Giáo Phận Long Xuyên

Nhà thờ Giáo Xứ Cù Lao Giêng

 

Nhà thờ Giáo xứ Cù Lao Giêng
Giáo hạt Chợ Mới

 

Địa chỉ :      Tấn Mỹ, Chợ Mới, An Giang. ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Inhaxiô Mai Tấn Kiệt (11/11/2013)
Phó xứ     : Linh mục

Tel

076.3880.120   -   076.3880.280

E-mail

 

Năm thành lập

1879

Bổn Mạng  

Số giáo dân

 

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Nhớ Cù Lao Giêng

-  Tin tức sinh hoạt

* Thêm sức và Rước lễ lần đầu tại Giáo xứ Cù Lao Giêng (18/9/2011)
* Tuyển tập h́nh ảnh mừng Gx C2 Lao Giêng 230 tuổi

 

Lược sử Giáo xứ Cù Lao Giêng

1. Địa chỉ :

Nhà thờ Cù Lao Giêng, Tấn Mỹ, Chợ Mới, An Giang.

Cha Sở: Lu-y Mai Hùng Dũng

ĐT : 076.3880.120 - 0919.992.169 // Email: lgmaidung@pmail.vnn.vn

Cha Phó: Phêrô Nguyễn Minh Trí

ĐT : 076.3880.280 - 0945.210.048 // Email: prminhtri@yahoo.com

2. Lịch sử h́nh thành & phát triển :

* Theo truyền thuyết kể lại vào đầu thế kỷ XVIII, đă có một số người công giáo sinh sống, trong thời bắt đạo họ trốn tránh ở đó. Các cố Tây bị ruồng bắt. Khi b́nh yên họ Đầu Nước phát triển tăng, các cố Tây làm cha sở. Sau khi cha Maille chết, cha Augustin Gazignol, MEP về coi sóc họ Cù Lao Giêng, các họ chung quanh được mở ra và là họ lẻ của Cù Lao Giêng.

* Khoảng năm 1879, Cha Gazignol đă khởi công xây dựng nhà thờ Cù Lao Giêng, khoảng 10 năm sau mới hoàn thành (1889). Ngài c̣n tiếp tục xây dựng nhà thờ Rạch Sâu, Mỹ Luông, Chợ Thủ. Ngày 08/05/1917 Ngài mất, phần mộ tại giữa nhà thờ Cù Lao Giêng.
* Năm 1927 – 1954 họ đạo Cù Lao Giêng chính thức có cha sở người Việt Nam là Cha Vân. Trong thời kỳ này có các cha phó: Cha Ba Triệu, Ba Trông, Cha Linh, Cha Truyền, Cha Nguỳ.
* Từ năm 1955 – 1966: Cha sở Công, Cha sở Hoá, và có các Cha phó: Cha Khấn, Cha Đầy, Cha Hùng, Cha Phổ.
* Từ năm 1966 –1975: Cha sở Anh, có các Cha phó: cha Lợi, cha Đức, cha Tiến, cha Kim, cha Nghi. Trong thời kỳ này xây dựng trường trung học Vạn Xuân. Trước 1975 có Cha sở Thử.
* Từ năm 1975 –1995 Cha sở Dương (1 năm), Cha sở Tỏ, có các Cha phó: Cha Antôn Nguyễn Tâm, Cha F.X. Tỷ.
* Từ năm 1995- 2000: Cha sở F.X. Nguyễn Văn Dương và Cha phó Phêrô Trương Phú Thịnh.
* Từ năm 2000, Cha Phêrô Lê Văn Kim làm Cha sở và Cha Tuấn là Cha phó.
* Họ đạo Cù Lao Giêng hiện nay có phần mộ của Thánh Tử Đạo Emmanuel Lê Văn Phụng, nơi đây nhiều bà con tới khấn vái và được chữa lành nhiều bệnh. Thánh nhân sinh khoảng năm 1796 tại vùng Đồng Nai, Biên Hoà. Cho đến nay chưa ai biết rơ gốc gác cha mẹ của ông. Trong thời bắt đạo, ông đă trốn về ở tại họ Đầu Nước cũng gọi là Cù Lao Giêng thuộc Tỉnh An Giang.
* Với tính cương trực, nhiệt thành, và nhờ uy tín, ông được bà con bầu chọn làm ông câu biện. Chính nhờ tài đức của ông, họ đạo đă được củng cố, ông chăm lo việc nhà thờ, cất nhà cho các nữ tu. Chính nhà ông là nơi trú ngụ cho các giáo sĩ, nhất là các cố Tây. Nhờ ông có quan hệ địa phương tốt nên quan huyện làm ngơ, và được báo trước khi có lệnh khám xét.
* Sáng 07/01/1859 ông bị bắt cùng Cha Phêrô Đoàn Công Quư và 32 giáo dân, giải về Châu Đốc, c̣n Cha Pernot kịp trốn thoát.
* Ngày 30/07/1859 tuyên án, ngày 31/07/1859 ông bị thắt cổ chết tại pháp trường Châu Đốc.
* Ngày 02/05/1909 Đức Giáo Hoàng Piô X phong chân phước.
* Ngày 19/06/1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong hiển thánh.
* Từ 28 tháng 3 năm 2003 cha Mai Hùng Dũng làm cha sở – cha Phaolô Lê Bá Tùng là cha phó.

* Từ tháng 6 năm 2008, cha Phêrô Nguyễn Minh Trí về làm phó, thay cha Lê Bá Tùng

3. Những đặc điểm :

- Dân chúng ở đây đa số làm ruộng, dân c̣n nghèo, tŕnh độ văn hoá c̣n thấp.

 

.....................

Nhớ Cù Lao Giêng

VietCatholic News (10 Jun 2004 14:49)

Kỷ Niệm 50 Năm Di Cư, Tri An Miền Nam

Nhớ Cù Lao Giêng

Tôi rời Miền Bắc lúc mới bảy tuổi, theo gia đ́nh “di cư vào Nam” lánh nạn cộng sản và Miền Nam đă mở rộng cửa đón tiếp chúng tôi. Chính Miền Nam đă cho tôi một cuộc sống thanh b́nh, tự do, no ấm và cơ hội học hành, xây dựng tương lai. Đối với một người Miền Bắc như tôi th́ Miền Nam là Miền Đất Hứa, đầy sữa thơm và mật ngọt. Tuy nhiên, để có được mảnh đất trù phú đó, bao thế hệ đồng bào Miền Nam từ mấy thế kỷ trước đă đă đổ mồ hôi, máu và nước mắt, có khi phải hy sinh cả mạng sống, để đánh đuổi ngoại xâm, mở mang bờ cơi, phá rừng, lập rẫy, đánh cọp, chém rắn, vật lộn với thiên nhiên, đào kinh, đắp đường, trong hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề…Rồi chúng tôi đến để hưởng thành quả lao động của các thế hệ đó. Ngày nay, ngồi nghĩ lại, tôi thấy thấm thía ơn nghĩa của Miền Nam. Quả thực, nếu không có Miền Nam th́ giờ đây, tôi, hoặc đă an phận làm một nông dân chân lấm tay bùn, xă viên một hợp tác xă nông nghiệp nghèo nàn nơi đất Bắc, sống suốt mấy chục năm dưới sự “lănh đạo” của bè lũ cộng sản vừa bạo tàn vừa ngu dốt, hoặc tệ hơn nữa th́ đă bỏ Đạo, chối Chúa, bon chen “phấn đấu” vào Đoàn, vào Đảng để rồi trở thành một tên cán bộ cộng sản khoác lác, khôn vặt, láu cá, “nói dối như Vẹm”. Xin cám ơn Miền Nam, cám ơn bà con Miền Nam ruột thịt. Trong tâm t́nh đó, tôi xin ghi lại ít ḍng về những kỷ niệm đầu tiên của tôi khi mới đặt chân đến Miền Nam.

Năm 1954, khi theo làn sóng người tỵ nạn bỏ nơi chôn rau, cắt rốn, nhà cửa, cơ nghiệp, bơ vơ vào Nam t́m tự do, gia đ́nh chúng tôi lưu lạc tới Cù Lao Giêng, một giải đất nằm giữa ḍng sông Tiền. Và một gia đ́nh Miền Nam đă mở rộng cửa cho chúng tôi vào nương náu. Đó là gia đ́nh Bác Năm Đầy, Nguyễn văn Đầy. Bác Năm hơn bố tôi chừng ba, bốn tuổi, nghĩa là lúc đó bác mới chừng bốn hai, bốn ba, nhưng trông bác đă già lắm rồi, có lẽ v́ cuộc sống nghèo nàn, cơ cực. Bác Năm tôi có hai đời vợ. Bác gái trước sinh được một người con trai là anh Hai Liêm rồi qua đời. Bác trai tục huyền và có thêm bốn người con trai nữa là Rớt, Lượm, Cất, Đi. Rớt và Lượm th́ hơn tuổi tôi. Cất có lẽ cùng tuổi với tôi. C̣n Đi th́ kém tôi vài ba tuổi ǵ đó. Gia đ́nh chúng tôi sống tại Cù Lao Giêng chỉ độ một năm rồi dời về Thủ Đức, nhưng những kỷ niệm về Cù Lao Giêng th́ rất sâu đậm trong tôi. Trước hết, tôi không bao giờ quên t́nh nghĩa hai Bác Năm dành cho gia đ́nh tôi, xử với chúng tôi như người ruột thịt, thật thà, đầy đặn, không khách sáo chút nào. Chỉ ít tháng sau khi chúng tôi về Thủ Đức th́ Bác Năm gái lại khăn gói lên thăm, mang theo mớ cua đồng và ốc bươu đựng đầy một bao bố. Rồi anh Tư Lượm khi lớn lên, xin được việc làm ngoài Vũng Tàu, vẫn ghé thăm chúng tôi luôn. Anh kể lể: “Tía con dặn hễ lên Saigon là phải ghé thăm Bác Tư, nếu không, về ổng uưnh chét!”. Sau gần ba mươi năm bặt tin, tôi bắt liên lạc lại với gia đ́nh Bác Năm cách nay vài năm, qua một bệnh nhân gốc Cù Lao Giêng. Hai Bác Năm tôi đều đă qua đời. Anh Hai Liêm cũng đă chết v́ bệnh ǵ tôi không rơ. Anh Ba Rớt th́ chết v́ lao phổi. Anh Tư Lượm và Ut Đi đă đi Vũng Tàu lập nghiệp. Chỉ c̣n Năm Cất tiếp tục sống ở xóm Đạo Cù Lao Giêng với chín đứa con và một đứa cháu ngoại, rất nghèo nàn, cơ cực, sống bằng nghề bắt nhái, không có ruộng vườn ǵ cả.

Giáo dân Họ Cù Lao Giêng, nhất là lối xóm của Bác Năm, cũng tiếp đón và chấp nhận chúng tôi với đầy t́nh thân ái ngay từ ngày đầu nên chúng tôi, đăc biệt là lũ trẻ ham chơi vô tư lự như anh chị em tôi, hoà nhịp rất nhanh vào cuộc sống mới nơi “đất khách quê người” (lúc đó bố mẹ tôi vẫn không tin cuộc chia cắt đất nước là vĩnh viễn, vẫn mong ngày trở về “quê cha, đất tổ”). Người Cù Lao Giêng rất hào hiệp, quảng đại. Vườn cây ăn trái không bao giờ rào. Đă thế, trái c̣n trên cây là của chủ, nhưng hễ rụng xuống đất th́ ai “xí” được người đó lấy mà chủ nhân không phàn nàn chi cả. Những ngày gió to, trẻ con nhà nghèo và lũ nhóc “Bắc Kỳ” chúng tôi đổ xô ra các vườn xoài lượm xoài rụng, có khi mỗi đứa được cả chục trái. Lạ lùng nhất là đôi khi chủ vườn và con cái họ cũng chạy đua với chúng tôi để nhặt xoài rụng, rất đề huề, b́nh đẳng. C̣n việc thợ gặt cắt lúa cố t́nh bỏ sót thật nhiều hoặc ôm lúa giả bộ làm vương văi cho trẻ con Bắc Kỳ đi mót lượm về là chuyện rất thường. Bởi vậy,mùa gặt đó, nhà tôi cũng có một vài giạ lúa để ăn dù chưa cày cấy ǵ. Người Cù Lao Giêng lại rất thật thà, ngay thẳng. Lúc ấy, ngày nào chúng tôi cũng đi tắm sông; đồng hồ và dây chuyền cởi ra móc trên cành me, cành mận, ra về quên đeo vào, bữa sau trở ra t́m vẫn thấy c̣n y nguyên. Đôi khi có người thấy chúng tôi t́m quanh quất, bèn dắt lại chỉ ngay vào món đồ chúng tôi đang t́m. Người Cù Lao Giêng cũng không khách sáo. Vào thời điểm đó, nếu bạn tới nhà một người Bắc, vô t́nh nhằm lúc họ đang ăn cơm, th́ họ thường nói: “Mời ông xơi cơm!” nhưng xin bạn chớ nhận lời vào ăn. Trái lại, bạn chỉ nên cám ơn họ và xin ngồi chờ ngoài pḥng khách mà thôi. Một bữa kia, lúc gia đ́nh chúng tôi đă dựng được một căn nhà lá và đă dọn ra khỏi nhà Bác Năm, khi chúng tôi vừa khởi sự ăn cơm th́ một người hàng xóm Miền Nam là Cụ Trùm Xưa ghé thăm. Tuổi cụ lúc đó chắc đă sáu mươi mấy hoặc bảy mươi. Cụ có người con trai cả làm linh mục nhưng lối xóm không ai gọi cụ là “Ong Cố” như người công giáo miền Bắc. Trái lại họ gọi cụ là Ong Câu Xưa v́ cụ từng là câu nhất (chức việc cao nhất sau cha sở) của Họ Cù Lao Giêng. Tuy nhiên bố mẹ tôi cảm thấy ngượng miệng khi gọi cụ là ông câu v́ “câu” trong ngôn ngữ vùng chúng tôi là tiếng gọi ông từ nhà thờ hoặc ông mơ, tức là người để cha xứ và quan viên, quư chức sai vặt. Thay vào đó, chúng tôi gọi cụ là ông trùm. Khi nghe bố tôi giải thích về cách xưng hô đó, cụ bằng ḷng ngay. Tuy mới quen biết nhau có mấy tháng nhưng ông trùm đă trở nên rất thân thiết với gia đ́nh chúng tôi. Ong gọi bố tôi là “thằng Tư” và mẹ tôi là “con vợ thằng Tư”, trong khi các con ông, kể cả vị linh mục th́ gọi bố mẹ tôi là Anh Tư, Chị Tư. Hôm đó vừa thấy cụ bước vào, cả nhà chúng tôi đều buông đũa và đồng thanh lễ phép: “Mời ông xơi cơm” theo đúng phép lịch sự Miền Bắc. Chẳng dè ông vui vẻ ngồi vào bàn ngay và hỏi: “Chén đũa của tao đâu bay?” Chúng tôi sững sờ đến mấy mươi giây rồi mới cuống quưt đi lấy bát xới cơm và lấy đũa cho ông. Ong ăn vui vẻ, thật tha, tới hai, ba chén. Chúng tôi học được một bài học quư giá, chuẩn bị sẵn sàng để thực hành trong tương lai. Ít bữa sau, ông lại qua chơi, cũng nhằm ngay bữa cơm. Chúng tôi lại đồng thanh: “Mời ông xơi cơm!” và chuẩn bị chén, đũa. Ai dè ông nói: “Hổng thèm, tao ăn rồi, bay ăn đi!” Chúng tôi chưng hửng. Mọi người bụng bảo dạ: chắc tại lần trước ḿnh mời mà không sẵn sàng chén đũa nên ông nghĩ ngợi và buồn, nên lần này ông mới không ăn. Nhưng không phải vậy. Ong ngồi chơi tự nhiên, thoải mái, bỏ thuốc rê ra vấn rồi hút, chờ chúng tôi ăn cơm xong. Khi bố mẹ tôi ra tiếp ông, ông vui vẻ chuyện tṛ và ăn bánh, uống trà do chúng tôi bưng ra mời. Chúng tôi thở phào, nhẹ nhơm.

Đồng ruộng Cù Lao Giêng bao la, bát ngát, thẳng cánh c̣ bay. Sau khi ổn định chỗ ở trong ngôi nhà sàn của Bác Năm, tôi theo các con bác ra ruộng chơi. Lạ lùng thay, trên khắp cánh đồng, không biết rau muống ai trồng mà xanh tốt quá sức, đầy ngọn non vươn dài, đụng tới là gẫy đánh tách, ḍn tan. Rau mọc xen kẽ với lúa. C̣n cua và ốc th́ nhiều vô số kể, ngó đâu cũng thấy chúng ḅ tràn lan. Sông nước Cù Lao Giêng đầy tôm cá, không ai ăn cua và ốc, c̣n rau muống th́ chưa được người Miền Nam coi là rau vào thời điểm đó. Tuy nhiên đối với người Bắc di cư th́ đó là ba món ăn khoái khẩu. Thế là chúng tôi hái rau muống về luộc, xào, chẻ quăn ăn ghém hoặc xắt nhỏ nấu canh. C̣n ốc bươu th́ lần đầu tiên trong đời chúng tôi xài sang chỉ ăn phần thân cứng và vứt bỏ phần ruột mềm phía dưới. Oc bươu luộc với lá chanh, chấm nước mắm tỏi là ngon tuyệt trần. Đó là chưa kể ốc nấu chuối xanh hoặc bún ốc. Cua thi bắt về, lột vỏ, giă nát, chắt lấy nước thịt, nấu riêu, ngon ngọt không chê vào đâu được. Bún riêu ăn với rau muống chẻ quăn trộn rau kinh giới ăn không biết no. Dù sao, món canh cua ngon nhất phải là canh cua rau đay. Nhưng Cù Lao Giêng không có rau đay, chỉ có mấy cánh đồng trồng cây bố (ngoài Bắc gọi là đay gai) là loại cây có họ rất gần với rau đay nhưng trồng để lấy sợi đan bao bố (tiếng Bắc là bao gai) đựng gạo. Người Bắc thèm canh cua rau đay quá bèn xin chủ ruộng cho hái ít ngọn cây bố về nấu canh. Rau bố hơi đắng nhưng vẫn có mùi vị rau đay, lại nhờ có nhiều riêu cua bù vào nên nồi canh vẫn ngon ngọt như canh rau đay “chính gốc Bắc Kỳ”. Lúc đó, bà con Miền Nam bảo nhau: “Mấy ‘người Bắc’ ăn uống thiệt khác với ‘người Việt’ ḿnh. An cua, ăn ốc, ăn rau muống, bây giờ lại ăn cả đọt bố!”

Đó là món ăn Bắc Kỳ giữa ḷng Miền Nam. C̣n món ăn thuần tuư Miền Nam th́ tôi nhớ nhất là món cá lóc nướng trui. Sau khi gặt hái xong th́ cũng là mùa khô cạn. Nước vốn ngập mênh mông cả cánh đồng bát ngát, giờ thu lại thành những cái đ́a lúc nhúc đầy tôm cá, nhất là cá lóc. Có những cái đ́a lớn khi tát cạn có thể thu hoạch hàng mấy tạ cá. Người ta chọn những con cá lóc thật to, mỗi con vài kí lô, thọc một cái que vào họng chúng, rồi nướng trên lửa rơm. Khi cá chín, người ta lột vỏ cháy bên ngoài, lấy thịt cá trộn với rau sống, rau thơm, cuốn bánh tráng, chấm nước mắm chua ngọt, ăn không biết chán.

Tuy cùng là người Việt Nam nhưng ngôn ngữ Nam, Bắc cũng có lắm bất đồng. Có những bất đồng vô thưởng, vô phạt như người Bắc nói “gọi”, người Nam nói “kêu”.

Bắc nói “ngô”, Nam nói “bắp”. Bắc “gầy”, Nam “ốm”. Bắc “ốm”, Nam “bịnh” v.v. Nhưng cũng có những bất đồng gây hiểu lầm. Em Liên tôi lúc đó vừa thôi nôi, bụ bẫm, xinh xắn, bước đi chập chững. Một bà hàng xóm Miền Nam trầm trồ: “Con nhỏ ngộ quá!” Mẹ tôi xụ mặt v́ “ngộ” trong ngôn ngữ của chúng tôi gần đồng nghĩa với điên hay ít nhất cũng dở người, như trong câu: “Học quá hoá ngộ” nói về những người học giỏi rồi sau bị điên loạn hoặc tâm lư bất b́nh thường. C̣n lá mơ, thứ rau thơm không thể thiếu của món gỏi cá và nhiều món ăn truyền thống Bắc Kỳ th́ lại bị người Miền Nam gọi là lá thúi địt. Rồi chúng tôi đi học, thày không gọi chúng tôi bằng em hay con mà gọi “tṛ”. Lạ lùng hơn nữa là chính học sinh cũng gọi nhau bằng tṛ. Thí dụ: “Tṛ Huy, tṛ cho tôi mượn cục gôm một chút”. Hoặc mách thày: “Thưa thày, Tṛ Cúc vảy mực vào tập của em.”

Đó là những kỷ niệm vui về Cù Lao Giêng. Tôi không nhớ một kỷ niệm cá nhân nào thật buồn về Cù Lao Giêng, ngoài việc chúng tôi phải đột ngột ra đi v́ có những xô xát đáng tiếc giữa một số người Bắc “chống cộng” và một số người Miền Nam bị tố cáo là cộng sản, đưa tới án mạng. Dù vậy t́nh cảm của chúng tôi dành cho Cù Lao Giêng và của Cù Lao Giêng dành cho chúng tôi vẫn không suy giảm. Bây giờ hồi tưởng lại, tôi biết nhiều người Cù Lao Giêng thật nghèo, cuộc sống thanh bạch, ăn uống đạm bạc. Tôi nhớ vào mùa khô, Bác Năm tôi ăn cơm thường chỉ có chút cá kho mặn, ít khi có chén canh. Nhiều lần tôi thấy bác múc nước lạnh ngoài lu xối vào cơm, nuốt ào cho xong bữa. Rau th́ phần lớn là để ăn sống mà thôi, ít khi luộc, xào hoặc nấu canh. An cơm với mấy lát dưa hấu chấm muối cũng là chuyện thường. C̣n vấn đề vệ sinh và sức khoẻ th́ rất thiếu kém. Gần như không nhà nào có cầu tiêu riêng. Mọi người đều dùng các cầu tiêu bắc trên sông rạch. Rồi mọi người lại tắm trên ḍng sông đó và gánh nước từ sông về dùng. Họ lại không có thói quen đun nước sôi để uống. Thực ra, có muốn nấu nước hàng ngày cũng không đủ củi mà nấu. Nghèo vậy mà người Cù Lao Giêng vẫn hào hiệp, bao dung v́ bao dung, hào hiệp là bản chất của họ.

Cám ơn Cù Lao Giêng.

Và xin cám ơn toàn thể Miền Nam bằng mấy vần thơ mộc mạc sau đây:

Tạ Ơn

Tạ Ơn buổi mới gặp nhau
Ṿng tay thân ái ngày đầu di cư.
Tạ Ơn những tấm lá dừa
Giúp nhau che đỡ nắng mưa thuở nào.

Tạ Ơn tiếng gọi, câu chào:
“Anh Tư”, “Chị Bảy”, ngọt ngào, thân thương.
Tạ Ơn tiếng lạ sân trường:
“Tṛ Huy”, “Tṛ Cúc” chưa từng quen tai.

Tạ Ơn lu nước nhà ai,
Gáo dừa bên cạnh, đặt ngoài dậu xanh.
Tạ Ơn trời đẹp nắng hanh,
Cơn giông bỗng tới rung cành, xoài rơi.

Lượm xoài vui lắm, ai ơi,
Chạy quanh, “xí”, chụp, mồ hôi đầm đ́a.
Tạ Ơn những buổi trưa hè,
Tắm sông vùng vẫy, cành me nhảy ùm.

Tạ Ơn rau muống xanh um,
Nồi canh đọt bố phủ trùm riêu cua.
Tạ Ơn ngày mót lúa mùa,
Những người thợ gặt cố chừa nhiều bông.

Lúa thơm đeo nặng bên hông;
Nồi cơm gạo mới hương nồng bay xa.
Tạ Ơn tiếng nhạc, lời ca,
Thắm t́nh ruột thịt, một nhà Việt Nam.

Ơn sâu ghi khắc trong tâm:
Người Nam quảng đại, trực tâm, hiền hoà.
Dù nay muôn dặm cách xa,
Nhớ hoài “Nam Bộ” thiệt thà, dễ thương!

Boston, ngày 11 tháng 4 năm 2004

Vũ Linh Huy

* Nguồn : Trang Web Giáo Phận Long Xuyên

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Cù Lao Giêng

Credit of Ultra Panavision70

 

 

 

 

 

 

Xem thêm : Tuyển tập h́nh ảnh mừng Gx C2 Lao Giêng 230 tuổi

 

[Trở về đầu trang ]