Giáo phận Kontum

AN KHÊ – NƠI GHI DẤU NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN

CỦA CÁC VỊ THỪA SAI

 

Ban mục vụ Truyền thông giáo phận Kontum đă đăng tŕnh lên Trang Blog của Giáo phận (ngày 16.08.2012) và sau đó một ngày trên trang Webs. của giáo phận nhà chuyên đề “LOAN BÁO TIN MỪNG” vùng Tây Nguyên, có tựa đề “AN KHÊ, NƠI GHI DẤU NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN CỦA CÁC VỊ THỪA SAI” dưới dạng thức PDF.

Một số vị trong giáo phận nhà yêu cầu chúng tôi đăng tŕnh đề tài này dưới dạng Word (DOC) để dễ xử dụng, v́ đề tài này rất hữu ích cho những người muốn đào sâu hơn tuyến đầu trong công cuộc truyền giáo Tây nguyên (1848).

Thật vậy, từ khi Thầy Sáu Do được gởi đến ở VÙNG ĐẤT AN SƠN THƯỢNG (AN KHÊ NGÀY NAY) đến nay đă 165 năm (1848-2013). Thầy đă dày công hy sinh t́m đường đưa lối cho các VỊ THỪA SAI LOAN BÁO TIN MỪNG CHO NGƯỜI ANH EM DÂN TỘC ÍT NGƯỜI NẰM SÂU PHÍA TÂY TRONG DĂY NÚI TRƯỜNG SƠN. Thật ra, đề tài “AN KHÊ, NƠI GHI DẤU NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN CỦA CÁC VỊ THỪA SAI“ này chỉ là phát họa và c̣n giới hạn trong nhiều lănh vực. Tuy nhiên chúng tôi cũng mong đóng góp phần nào để ANH EM TÍN HỮU HÂN HOAN ĐÓN MỪNG 100 NĂM, KỶ NIỆM NGÀY THÀNH LẬP TỈNH KONTUM (1913-2013). HƠN AI HẾT, ĐỐI VỚI CHÚNG TA LÀ NGƯỜI CÔNG GIÁO XÁC TÍN SÂU SẮC CÓ NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN CỦA CÁC VỊ THỪA SAI BẢN XỨ CŨNG NHƯ NGOẠI QUỐC ĐĂ ĐỔ NHIỀU CÔNG SỨC HY SINH CHO THÀNH QUẢ NÀY .

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quí vị đă đánh giá cao đề tài: “AN KHÊ, NƠI GHI DẤU NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦU TIÊN CỦA CÁC VỊ THỪA SAI“, v́ thế Ban truyền thông chúng tôi xin đáp ứng yêu cầu của quí vị. Chúng tôi sẽ phân chia đề tài này ra nhiều đoạn để dễ đăng lên Trang Truyền thông Giáo phận hơn.

GPKONTUM (22.03.2013)KONTUM

An Khê là vùng địa đầu trong công cuộc truyền giáo cho người dân tộc thiểu số. Đây là vùng đất mà thầy sáu Do đă đặt chân lên đầu tiên và từ đó hướng dẫn các vị thừa sai lên Kon Tum vào năm 1848. An Khê lúc bấy giờ được gọi là Tây Sơn Thượng. Ngày nay, vùng này bắt đầu từ đèo Mang Yang (phía Tây) đến hết đèo An-Khê phía đông gồm ba huyện: huyện Dak Pơ ( mới thành lập vào năm 2004), huyện K’ Bang (phía Bắc, vùng đất các thừa sai tiên khởi lên vùng Kontum) và huyện Kon Chro (phía nam, có đường đến Cheoreo, nay là thị xă Ayunpa) và thị xă An Khê (xưa được gọi là An Sơn).

Vùng An Khê đă trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử: khi th́ bị bách hại dữ dội như những vụ chém giết đốt phá tại Chợ Đồn, khi th́ gặp lúc b́nh yên và thuận lợi – đó là lúc phong trào di dân lên Tây Nguyên lập nghiệp tạo nên một sức sống mới cho vùng này. Tất cả đều do sự quan pḥng yêu thương của Thiên Chúa và Ngài đă nâng đỡ giữ ǵn để đến nay vùng đất này đă trở thành một giáo hạt thuộc giáo phận Kon Tum[1].

V́ vậy, trong hành tŕnh t́m về cội nguồn của giáo phận Kon Tum, chúng tôi sẽ tŕnh bày vùng này dưới bốn khía cạnh: trước hết chúng tôi sẽ đề cập đến lịch sử của vùng đất này, phần tiếp theo được dành để nói về địa lư của vùng, trên cơ sở đó chúng tôi sẽ nêu lên hành tŕnh mang Tin Mừng đến vùng Tây Nguyên thông qua vùng đất này và phần cuối được dành để nói về quá khứ-hiện tại và tương lai của các xứ đạo trong vùng.

1. Lịch sử một vùng đất

An Khê xưa kia thuộc về B́nh Định, xứ này nguyên xưa là đất Việt Thường Thị[2]. Tục truyền rằng: Năm 2353 trước công nguyên, xứ Việt Thường Thị đem dâng rùa thần sang Trung Quốc, sau hai lần thông dịch mới hiểu nhau. Rùa thần sống ngh́n năm, vuông hơn ba thước, lưng có chữ khoa đẩu (giống h́nh con ṇng nọc) ghi việc từ khi trời đất mới mở trở về sau. Vua Nghiêu sai người chép lại, gọi là lịch rùa.[3]

Đến đời nhà Tần, xứ này là huyện Lâm Ấp thuộc Tượng Quận; đời nhà Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam; đời Hậu Hán (năm 137) người trong quận làm chức quan nhỏ tên là Khu Liên nổi lên giết quan huyện, tự xưng là vua Lâm Ấp. Năm 605, lấy lại Lâm Ấp đặt làm Xung Châu rồi quận Lâm Ấp. Đời Đường, năm 627, đổi tên là Lâm Châu coi ba huyện Lâm Ấp, Kim Long, Hải Giới. Năm 803, nhà Đường bỏ đất này, dân chúng dựng nước Chiêm Thành, chiếm đất này làm thành Đồ Bàn (sau là thành phố Qui Nhơn) và Thị Nại (sau là thành phố Qui Nhơn)[4].

Vào năm 1470, Vua Lê Thánh Tôn, niên hiệu là Hồng Đức đă tiến đánh Chiêm Thành. Năm sau, vua đă giành được chiến thắng bắt sống được Trà Toàn và đem quân về; đồng thời bờ cơi đất nước cũng được mở đến Thạch Bi (nay thuộc Phú Yên).[5] Sau khi Trà Toàn bị bắt, tướng là Bô Tŕ Tŕ chạy đến Phiên Lung (Phan Rang ngày nay), giữ lấy đất ấy, xưng là vua Chiêm Thành. Tŕ Tŕ lấy được 1 phần 5 đất nước Chiêm, sai sứ sang xưng thần tiến cống. Vua phong cho làm vương. Vua lại phong vương cho Hoa Anh và Nam Bàn, làm ba nước để ràng buộc[6]. Nước Nam Bàn là miền Buôn Ma Thuột và Gia Lai-Kontum ngày nay. Điều này đă được Lê Qúy Đôn xác nhận: “Vua Lê Thánh Tôn phong cho vua nước Nam Bàn ở về phía tây phủ Phú Yên… Lại từ đây, người ta đưa tiền hay của cải thuê người man, nhờ dẫn đường theo sơn lộ đi mười bốn ngày nữa đến nơi có hai vị Thủy Xá và Hỏa Xá của nước Nam Bàn”[7]. Mặt khác, Lê Qúy Đôn đă mô tả đường phía tây đi tới nước Nam Bàn khá minh bạch: “Cựu cai đội Văn Thế Nghị có nói ông đă từng quản lănh ba đội Nội phủ sơn trường, Thám sơn thủ hương, Tân Am sơn. Ba đội này từng đi vào các sơn đầu để t́m kiếm kỳ nam hương. Từ suối Yên Lạc lên đến các thôn Hà Nghiêu, Bất Cày, qua núi La Hai giáp giới với địa phận phủ Phú Yên, rồi đến con đường đi qua các xứ Lôi Sông, Nước Nóng, Thượng Như đến suối Hà Trôi là có dân các sách thuộc người Đê và người Man phai đi đến ba ngày. Lại từ đây, người ta đưa tiền hay của cải thuê người Man, nhờ dẫn đường theo sơn lộ đi 14 ngày nữa th́ đến nơi có hai vị Thủy Vương và Hỏa Vương[8] nước Nam Bàn. Nước này có hơn 50 thôn lệ thuộc”[9]. Như vậy, vào triều Lê, vua Lê Thánh Tôn đă thiết lập một vương quốc trên vùng Tây Nguyên này.

Từ cuối thế kỉ XVII, người Việt đă có mặt khai phá vùng đất này. Sách Hoàng Lê nhất thống chí ghi: “Ấp Tây Sơn thuộc địa phần xứ Quảng Nam… Khoảng năm Thịnh Đức (1653-1657) quân nhà Nguyễn ra đánh Nghệ An, chiến được 7 huyện phía nam sông Cả rồi dồn bắt tất cả những cư dân đưa về Nam cho sống ở vùng Tây Sơn”[10]. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện, quyển 30 cho biết “Ấp Tây Sơn có hai ấp Nhất và Nh́ nay là 2 thôn An Khê, Cửu An, đất Quy Ninh (nay là Hoài Nhơn)”[11]

Ấp Tây Sơn Nhất tức thôn An Khê đă được Nguyễn Quang Ngọc xác định là thôn An Lũy xă Cư An thị xă An Khê ngày nay[12]. C̣n ấp Tây Sơn Nh́ tức Cửu An cách An Lũy 12km về phía Bắc.

Tiếp theo lớp người Việt đầu tiên này, những người Việt từ đồng bằng ven biển miền Trung lên khai phá đất đai và lập nghiệp ngay càng đông. Những thôn xóm của người việt mọc lên bên cạnh những ngôi làng của người Bahnar. Tuy nhiên, việc khai hoang lập ấp chỉ được đẩy mạnh từ thời Tây Sơn Tây Sơn lên khởi nghĩa trở về sau, trong khi đó dân cư chủ yếu là người Bahnar[13].

Trong quá tŕnh xây dựng căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa, nghĩa quân Tây Sơn đă xây dựng ở An Khê một địa bàn vững chắc dựa trên cơ sở khai phá đất hoang để lập nên những cánh đồng lúa nước mà dấu tích c̣n lại đến ngày nay như “Cánh đồng Cô Hầu”, nay thuộc địa phận xă Nghĩa An huyện K’bang, “Vườn Mít” ở xă Nghĩa An. Như vậy, đến cuối thế kỷ XVIII, dấu ấn của người Việt đă lan rộng trên khắp vùng An Khê.

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn (1802), nhà Nguyễn đă cho thiết lập ở vùng Thượng đạo những nguồn sở để thu thuế như Cầu Bông, Phương Kiệu. Đại Nam nhất thống chí có chép: “ở chỗ thôn An Khê, huyện B́nh Khê là chỗ nha kinh lư cũ, xứ Chợ Đồn, nguyên trước là ấp An Sơn, tên là sở nguồn Cầu Bông, nơi đây có nhiều lam chướng nên năm Minh Mạng thư 10 (1829) dời qua chỗ này (thôn An Khê) và đổi tên thành Phương Kiệu…”[14]

Đến năm 1877, bố chánh tỉnh B́nh Định là Phan Văn Điển dâng sớ xin khẩn điền, vua cho nên đặt nha kinh lư tại thôn An Khê, đặt quan lại cư trú, sớm mộ dân canh khẩn hai bên bờ sông Ba[15]. Cùng với Phan Văn Điển có ông Trần Văn Thiều cũng góp công sức rất lớn vào việc khai khẩn vùng đất này và đă lập được 28 thôn[16]. Vậy việc khai khẩn vùng đất An Khê là do ông Phan Văn Điển và Trần Văn Thiều tiến hành. Năm 1888, cải đặt làm huyện B́nh Khê, thuộc phủ An Nhơn[17].

Năm 1910, tỉnh B́nh Định khi ấy có khoảng 557.876 người chia ra: 550.000 người Kinh, 7000 người Thượng, 750 người Hoa, 120 người Pháp, sáu người Ấn gồm ba phủ: phủ An Nhơn, phủ Hoài Nhơn, phủ Tuy Phước; bốn huyện: huyện Tuy Phước, huyện Phù Mỹ, huyện Hoài Ân, huyện B́nh Khê, và huyện Phù Cát. Trong đó, tổng An Khê thuộc về huyện B́nh Khê. Tổng này gồm có 11 xă thôn với 4792 người.[18]

Đến thời Pháp thuộc, An Khê thuộc tỉnh Gia Lai gọi là huyện Haut Dakpa, sau đổi là huyện An Khê.

Ngày 13 tháng 3 năm 1959 An Khê thành huyện An Túc, tỉnh B́nh Định.

Từ năm 1975-1991 lấy lại tên cũ là huyện An Khê, trực thuộc tỉnh Gia Lai-Kontum

Tháng 10 năm 1991, tách tỉnh Kon Tum ra khỏi tỉnh Gia Lai và huyện An Khê thuộc về tỉnh Gia Lai.

Ngày 09 tháng 12 năm 2003, huyện An Khê đổi thành huyện Dakpơ và trị trấn An Khê được nâng lên thành thị xă.

Như vậy, lịch sử h́nh thành và phát triển của vùng An Khê đă trải qua một quá tŕnh rất lâu dài và phức tạp bắt nguồn từ thời thượng cổ và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay và sẽ tiếp diễn trong tương lai.

Lịch sử và địa lư luôn gắn liền với nhau. V́ vậy, để có một cái nh́n tổng quát hơn về vùng đất này, vấn đề địa lư của vùng đất vào thế kỉ XVIII và XIX là một phần cần làm sáng tỏ để có thể hiểu được hành tŕnh truyền giáo của các vị thừa sai.

2. Địa lư

An Khê vào thế kỉ XVIII được gọi là Tây Sơn Thượng[19] c̣n vùng Tây Sơn trung từ chân đèo An Khê đến vùng Hữu Giang, Tả Giang (Tây Sơn) và vùng Tây Sơn hạ thuộc các xă phía đông huyện Tây Sơn đến giáp giới huyện An Nhơn.

Vào thế kỉ XIX, khi các vị thừa sai đặt chân đến vùng đất này th́ dân cư rất thưa thớt và chỉ có núi rừng trùng trùng điệp điệp với nhiều nhánh của dăy Trường Sơn. Ḍng sông Côn chảy len lỏi giữa những dăy núi và đổ ra biển qua cửa Thị Nại. Có thể nói đây là vùng núi sông hùng vĩ v́ có nhiều ngọn núi cao và đồ sộ. Trước khi có đèo An Khê, người Kinh và người Ba Na giao thương, trao đổi phẩm vật thường dùng đèo Vạn Tuế qua ngă Vĩnh Thạnh và Cửu An, cách đó chừng 10 km về phía bắc.

Đèo An Khê[20] xưa gọi là đèo Vĩnh Viễn, cao 740 m và dài trên 10 cây số chạy từ tây xuống đông. Trước kia, khi quốc lộ 19 chưa mở, đèo chỉ là con đường nhỏ, có nhiều dốc ngược quanh co, lởm chởm đá, có khúc phải dạng hai chân mà leo mới khỏi té, nên gọi là dốc Chàng Hảng.

Từ chân đèo An Khê trở xuống Tây Sơn trung cũng có nhiều ngọn núi trông hùng vĩ. Trong đó, có núi Ông B́nh tuy không cao lắm nhưng cây cối rậm rạp và đầy vẻ bí hiểm. Mới nh́n tưởng không có đường vào, nhưng thực ra có nhiều nẻo vào ra thông thương với các ngọn núi xung quanh: “Ḥn Ông B́nh nằm phía tây thôn Thượng Giang. Tuy cao chỉ có 793 thước, song trông rất ḱ vĩ và có vẻ bí hiểm. Cây cối sầm uất, ngó mịt mờ thăm thẳm như không có đường lưu thông. Nhưng sự thật th́ có nhiều đường lối ra vào. Nơi triền phía Bắc, có đường đèo đi từ Đồng Hào ở ngả Đông, lên Trạm G̣. Cửu An ở ngả Tây. Đèo này gọi là Đèo Vạn Tuế, tuy ngắn song dốc và đá mọc lởm chởm nên rất khó đi. Ở triên phía Nam có con đường ṃn chạy theo hướng Đông Nam để đến đèo An Khê”[21].Đối diện ḥn Ông B́nh có ḥn Ông Nhạc khí thế cũng rất hùng hiểm. Từ hai ngọn núi này núi chạy từng từng, lớp lớp vào hướng nam và đông nam với các núi Màn Lăng, Bà Phù, c̣n gọi là ḥn Nhật, ḥn Nguyệt. Từ Tây Sơn Trung xuôi xuống Tây Sơn Hạ gặp dăy Hoành Sơn chắn ngang.

Tây Sơn Hạ núi không c̣n liền dăy nữa, chỉ có ḥn Trưng Sơn (Phú Lạc) cao nhất vùng trông rất khôi hùng. Nh́n gần giống con ḅ đực sung sức, nên người dân trong vùng quen gọi Ḥn Sung, ở xa trông giống như ngọn bút, cùng với Ḥn Nghiên bên kia sông Côn tạo thành niềm cảm hứng cho thơ ca[22].

An Khê lúc bấy giờ là vùng núi non hiểm trở. V́ vậy, hành tŕnh đưa Tin Mừng lên Tây Nguyên của các nhà thừa sai đ̣i hỏi rất nhiều nỗ lực và ơn Chúa.

(C̣n tiếp)

[1] Giáo hạt An Khê được tách ra từ giáo hạt Pleiku ngày 20 tháng 11 năm 2009

[2] Quốc sử quán, Đại nam nhất thống chí (ghi tắt NTC). Tỉnh B́nh Định. Nguyễn Tạo dịch. Nha Văn hóa BQGGD. Sài G̣n, 164. Trang 10

[3] Theo NTC, sđd, trang 10

[4] Theo NTC, sđd, trang 10

[5] Sách Đại Việt Sử Kư Toàn Thư nói rất rơ về sự thắng trận như sau: “Ngày 27, vua thân đem đại quân đánh phá thành Thị Nại (nay là Qui Nhơn). Ngày 28 vua tiến vây thành Chà Bàn. Ngày 29, vây sát thành mấy ṿng. Tháng 3 ngày mồng 1 (năm Tân Măo, 1471), hạ được thành Chà Bàn, bắt sống được Trà Toàn rồi đem quân về”… (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Kư Toàn Thư (SKTT), bốn tập. Cao Huy Giu phiên dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, chú giải và khảo chứng. Nxb KHXH, Hà Nội 1971-1972 (in lần thứ 2). Tập III, tr.237

[6] SKTT, sđd, Tập III. tr.237

[7] SKTT,sđd. Tập III, chú giải số 147 tr.357

[8] Nơi đóng đô của Thủy Xá và Hỏa Xá là ở thượng nguồn sông Đà Rằng

[9] Lê Qúy Đôn, Phủ Biên Tạp Lục, Lê Xuân Giáo dịch, Sài G̣n, 1972. Hai tập. Tập I, tr.216-217

[10] Hoàng Lê nhất thống chí, tập 1, NXB Văn học, 1984, tr.99

[11] Nguyễn Quang Ngọc, Ấp Tây Sơn trong Tư liệu về Tây Sơn – Nguyễn Huệ, tập 1, Trên đất Nghĩa B́nh, Sở VHTT Nghĩa B́nh, tr.13

[12] Ibid, tr.15

[13] Vũ Minh Giang, Tây Sơn Thượng đạo căn cứ địa buổi đầu của cuộc khởi nghĩa trong Góp phần t́m hiểu phong trào nông dân Tây Sơn – Nguyễn Huệ, sở VHTT Nghĩa B́nh, tr23.25

[14] Nguyễn Quang Ngọc, sđd, tr.19

[15] Theo NTC, sđd, trang 5.

Theo sách Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Thúy Nga và Nguyễn Thúy Lâm, Nxb Tp.HCM in năm 1993, tr. 320 chép vắn tắt về ông Phan Văn Điển như sau:Phan Văn Điển người xă An Thổ huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngăi. Làm quan tới chức bố chánh B́nh Định kiêm chức doanh điền chánh sứ tại nhà kinh lư An Khê

[16] Trong giao phả họ Trần do cháu xa của ông Thiều là ông Trần Mạnh Sanh chấp bút, phần viết về ông Trần Văn Thiều như sau: Ông Trần Văn Thiều tự Ngô Âm, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1817 tại Hà Nội, đậu cử nhân khoa Bính Ngọ (1846) tại Huế (…). Năm 1877, ông phụng chỉ vua Tự Đức, giữ chức kinh lư tại nha kinh lư An Khê cùng với ông Phan Văn Điển, bố chánh tỉnh B́nh Định, thực hiện công tác khẩn hoang tại cao nguyên An Khê. Ông dốc toàn lực, bất kể rừng thiêng nước độc, chiêu dân khẩn hoang, lập được 28 thôn bên bờ sông Ba tức là toàn địa phận huyện An Khê ngày nay. Sau bốn năm trấn nhậm, khai phá và xây dựng, biến vùng rừng núi hoang vu đầu chướng khí thành một vùng trù phú, dân cư đông đúc, nông lâm sản dồi dào, ông lâm bệnh rồi từ trần ngày 2 tháng 11 năm 188, thọ 65 tuổi. Dân địa phương thương tiếc vô cùng và tôn ông làm thành hoàng hạt An Khê.

[17] Nguyễn Đ́nh Đầu, sđd, tr.78

[18] Nguyễn Đ́nh Đầu, sđd, tr.130

[19] Vùng này được gọi là Tây Sơn v́ đây là nơi mà ba anh em nhà Tây Sơn đă sinh ra và phất cờ khởi nghĩa.

[20] Người Bahnar gọi đèo này là đèo Mang có nghĩa là cửa ngơ. Đây là một trong những cửa ngơ tiến vào Tây Nguyên

[21] Quách Tấn, Non nước B́nh Định, Nam Cường xuất bản, 1967, tr.53

[22] Quách Tấn, sđd, tr 40-53

 

3. Hành tŕnh đưa Tin Mừng lên miền đất Tây Nguyên

Ngay khi đặt chân đến Nam Kỳ vào năm 1829, linh mục Étienne Cuénot đă nhận ra lợi ích của công việc truyền giáo, ngài đă tiến hành thám hiểm các đồng bằng sông Cửu Long và các con sông nhánh của nó là sông Bla, sông Pôkô và các đồng bằng thuộc nước Lào. Dân cư tập trung rất đông đúc ở bên bờ những con sông này và theo lời của lái buôn, cũng có những người theo đạo sống dọc các bờ sông đó[1].

Vào giữa những năm 30-34 của thế kỷ XIX, trong khi đảm nhận trách nhiệm mục tử, Giám Mục phó đại diện Tông Ṭa địa phận Đàng Trong (1835), Đức Cha Cuenot (nay được phong lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo) đă quan tâm đặc biệt đến việc truyền giáo cho vùng dân tộc ít người phía tây[2]. Thêm vào đó, trong t́nh thế tôn giáo bị cấm cách bắt bớ dưới ba triều vua họ Nguyễn (vua Minh Mạng, Thiệu Trị vả Tự Đức), Đức Cha quyết định cho người t́m đường lên Tây Nguyên để truyền giáo, đồng thời làm nơi ẩn trú cho các linh mục, tu sĩ, giáo dân và đào tạo linh mục tương lai chuẩn bị cho việc mục vụ sau này. Ngài cho người t́m đường lên vùng cao theo ngă Quảng Nam, Quăng Ngăi (1839), theo hướng tây Phú Yên (năm 1842) đến vùng người Jrai (vùng Krong Pa và Ayunpa ngày nay), nhưng đều thất bại. Sau khi Vua Tự Đức lên làm vua được sáu tháng, nhà vua đă ra sắc chỉ cấm đạo, vùng truyền giáo địa phận Đông Đàng Trong (được chia 1844) sống trong t́nh trạng cực kỳ khó khăn và nguy hiểm bị tiêu diệt, nên Đức Cha một lần nữa quyết định sai Thầy Sáu Do t́m cách lên vùng Tây nguyên theo ngă An Sơn (An Khê ngày nay).

3.1. Hoàn cảnh An Sơn

An Sơn là nơi buôn bán giữa người kinh và người dân tộc. Lái buôn người kinh cũng từ đó rảo khắp các buôn làng của dân tộc để buôn bán hàng hóa.

Vả lại, An Sơn là một điểm trong con đường thượng đạo của các ngựi dân tộc di chuyển từ Nghệ An đến vùng B́nh Định; An Sơn cũng là con đường thượng đạo dẫn đến bộ lạc Hơdrung (Pleiku), từ đó hoặc lên Kontum, Đaktô; từ đó đi sâu vào Hạ Lào, hoặc tiến vào phía nam đến các cư dân Jrai, Rađê, M’nong… rồi đến vùng Gia Định. Cũng có những con đường thượng đạo Tây Trường Sơn, từ Thượng Lào đến Hạ Lào tiến đến Bắc Campuchia, rồi tiến thẳng đến thành Gia Định, hoặc qua Thái Lan. Có thể nói đường thượng đạo Tây Trường Sơn là con đường nhân chủng đă h́nh thành rất xa xưa của cư dân cổ, thời đá cũ, ít nhất thời đá mới, v́ nay người ta đă gặp rất nhiều ŕu đá có rải rác khắp vùng Tây Nguyên và Hạ Lào.

Nhưng từ khi An Sơn là cứ điểm của 3 anh em Nguyễn Nhạc khởi nghĩa, Triều đ́nh Huế nghi kỵ và nghiêm cấm những người sống trên vùng này và người Thượng vượt quá An Sơn. Trong thời kỳ cấm đạo, việc canh pḥng cẩn mật, chặn bắt các linh mục thừa sai và bản xứ càng triệt để hơn.

Vua Minh Mạng ra tất cả 6 sắc chỉ cấm đạo. Một sắc chỉ cuối cùng của ông vào tháng 6/1839 truy lùng các giáo sĩ và điều tra t́nh h́nh giáo dân. Vua Thiệu Trị tháng 5/1847 ra chiếu chỉ cấm đạo nhân vụ tàu Pháp bắn phá cửa Đà Nẵng. Vua Tự Đức vừa lên ngôi, tháng 8/1848, ông liền ra chiếu chỉ lùng bắt hết các giáo sĩ cách dữ dội. Trong lúc đó, tại B́nh Định, ông Quan Tổng đốc chống đạo đặt quân lính canh gác vùng An Sơn (An Khê) cẩn mật để bắt các linh mục đang t́m cách trốn lên vùng Bahnar. Đức Giám mục Cuénot Thể phải trốn tránh, nay ẩn chỗ này, mai phải đi nơi khác và đau ḷng khi thấy các tín hữu, linh mục bị tù đày. Là chủ chăn, Đức cha quyết định cho người t́m đường lên vùng dân tộc xây dựng nơi an toàn cho đoàn chiên của ḿnh.

3.2. Thầy Sáu Do trở thành đầy tớ để mở đường lên Tây Nguyên qua ngả An Sơn

Trong thời bắt đạo, một thừa sai Tây Phương không thể đi đến An Sơn mà không gặp hiểm nguy. Đức cha cần một người kinh để đi khám phá và mở đường. May mắn thay, lúc đó địa phận Đông Đàng Trong xuất hiện chủng sinh Nguyễn Do vừa từ Chủng viện Pinăng trở về, sau khi ở đó chín năm: bảy năm học và hai năm phụ giáo. Ban giáo sư chủng viện đă hết lời khen ngợi Thầy qua các báo cáo gởi về cho Giám Mục của Thầy. Đức tính nổi bật của thầy là ḷng can trường, hăng say, đời sống phó thác. V́ thế, Đức cha đánh giá cao Thầy và quết định trao cho thầy trách nhiệm đi mở đường để đưa Tin Mừng lên Tây Nguyên.. Đức cha đặt thẳng vấn đề với Thầy:

“Thầy phải mở qua ngả An Sơn một con đường để đi truyền giáo cho các bộ lạc thượng. Thầy sẽ làm thế nào để hoàn thành việc đó?

“Con sẽ làm lái buôn – thầy đáp lời – và trong khi giả làm người buôn bán, con sẽ tiến sâu vào bên kia ranh giới mà các lái buôn chưa từng vượt qua. Một khi khảo sát địa h́nh xong, con sẽ trở về và đưa một vị thừa sai đến vùng đó”.

“Quá tốt – Đức cha nói. Ta mong đợi nhiều nơi thầy. Nhưng để thực hiện một việc quan trong như vậy, thầy cần đủ can đảm, ta ban cho thầy qua việc phong chức Phó tế. Thầy hăy dọn ḿnh trong việc tĩnh tâm và cầu nguyện để đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa sắp ban cho thầy”[3].

Thầy sốt sắng tĩnh tâm, cầu nguyện và lănh nhận chức thánh phó tế để ra đi chu toàn trách nhiệm đầy gian nguy đang chờ đón thầy.

Thầy dự định làm lái buôn, nhưng nghĩ lại v́ không có môn bài do quan cấp, nên thầy thay đổi kế hoạch, thay v́ làm chủ th́ làm đầy tớ. Tám ngày sau khi lănh nhận chức phó tế, thầy Sáu Do vượt qua những dăy núi nằm giữa B́nh Định và An Sơn[4] với bộ quần áo rách rưới tả tơi. Thầy đến xin giúp việc cho một ông lái buôn tên Quyền tại An Sơn[5]. Thầy được chủ giao việc nuôi heo, gà trong gia đ́nh chủ. Thời gian sau, ông chủ thấy người đầy tớ mới tới cần cù, thông minh và siêng năng nên đă nâng cấp “người chăn gia súc” lên làm đầu bếp mang nồi niêu, chén bát lếch thếch tháp tùng theo ông chủ lái buôn từ làng này đến làng nọ. Thầy có dịp tiếp xúc và theo dự định riêng của ḿnh.

Thầy quan sát địa h́nh, cố gắng học tiếng dân tộc. Sau sáu tháng nay đây mai đó nơi các buôn làng dân tộc trong sứ mệnh được giao phó, thầy học tạm đủ thổ ngữ và biết được đường đi lối về để thực hiện sứ mệnh tạo lập cơ sở tại vùng Tây Nguyên. Thầy về báo cáo cho Đức cha là thầy muốn thử làm người lái buôn vượt qua những bộ lạc Thượng mà các con buôn người Kinh khác chưa bao giờ đi đến… Đức cha bằng ḷng dự kiến đó và cho bốn chủng sinh cùng đi theo thầy.

Đức cha c̣n tiên liệu cơ sở giao liên giữa vùng cao với vùng Trung Châu cho các chuyến đi khai mở lên vùng Tây Nguyên sau này. Hiểu rằng cần phải có một cơ sở có giáo dân cư ngụ làm điểm giao liên, Đức cha nhờ ông Cả An[6] thuộc họ Mương Lỡ (họ G̣ Mục, thuộc địa sở Nhà Đá sau này) đem một số ít tín hữu đạo đức đến xây dựng và sống với người lương tại Trạm G̣ (gần Cửu An, An Khê ngày nay) để làm nơi trú chân cho các vị truyền giáo khi lên xuống vùng dân tộc Bahnar.

Trạm G̣ nằm một nơi hẻo lánh về phía tây bắc An Sơn (cách thị trấn An Khê ngày nay khoảng trên 10 cây số) là làng người Kinh cuối cùng theo hướng này. Đây cũng là cơ sở dự trữ lương thực, và là nơi tập luyện quân lính của anh em Nguyễn Nhạc trước kia.

Để đến Trạm G̣, cần đi theo một con đường khó khăn nhưng người Kinh cũng có thể dùng đến, miễn là từ Bến[7] (hữu ngạn sông Côn đối diện Vĩnh Thạnh) vượt qua Dóc Ván thẳng đứng giữa hai đỉnh núi: núi ông B́nh và núi ông Nhạc. Bến (sau này có họ đạo Định Quang) được Đức cha cho một số tín hữu đạo đức đến lập nghiệp và là nơi dừng chân tiếp đoàn truyền giáo lên xuống vùng Tây Nguyên qua ngả Trạm G̣, không qua An Sơn.

Trong khi xây dựng các sở này, thầy Sáu Do vận động mua một môn bài buôn bán tại các buôn làng dân tộc lân cận ranh giới Trung Châu trên đường dẫn đến xứ người Bahnar.

3.3. Thầy sáu Do trở thành lái buôn t́m kiến con đường khác

Đoàn thương buôn giả danh này những ngày đầu di chuyển an toàn từ G̣ Thị qua An Sơn đến bộ lạc Hơdrung (Pleiku) theo trục quốc lộ 19 ngày nay. Một số người dân tộc vùng Hơdrung tưởng đă gặp được đoàn con buôn giàu có, nên định bắt người cướp của. Giữa đêm khuya, thầy cùng các bạn đồng hành bỏ tất cả hàng hoá lại để tẩu tán thoát thân về G̣ Thị, phải chịu đói nhịn khát v́ không có ǵ đổi lấy miếng cơm cho đỡ đói.

Dầu thất bại lần này, thầy Sáu Nguyễn Do cũng thu lượm được nhiều kết quả quan trọng đă làm chuyển hướng việc truyền giáo sau này: biết thêm tiếng thổ dân và khám phá ra một con đường khác, tuy khó khăn hơn, nhưng an toàn hơn, theo hướng bắc, sau đó đi về hướng tây nam. Đức Cha chọn con đường này.

 

Trong thời gian Thầy Sáu Do làm người giúp việc cho ông Quyền, cũng như sau đó đóng vai người buôn. Đức Cha cũng cho thành lập một số điểm giao liên tiện đường lên xuống như tại Bến, Trạm G̣ và An Sơn[8] để làm chỗ dừng chân, ẩn núp của các vị truyền giáo.

3.4. Thầy sáu Do hướng dẫn thành công đoàn truyền giáo lên miền Tây Nguyên

3.4.1. Thất bại trong lần đầu tiên

Chuyến đi lần này có cha Combes (Cha Bê đă đến Việt nam vào năm 1849) cùng ba hay bốn thầy khác nữa được thầy Sáu Do dẫn đường. Đoàn thám hiểm có đổi hướng di chuyển so với chuyến đi lần trước, đi từ G̣ Thị đến Trạm G̣ mất 3 ngày: 2 ngày đi đường sông bằng ghe, ngược ḍng sông Côn đến địa điểm Bến và từ đó mất một ngày đường leo núi qua Dốc Ván mới tới Trạm G̣. Chuyến đi này chẳng may đoàn truyền giáo bị đàn voi rượt tại đèo Mang Giang, mọi người cố thoát thân, một thầy bị trọng thương. Sau cảnh trốn thoát đàn voi, đoàn truyền giáo lại đương đầu với cơn mưa như trút, khe suối đầy nước chảy cuồn cuộn, không sao tiến lên phía trước được. Cuối cùng, đoàn người bụng đói, lạnh buốt đến xương tuỷ, quần áo tả tơi cũng đă lần ṃ về được G̣ Thị để tŕnh kết quả tội nghiệp cho Đức cha. Khi nghĩ lại, Cha Combes cũng ớn lạnh, nhưng tính vui vẻ, cha thường bảo: “Đó là cuộc viễn du của bọn thỏ đế”[9].

Đức cha lạnh nhạt tiếp đón và nói với họ:

“V́ thời tiết xấu c̣n kéo dài, tôi cho các vị mười lăm ngày để nghỉ ngơi; sau thời gian này, các vị sẽ lại lên đường. Và lần này, đừng có vô phúc mà quay về như vậy nữa!”[10].

Đức cha lại cho Cha Fontaine (tên Kinh là Hoàng, tên dân tộc là Bok Phẩm) sửa soạn hành trang tháp tùng Cha Combes lên đường.

3.4.2. Đặt chân đến Trạm G̣ để tiến vào vùng đất Tây Nguyên.

NHỮNG NƠI CÁC VỊ THỪA SAI ĐĂ ĐI QUA ĐỂ ĐẾN KONTUM

Chuyến viễn du lần này, đoàn truyền giáo gồm 2 linh mục thừa sai: Cha Phêrô Combes và Cha Fontaine cùng với 7 thầy: thầy Bảo (thầy tư), thầy Tài, thầy Chính, thầy Biểu, thầy Bường, thầy Tiến và thầy Phiên dưới sự hướng đạo sáng tạo đầy táo bạo của Thầy Sáu Do[11]. Thầy vạch ra một kế hoạch thay v́ di chuyển ban đêm sẽ đi ban ngày. Nhưng để che bớt làn da trắng có thể làm nguy hại bại lộ, mặt mày chân tay 2 vị thừa sai được bôi một lớp màu sậm, giống như màu da người Kinh. Nhờ vậy, đoàn vượt qua an toà ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO TÂY NGUYÊN. Từ đây, đoàn từ G̣ Thị đến Trạm G̣ bằng con đường đă đi lần trước. Như vậy, đoàn truyền giáo đă đặt chân được đến vùng đất Tây Nguyên. Từ đây, đoàn sẽ tiếp tục đi sâu vào vùng này để mang Tin Mừng đến cho anh em người dân tộc.

 

4. Lược sử các xứ đạo tại vùng An Khê và tương lai ngày mai

Xem : [ Giáo xứ An Khê  -  Giáo xứ Chợ Đồn  -  Giáo xứ An Sơn  -  Giáo xứ Đồng Sơn ]

 

[1] Jean Thiébaud, Thánh Giám Mục Thể, Paris, 1988, tr.90-91

[2] X.Camille Tissot, Vie du Bienheureux Etienne- Théodore Cuénot, Paris tr. 98.

[3] P.Dourisboure, Dân làng hồ, Nxb Đà Nẵng, 2010, tr.15

[4] Con đường từ B́nh Định đến An Sơn

[5] Tờ nguyệt san địa phận Kon Tum “Hlabar Tơbang”, 1915, tr.12

[6] P.Ban và S. Thiệt, Mở đạo Kon Tum, Imprimerie de Qui Nhơn, 1933, tr.15

[7] Làng Bến là làng gần bền sông, ở hữu ngạn sông Côn, đối diện với Vĩnh Thạnh, nay thuộc Định Quang, xă B́nh Quang, huyện Tây Sơn (B́nh Định) nằm thượng nguồn cách Đồng Phó khoảng 15 cây số. Vào những thập niên 20-30, họ Đinh Quang được h́nh thành trực thuộc họ Đồng Phó; Ông Trịnh Công làm biện trông coi cơ sở nầy, họ đạo bị phân tán vào những năm 1945-1948. Nay c̣n một số hộ công giáo (Lời thuật của ông Trịnh Cẩn nguyên quán ở Định Quang, là con của ông Trịnh Cống). Trong tài liệu Pháp việt thay v́ “ Bến” viết “Ben”.

[8] Ngày nay tại phía bắc nhà thờ Chợ Đồn khoảng vài cây số c̣n địa danh “nền nhà thờ”, nằm trên trục đường Trạm G̣, Thủ Thủy đến Hơdrung (Pleiku ngày nay). Rất có thể địa danh nầy có cơ sở An Sơn xưa kia, bị tàn phá năm 1884 với hai cơ sở trên.

[9] P.Dourisboure, Sđd, tr.23

[10] P.Dourisboure, Sđd, tr.24

[11] x. Hlabar Tơbang, năm 1915, tr. 23.

 

GPKONTUM (23.03.2013) KONTUM