trí thức, một học giả Ba Na. Ngài đă dành suốt một đời dịch Thánh Kinh, dịch sách phụng vụ, viết hạnh các thánh và phụ trách tờ Hlabar Tơbang. Ngài âm thầm, chăm chỉ làm việc cho tới giờ phút cuối đời. Một kho tàng hiếm có của giáo phận! Giáo phận biết ơn ngài, biết ơn các bậc cha anh đă đào tạo được một người làm việc trí óc không biết mệt mỏi như thế!

 

2) Giai đoạn 2: Giai đoạn phát triển giáo phận tông ṭa Kontum (1932-1960)

 

a. Một chặng đường mới (1932-1945)

Sau nhiều cố gắng xây dựng, ngày 18-1-1932, Ṭa Thánh đă công bố Nghị định thư thiết lập giáo phận đại diện tông ṭa Kontum tách từ giáo phận Mẹ Quy Nhơn: gồm các tỉnh Kontum, Pleiku, Đăklăk và Attâpư (hạ Lào). Và ngày 23-1-1932, cha bề trên Martial Jannin Phước được bổ nhiệm làm giám mục tiên khởi quản nhiệm giáo phận, hiệu ṭa Gadara. Trường Cuénot tạm dùng làm ṭa giám mục. Chính Đức cha C. Dreyer, Khâm sứ Ṭa Thánh tại Đông Dương, đă từ Huế vào tấn phong cho vị giám mục mới ngay tại nhà thờ chính ṭa Kontum ngày 23-6-1932.

Công việc đầu tiên và ưu tiên của vị tân giám mục là cho xây chủng viện Thừa Sai Kontum (1935-1938). Nhà hoàn toàn bằng gỗ cà chích, dài 100m, vách trần bằng rơm và bùn đất, mái lợp ngói. Là một kiệt tác! Chính Đức giám mục thiết kế và trông coi tới hoàn thành. Ngài c̣n cho thực hiện nhà in, hệ thống dẫn thủy nhập điền, hệ thống thủy điện. Gặp buổi khó khăn, ngài cũng tự chế một chiếc ôtô với bánh xa bằng gỗ để di chuyển. Giáo phận có cả một xưởng lao động để giải quyết công việc trong giáo phận và đào tạo các tay nghề. Công việc truyền giáo vẫn tiến triển mạnh mẽ, các địa sở ngày càng phát triển.

Ngoài tờ Hlabar Tơbang cho Yao Phu, giáo phận c̣n có các tạp chí Chức Dịch Thơ Tín (1933) cho Hội Chức việc Á Thánh Năm Thuông Giáo phận Kontum, Tạp chí Les Echos (1941) - sau đổi thành Tờ báo Dư Âm, năm 1968 đổi thành tờ Tiếng Vang, một tạp chí dành riêng cho các linh mục trong giáo phận. Trước đây vị khai sáng Miền Truyền Giáo Tây Nguyên, Đức cha Rtienne Cuénot Thể đă điều khiển giáo phận mênh mông từ hầm trú bằng thư từ suốt 26 năm trời, th́ nay vị giám mục của Kontum cũng dùng h́nh thức tạp chí để huấn luyện và nuôi dưỡng nhân sự trong giáo phận.

Ngày 22-4-1942, Linh mục Jean Sion Khâm đă được tấn phong giám mục kế vị Đức cha M. Jannin Phước đă qua đời năm 1940 hưởng thọ 73 tuổi (1867-1940). Ngài đă chuyển ṭa giám mục từ trường Cuénot về Chủng viện Thừa Sai. Phần đất Attâpư được tách và sát nhập về Giáo Hội Lào.

Chiến tranh thế giới II (1939-1945) cũng đă cản trở công cuộc truyền giáo Tây Nguyên phần nào. Khi thế chiến chấm dứt, th́ lịch sử giáo phận cũng sang trang mới.

 

b. Gian nan và vinh quang (1945-1960)

Ư thức rằng giáo phận đang phải trải qua một giai đoạn hết sức tế nhị và khó khăn, nên ngày 5-12-1943, Đức giám mục giáo phận đă dâng hiến toàn thể giáo phận cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Trinh Nữ Maria. Nghi thức dâng hiến diễn ra trọng thể tại nhà thờ chính ṭa.

Thế chiến vừa chấm dứt, cuộc nội chiến lại xảy ra. Một giáo phận miền núi càng gặp khó khăn trăm chiều. Đức cha Jean Sion Khâm vẫn cố chèo chống.

Quân đội Nhật đă tập trung các vị thừa sai về Nha Trang. Sau một thời gian, tất cả đă được trả tự do và trở lại địa sở (7-1946). Trước t́nh h́nh mới của xă hội. Ngài xúc tiến việc thiếp lập Trường Lư Đoán (Đại Chủng Viện) riêng cho giáo phận Kontum, v́ t́nh h́nh lúc bấy giờ không thể gửi các chủng sinh vào Saig̣n hay ra Hà Nội. Ngày 16-6-1944, ngài ban hành Facultates Majoris Seminarii Kontumensis. Năm 1946, ngài kư ban hành Statuta Ordinarii pro Anlumnis Majoris Kontum. Trường Lư Đoán đă bắt đầu hoạt động với con số khiêm tốn khoảng 10 chủng sinh. Chính Đức cha làm giám đốc, cha Crétin làm giáo sư, cha Thomann làm quản lư.

Song song việc đào tạo linh mục, ngài xin phép Ṭa Thánh cho thiết lập hội ḍng Ảnh Phép Lạ, một hội ḍng nữ người dân tộc. Lúc đầu không được Ṭa Thánh chấp thuận, v́ trong Giáo Hội đă có nhiều hội ḍng rồi. Đức cha không bỏ cuộc, ngài tha thiết tŕnh bày với lư lẽ vững chắc; muốn có những linh mục, tu sĩ bản địa lo cho người bản địa, th́ cũng cần có những bà mẹ Công giáo bản địa được chuẩn bị đàng hoàng như vậy, v́ thế việc thiết lập một hội ḍng đào tạo các thiếu nữ dân tộc thật là chính đáng và thiết thực. Sau đó Thánh Bộ đă chấp thuận. Hội ḍng đă được chính thức thành lập ngày 6-4-1947. Qua ḍng lịch sử, cũng như hội Yao Phu, hội ḍng Ảnh Phép Lạ đă giữ một vai tṛ độc đáo và quan trọng trong giáo phận.

Ngày 19-8-1951, Đức cha Jean Sion Khâm qua đời tại Montbeton (Pháp), cha Paul Seitz Kim lúc bấy giờ đang coi Cô Nhi Viện Kitô Vua ở Thái Hà Ấp, Hà Nội, được bổ nhiệm kế vị. Lễ tấn phong đă diễn ra tại nhà thờ lớn Hà Nội ngày 3-10-1952. Dưới sự d́u dắt của vị tân giám mục, giáo phận Kontum đă có những bước tiến vượt bậc. Là con người đầy nhiệt huyết, với tuổi đời 46, ngài đă hăng say bắt tay củng cố giáo phận sau nhiều năm chiến tranh.

Nhờ số giáo dân Kinh tăng vọt qua các đợt di cư từ miền Bắc hoặc lên Dinh Điền từ miền Trung, nhiều xứ họ sầm uất đă mọc lên khắp miền Cao Nguyên. Sinh hoạt của giáo phận sống động hơn nhiều. Nhiều xứ họ mới đă h́nh thành dọc theo các tuyến quốc lộ 19, 14 cũng như các tỉnh lộ mới mở. Số linh mục cũng đông đảo hơn, có lúc đă lên tới cả 100. Nhiều anh chị em tại các dinh điền đă hăng say gia nhập Giáo Hội. Ơn gọi chủng sinh và tu sĩ cũng dồi dào, đặc biệt từ các xứ đạo di cư miền Buôn Ma Thuột. Công cuộc truyền giáo mang một sức sống mới.

Đây cũng là giai đoạn truyền giáo cho người Gia Rai được tiếp nối với sự xuất hiện của cha Jacques Dournes, một nhà nhân chủng học, một vị thừa sai lỗi lạc. Ngài đă từ phía dân tộc Cơ Ho, Lâm Đồng, đi xuyên qua lănh thổ bộ tộc Ê Đê vào vương quốc bộ tộc Gia Rai. Ngài dừng chân ở Cheo Reo, Phú Bổn ngày 1-8-1955.

Ngay từ năm 1850, Đức cha Cuénot Thể và các vị thừa sai đă nghĩ tới việc truyền giáo cho bộ tộc Gia Rai. Cha Fontaine Khâm đă được phân nhiệm lo công tác này. Trung tâm Plei Chư đă được thiết lập riêng cho công việc này. Nhưng kết quả không được dồi dào như nơi các bộ tộc Xơ Đăng hay Ba Na. Các địa sở Gia Rai Hạ Bầu (huyện ĐăkĐoă), Plei Ngol Khop (huyện Đức Cơ) hoặc Plei Kơbey (huyện Sa Thầy) là những thành quả khiêm tốn của thuở ban đầu.

 

3) Giai đoạn 3: Giai đoạn trưởng thành giáo phận chínht ̣a Kontum (1960 -)

 

a. Tiến bước dưới ánh sáng Công đồng Chung Vatican II (1960-1975)

Ngày 24-11-1960, Ṭa Thánh đă ban hành Tông hiến Venerabilium Nostrorum thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Giáo phận đại diện tông ṭa Kontum trở thành giáo phận Chính ṭa. Giáo phận vào thời điểm này có 73,966 giáo dân, 271 họ đạo và 66 linh mục.

Ngày 10-11-1962, Đức Thánh Cha Gioan XXIII long trọng khai mạc Công đồng Vatican II. Làn gió Chúa Thánh Thần đă thổi tung mọi cánh cửa tâm hồn và ban sức mạnh cho các người thợ trong cánh đồng truyền giáo Tây Nguyên. Nhiều hội ḍng đă t́nh nguyện lên truyền giáo miền Tây Nguyên. Tiên phong là ḍng Thánh Phaolô thành Chartres thuộc tỉnh ḍng Saig̣n, ḍng Mến Thánh Giá Kontum, sau đổi thành Ḍng Nữ Vương Ḥa B́nh và chuyển xuống Buôn Ma Thuột chuẩn bị thiết lập giáo phận mới.

Việc cử hành phụng vụ bằng tiếng bản xứ đă có một tác động mạnh mẽ. Sinh hoạt trong các xứ họ đă sôi nổi hẳn: ngày càng có nhiều người tin theo đạo. Bộ mặt Tây Nguyên cũng đổi mới. Các thị tứ đă mọc lên nhanh chóng. Đời sống kinh tế phát triển mạnh, mặc dù chiến tranh vẫn đang tiếp diễn. Từ năm 1965, nhiều đồng bào từ các dinh điền ở xa đă chạy về thành thị, đặc biệt là thị xă Pleiku. Số đồng bào này quy tụ lại thành những họ đạo mới như Hoa Lư, Hiếu Nghĩa, Hiếu Đức, Hiếu Lễ, Phaolô, Trà Bá II.

Năm 1969, các linh mục và các tu sĩ ḍng Chúa Cứu Thế Việt Nam, do cha Antôn Vương Đ́nh Tài dẫn đầu, đă lên tiếp nối công tŕnh của cha J. Dournes. Chiều ngày 10-10-1969, Đức cha P. Léo Seitz Kim đích thân lái xe Land Rover đưa cha Antôn Tài, thầy Giuse Tín, thầy Phêrô Mầu và tu sĩ Lêônarđô xuống Pleikly. Đứng ngay bên đường nh́n về phía làng, ngài đọc một đoạn Thánh Kinh, giơ tay cầu nguyện và chúc lành cho công việc truyền giáo của 4 vị thừa sai Việt Nam rồi trở về. Các thừa sai mới nhận được bài học hoàn toàn phó thác để cho Thần Khí Chúa hướng dẫn. Bắt đầu trọ trẹ vài tiếng Gia Rai vào làng xin trú đêm! Bị từ chối, v́ gặp ngày kiêng kỵ của làng, các vị gặp cảnh bơ vơ. Sau đó, các vị mượn được một "gian nhà bỏ hoang" làm nơi tạm trú. Công việc bắt đầu như thế trong khi chiến tranh mỗi ngày mỗi thêm ác liệt! Bao khó khăn thử thách dồn tới! Cơ sở mới gầy dựng bước đầu bị đốt cháy, các ngài phải "rời" khỏi Pleikly, rút về thị xă Pleiku lập trung tâm Maranatha gần Pleiku Roh, sau chuyển xuống Pleichuet. Nhưng hạt giống đă gieo cứ âm thầm phát triển và nở rộ đúng vào dịp Đức Thánh Cha tôn phong 117 vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam ngày 19-6-1988! Tới nay con số tân ṭng Gia Rai đă lên tới 15,000 trong khi số dự ṭng cũng trên 8,000. Mỗi dịp lễ Phục Sinh, tổng cộng số lănh nhận phép Thanh Tẩy thuộc 3 Trung Tâm truyền giáo Gia Rai - Pleichuet, Pleikly và Cheoreo-Tơlui - cũng lên tới trên 1,500 người.

Với sức sống phát triển mạnh mẽ như thế, năm 1967 Ṭa Thánh chấp thuận cắt tỉnh Đăklăk khỏi giáo phận Kontum và tỉnh Phước Long của Giáo Phận Đà Lạt để thiết lập giáo phận mới Ban Mê Thuột. Giáo Phận Kontum c̣n 3 tỉnh Kontum, Pleiku, Phú Bổn và từ 1975, giáo phận Kontum lại sang một trang sử mới.

 

b. Tiếp bước theo quyền năng Thần Khí Chúa (1975-)

Nếu 3 lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà, th́ một lần di tản c̣n tệ hơn cả cháy nhà. Thế mà dân miền Kontum-Pleiku đă phải di tản tới 3 lần: 1968, 1972 và 1975. Mỗi lần di tản có khi 2, 3 tháng sau mới trở về. Họ bỏ nhà cửa chạy xuống Nha Trang, có người xuống tận Saig̣n. Một số lớn giáo dân đi mà không về lại. Số trở về phần đông lại quá muộn! Gần 100 linh mục nay c̣n lại 45 vị. Chỉ sau 13 năm, đă có tới 15 linh mục qua đời trong khi chỉ thêm có 4 linh mục mới. Tuổi trung b́nh là 61. Tiểu chủng viện ngưng hoạt động từ cuối năm 1975. Đại chủng viện giải tán năm 1976. Đặc biệt gần 30,000 giáo dân Xơ Đăng và nhiều cộng đoàn giáo dân Ba Na miền Bắc Kontum sống cảnh "côi cút" nhiều năm. Không linh mục, không tu sĩ, không nơi thờ phượng, tất cả đều phó thác cho các Yao Phu bám trụ coi sóc! Các dịp lễ Giáng Sinh, Phục Sinh phố xá Kontum tràn ngập giáo dân Xơ Đăng, Ba Na về dự lễ. Cơm gói cơm ống nằm la liệt sân cỏ nhà thờ chính ṭa, sân ṭa giám mục... để chờ dự lễ.

Sau lại có thêm nhiều giáo dân từ các vùng khác lên lập nghiệp, tại vùng sâu vùng xa, tại các nông trường, các điểm kinh tế mới. Số giáo dân tăng lên tới 156,770 năm 1998. Đó là chưa tính số giáo dân tại các vùng sâu, vùng xa, những vùng nông trường, kinh tế mới chưa có điều kiện lui tới để làm thống kê! Con số giáo dân hiện nay khoảng trên 180,000.

Miền Truyền Giáo Tây Nguyên đă bước đầu thành công nhờ sáng kiến và quyết tâm của Thánh Giám Mục tử đạo E.T. Cuénot Thể, có cha Do tiên phong cùng với hàng hàng lớp lới các vị thừa sai giáo dân, giáo sĩ hăng say dấn thân lên đường. Để hỗ trợ cho công việc truyền giáo, các vị chủ chăn đă tận dụng phương thức báo chí để nuôi dưỡng đoàn chiên.

Năm 1998, được phép Ṭa Thánh, giáo phận Kontum mở Năm Thánh mừng 150 năm, kể từ ngày thầy Sáu P.X. Nguyễn Do đă thành công mở đường cho các vị thừa sai lên truyền giáo vùng Kontum, rồi sau được mở rộng khắp vùng Tây Nguyên. Miền rừng thiêng, nước độc của ngày nào nay đă trở thành miền đất hiền lành và hiếu khách. Trong ngày cao điểm, ngày 12-11-1998, giáo phận đă được hân hạnh đón tiếp 17 giám mục, gần 300 linh mục, đông đảo các tu sĩ nam nữ cũng như anh chị em tín hữu xa gần về dự lễ tại nhà thờ Chính Ṭa Kontum, gặp nhau để cùng nhau cảm tạ tôn vinh Thiên Chúa v́ bao kỳ công Chúa đă thực hiện qua các vị sứ giả Tin Mừng.

Sau những ngày mừng lễ sốt sắng, giáo phận Kontum trở lại với thực tế đầy cam go thử thách, nhưng cũng nhiều hy vọng chứa chan. Số linh mục, tu sĩ không nhiều, nhu cầu đ̣i hỏi ngày càng cao. Số anh chị em t́m về với Giáo Hội càng nhiều, không chỉ anh chị em dân tộc, nhưng c̣n có cả anh chị em người Kinh, nhiều vấn đề đặt ra cho giáo phận.

Vấn đề nhân sự để phục vụ Lời Chúa, phục vụ Giáo Hội. Đây là vấn đề hàng đầu: đào tạo người tông đồ giáo dân và đào tạo các linh mục, tu sĩ. Giáo Phận Kontum đă có một truyền thống đào tạo người giáo dân ngay từ những ngày đầu của miền truyền giáo Tây Nguyên. Chính các câu, biện đă đi hàng đầu và dẫn các phái đoàn đi t́m đường lên miền cao. Cùng đi c̣n có các chị nữ tu Mến Thánh Giá. Giáo phận đă được thừa hưởng 2 tổ chức đào tạo người tông đồ giáo dân: hội Yao Phu và hội ḍng Ảnh Phép Lạ! Chương tŕnh "người người hầu việc Chúa, nhà nhà hầu việc Chúa, xứ xứ hầu việc Chúa, và cả giáo phận hầu việc Chúa" vẫn là ước nguyện khôn nguôi của giáo phận. Nhiều nơi trong giáo phận hiện không linh mục, không nhà thờ, không phụng vụ thánh lễ nhưng luôn có những tông đồ giáo dân hiện diện.

Không thể có ơn gọi linh mục tu sĩ, không thể có những linh mục, tu sĩ thánh thiện cũng như những tông đồ giáo dân đích thật, nếu gia đ́nh không được quan tâm chăm sóc cách đặc biệt. Gia đ́nh là nền tảng! Gia đ́nh đă và đang giữ vai tṛ vô cùng to lớn trong việc duy tŕ và phát triển đời sống ḷng tin của đoàn Dân Chúa!

Phục vụ người nghèo cũng là một vấn đề lớn! Nhiều anh chị em xung quanh vẫn c̣n nghèo! Phải làm ǵ để anh chị em hằng ngày "được dùng đủ" được có cuộc sống xứng với phẩm giá con người. Đó là điều giáo phận luôn trăn trở.

Nhưng vấn đề giáo dục con tim, giáo dục lương tâm đạo đức của con người trong một thế giới tục hóa và hưởng thụ hôm nay lại càng cấp thiết hơn: lo sao giúp cho con người, cách riêng lớp trẻ được phát triển hài ḥa giữa khối óc và con tim để có khả năng biết yêu thươgn và dấn thân phục vụ hết t́nh, để cùng nhau xây dựng môi trường sống trên nền tảng sự thật, công b́nh và thương yêu.

Và phải chăng vấn đề truyền giáo cho người dân tộc đă đến lúc trở thành vấn đề lớn không chỉ của riêng giáo phận Kontum! Đâu đâu trên đất Việt đều có anh chị em dân tộc khao khát đi t́m Lời Chúa! Vấn đề hội nhập văn hóa, đưa tinh thần Tin Mừng vào chính nền văn hóa của một thách đố lớn cho tất cả những ai đang phục vụ trên cánh đồng truyền giáo.

Và miền đất Truyền Giáo Kontum vẫn vẫy gọi tất cả những con người thiện chí dấn thân phục vụ để các anh chị em dân tộc ngày càng được phát triển xứng với phẩ giá con người, những người con của Chúa và được sống hài ḥa với tất cả các thành viên của một cộng đồng đang có diễm phúc sống trên miền đất đỏ hiền lành hôm nay.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

Nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/vnchurch.htm


Xem thêm :

Số liệu thống kê GP Kontum 2012

Giới thiệu Giáo Phận Kontum


H́nh ảnh Giáo phận Kontum

< sẽ bổ sung >

Chi tiết - h́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com