Giáo Phận Nha Trang

Nhà thờ Chánh Ṭa Nha Trang

 

Nhà thờ Chánh Ṭa Nha Trang
Giáo hạt Nha Trang

 

Địa chỉ : 31A Thái nguyên - Nha Trang  (Bản đồ)

Chánh xứ : Linh mục Giuse M. Trần Thanh Phong
Phó xứ     : Linh mục Phêrô Trần Trung Nam
Phó xứ     : Linh mục GB. Nguyễn Thế Trung (5/2017)

Tel

058.823335   -   058.828979

E-mail

 

Năm thành lập

1930

Bổn Mạng

Chúa Kitô Vua

Số giáo dân

2809

Giờ lễ

Chúa nhật     :  5:00   -   7:00   -   11:00   -   16:30

Ngày thường :  5:45    -   17:15

Giờ lễ có thể thay đổi theo mùa hay mục vụ của Gx. Xin xác nhận trước  khi đi lễ

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo xứ Chánh Ṭa đón Cha phó G.B. Nguyễn Thế Trung (18/5/2017)
* H́nh ảnh Ngji thức Tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu tại Nhà Thờ Chánh Ṭa (18/4/2014)
* H́nh ảnh Thánh lễ Truyền Dầu 2014 tại nhà thờ Chính Ṭa Nha Trang (15/4/2014) Video : 1 - 2 - 3 - 4
* H́nh ảnh Thánh lễ mừng thánh Cả Giuse, bổn mạng Đức Cha Giuse Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. (18/3/2014)
* H́nh ảnh Thánh lễ Giáng Sinh năm 2013 tại Nhà Thờ Chánh Ṭa Nha Trang
* H́nh ảnh Thánh Lễ Làm Phép Dầu tại Nhà Thờ Chánh Ṭa Nha Trang (26-03-2013)
* H́nh ảnh Giáo xứ Chánh Toà mừng đón Cha Phó mới: Phêrô Nguyễn Chí Công (18/12/2010)

 

Lược sử Giáo xứ Nha Trang

* Bối cảnh

 Cuối thế kỷ 19, vào khoảng năm 1885, Nha Trang chỉ gồm vài xóm chài rải rác ở cửa sông Cái và ven bờ biển. Giáo dân lúc ấy khoảng dăm ba trăm người sống tập trung ở Giáo Xứ Chợ Mới (Ngọc Hội). Năm 1886, khi người Pháp đặt cơ quan chính quyền đô hộ tại Nha Trang, tạo điều kiện cho hai công tŕnh nghiên cứu khoa học quan trọng được xây dựng đó là Viện Pasteur (1895) và Viện Hải Dương học (1923). Dân chài tập trung về sống gần viện Pasteur để được chăm sóc sức khoẻ. Năm 1924, sau nghị định của Toàn Quyền Đông Dương, Vua Khải Định ra chỉ dụ thiết lập thị trấn Nha Trang. Một số công tŕnh xây dựng cơ bản xuất hiện, hệ thống đường sá, điện, nước bước đầu phát triển, kéo theo một số giáo dân nghèo ra thị trấn làm công nhân, cu-li hay buôn bán hàng rong kiếm sống. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo (đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích...) cho số giáo dân này và một số viên chức người Pháp hiện sinh sống trên địa bàn, một nhà nguyện nhỏ được dựng lên tạm thời trên bờ biển Nha Trang (hiện nay là Toà Giám Mục Nha Trang, 22 Trần Phú), trực thuộc Giáo xứ Chợ Mới. Với tấm ḷng nhân ái của người mục tử, vị Linh Mục người Pháp lúc đó là Louis Vallet (1869-1945) đang coi giáo dân vùng Nha Trang đă nghĩ ngay đến việc thành lập một Giáo xứ tại Nha Trang, mà điều đầu tiên phải thực hiện đó là xây dựng một ngôi nhà thờ khang trang.

* Quá tŕnh xây dựng, tu bổ và chỉnh trang nhà thờ:

1.- Xây dựng:

Ngày 03/09/1928, dự án xây dựng nhà thờ được khởi công trên một mơm núi nhỏ, có tên là núi Bông. Khoảng 500 trái ḿn đă được sử dụng để tạo mặt bằng trên đỉnh núi.

Ngày lễ Phục Sinh 1929, khai trương con đường xe chạy lên núi. Đến tháng 6/1929, một lối đi tắt lên núi, dành cho người đi bộ, gồm 53 bậc cấp, nằm về hướng Bắc (phía đường Thái Nguyên hiện nay) được hoàn thành.

Ngày 08/09/1929, các công tŕnh phụ: nhà bếp, nhà ở cho người giúp việc, nhà kho, các bậc thang, từ đường chính lên...được đưa vào sử dụng.

Đến tháng 3/1930, khu vực Nhà Xứ hoàn thành với đầy đủ hệ thống điện nước. Phần công tŕnh chính của nhà thờ được tiếp tục xây dựng.

Ngày 12/02/1933, Vua Bảo Đại viếng thăm công tŕnh kiến thiết nhà thờ, lúc ấy đă cơ bản hoàn thành.

Ngày 14/05/1933, lễ Thánh Jeanne d'Arc, nhà thờ được long trọng khánh thành với sự có mặt của đông đảo quan khách. Cha Louis Vallet đă chọn Chúa Kitô Vua làm Bổn Mạng Nhà Thờ.

Ngày 15/08/1933, lắp đặt xong các kính màu trên cung thánh.

Ngày 17/03/1934, toàn bộ kính màu trong nhà thờ được lắp đặt.

Ngày 25/03/1934, nghi thức Tuần Thánh được cử hành lần đầu tiên trong nhà thờ.

Ngày 29/07/1934, Đức Khâm Mạng Toà Thánh Dreyer làm phép quả chuông đặt tên hiệu là Têrêxa Hài Đồng Giêsu, do bà Đỗ Hữu Trí, Sài G̣n, dâng tặng.

Ngày 01/04/1935 khởi công và 01/08/1935 hoàn thành tháp chuông.

Ngày 03/12/1935, lắp đặt xong và khánh thành đồng hồ trên tháp chuông.

Ngày 22/10/1939, Cha Louis Vallet được Giáo quyền uỷ quyền làm phép hai quả chuông do chính ḿnh dâng cúng. Một dâng kính Thánh Tử Đạo Cuénot Thể và một dâng kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Cha Maurice Bertin, Bề Trên Ḍng Phanxicô, giảng lễ.

Tháng 04/1940, khánh thành hang đá Đức Mẹ Lộ Đức.

Từ tháng 03 đến tháng 11/1940, xây xong ngôi trường Tiểu học cho giáo xứ (sau chuyển cho các Soeurs Notre Dame làm trường trung tiểu học Thánh Tâm, hiện nay là Nhà Trẻ Hương Sen). Kinh phí xây dựng: 6.089,12 đồng VN lúc bấy giờ.

Từ tháng 05 đến tháng 12/1941, lát đá con đường chính lên nhà thờ (dt: 758,80m2): ḷng đường: 21.626 viên, lề đường 600 viên. Tổng cộng 22.226 viên đá, trị giá 1.666,95 đồng (7,5 đồng 100 viên). Thêm tiền công và xi-măng, tổng phí tổn là 2.200 đồng VN lúc bấy giờ.

Tổng kinh phí xây dựng Nhà Thờ, chưa kể công của Cha Louis Vallet và người cai thầu làm việc với Cha, là: 30.000 đồng VN. Trong đó: 2.500 thùng (barils) xi-măng = 15.000 đồng và các phí tổn khác = 15.000 đồng.

- Diện tích ḥn núi xây dựng nhà thờ: 100m x 45m = 4.500m2 - Diện tích Nhà Thờ: 36m x 20m = 720m2 - Diện tích Nhà Xứ: 23m x 13,2m = 312,84 m2 - Độ cao của mặt sân Nhà Thờ so với mặt bằng thành phố: 12m - Chiều cao của Nhà Thờ từ móng cho đến đỉnh tháp: 28m

Toàn bộ công tŕnh xây dựng đều do chính Linh Mục Louis Vallet thực hiện, dưới sự cố vấn kỹ thuật của kiến trúc sư Nesty, người Pháp và với sự cộng tác của ông Biện Tế làm cai thầu, người thuộc Giáo Xứ Chợ Mới.

Ngày 24/10/1945, Linh Mục Louis Vallet qua đời. Thi hài Ngài được an táng dưới chân núi, bên phải con đường lên Nhà Thờ. Hàng năm, tới ngày lễ giỗ Ngài (24/10), Cha Sở dâng thánh lễ cầu cho Ngài và cùng với giáo dân viếng mộ, thắp nén nhang, đọc kinh cầu nguyện và tưởng nhớ công ơn Ngài bên phần mộ khiêm tốn nhưng không kém phần trang nghiêm của Ngài.

2.- Tu bổ và chỉnh trang:

Vào khoảng năm 1969 đồng hồ trên tháp bị hư, không hoạt động. Măi tới năm 1978, Linh Mục Giuse Nguyễn Công Nghị đă cho sửa chữa (Ông Nguyễn Văn Rồng trực tiếp làm) và đồng hồ đă hoạt động lại cho đến nay.

Vào khoảng năm 1970 (), toà giảng kiên cố theo kiểu các nhà thờ cổ, cao 3 mét, có bậc thang xây ṿng theo chân cột trái trên cung thánh (phía tượng Đức Mẹ), được dở bỏ cùng lúc với hàng rào chắn ngang cung thánh. Bàn thờ nguyên thuỷ hướng về thánh giá và dính liền với Nhà Tạm được tách ra, đưa xuống giữa cung thánh và hướng về giáo dân.

Ngày 10/06/1987, Linh Mục Phêrô Nguyễn Quang Sách cho xây dựng trên vách đá dọc theo con đường chính lên nhà thờ thành nơi đặt tro cốt những người quá cố được bốc dở từ nghĩa trang của giáo xứ theo quyết định của Nhà Nước.

Ngày 29/07/1988, khởi sự lát đá những nơi c̣n trống trên sân nhà thờ, và lấp đá quanh chân núi phía Ngă Sáu.

Ngày 17/02/1990, gia cố chân núi dưới Hang Đá Đức Mẹ.

Ngày 14/03/1991, sửa và mở rộng con đường chính thêm 1,5 mét, đặt hàng rào song sắt bao quanh nhà thờ thay cho giây kẽm gai.

Ngày 26/07/1991, đặt 14 chặng đàng Thánh Giá dọc theo đường lên nhà thờ.

Ngày 28/10/1991, đặt 12 tượng Thánh Tông Đồ cao 1 mét, và tượng Chúa Kitô Vua cao 1,2 mét dọc theo đường lên nhà thờ.

Năm 1992, bàn thờ được tu sửa, thay kiểu chân, nâng cao thêm và đưa về vị trí gần Nhà Tạm như hiện nay, đồng thời lát đá cẩm thạch toàn bộ cung thánh.

Ngày 19/12/1992, đặt 12 tượng thánh bao quanh sân nhà thờ: Gioan Tẩy Giả, Phao-lô, Gioa-kim, An-na, Mác-cô, Lu-ca, Ba-na-ba, Tổng Lănh Thiên Thần Mi-ca-e, Ra-pha-e, Ga-bi-ri-e, Mát-ta, Ma-đa-lê-na và tượng Đức Mẹ cứu vớt các linh hồn (nơi đặt tro cốt).

Ngày 19/01/1993, đặt 8 tượng Thánh: Tê-pha-nô, Gio-an Ma-ri-a, Vi-a-nê, Mô-ni-ca, Xê-xi-li-a, A-nê, Phan-xi-cô Át-xi-di, An-phong-xô, Gio-an La-san.

Ngày 09/09/1993, đặt 4 tượng: Chúa Ki-tô Phục Sinh (nơi đặt tro cốt), Thiên Thần hộ thủ, Thánh Mác-tin Po-rét và Thánh Đa-minh.

Ngày 17/03/1994, sửa nền Hang Đá Đức Mẹ, đặt lại tượng Thánh Béc-na-đét và đặt rào sắt ṿng trước Hang Đá.

Ngày 04/04/1996, lắp đặt hoàn chỉnh bộ đèn thánh giá trên tháp Nhà Thờ. Gần 30m bóng nê-on với tổng phí tổn là 5.700.000 đồng VN do đóng góp của bà con giáo dân và khách văng lai.

Tháng 10/98: bắt đầu phá dở khu vực nhà bếp để sửa sang thành ngôi nhà 1 tầng. Tầng trên là phần nối dài của khu nhà xứ, dành làm nhà sinh hoạt, hội họp, giáo ly. Tầng dưới là nhà bếp và nơi ở của những người phục vụ.

Ngày 17/10/99: được vinh dự đón tiếp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đến dâng Thánh Lễ (25 vị Gm, trong đó có Đức Hồng Y, Đức TGM TPHCM)

II. ĐỊA LƯ TỔNG QUÁT:

1.- Tên gọi: Từ trước năm 1960, nhà thờ có tên gọi là Nhà Thờ Nha Trang, thuộc họ Nha Trang. Người b́nh dân c̣n gọi là Nhà Thờ Đá (v́ lối kiến trúc độc đáo như bằng đá), hoặc Nhà Thờ Núi (v́ được xây trên Núi), hoặc Nhà Thờ Ngă Sáu (v́ ở gần Ngă Sáu, tên này ít thông dụng). Ngày 05/07/1957 Giáo Phận Nha Trang chính thức được thành lập, tách rời khỏi Giáo Phận Qui Nhơn, với Đức Giám Mục tiên khởi là Marcel Piquet Lợi. Nhưng măi đến ngày 24/11/1960, Giáo Phận Nha Trang mới được nâng lên hàng Giáo Phận Chánh Toà. Nhà Thờ Nha Trang được chính thức gọi là Nhà Thờ Chánh Toà Nha Trang, và Họ Nha Trang trở thành Giáo Xứ Chánh Toà Nha Trang.

2.- Ranh giới: Sau Hiệp định Genève 1954, giáo dân miền Bắc vào định cư tại Nha Trang ngày càng nhiều, v́ thế năm 1956, một phần họ Nha Trang được tách làm giáo xứ Bắc Thành. Đến năm 1960, giáo xứ Phước Hải được thành lập từ Giáo Xứ Bắc Thành. Rồi giáo xứ Phước Hoà ra đời năm 1972, gồm một phần của Chánh Toà và một phần của Phước Hải. Cuối cùng, vào năm 1974, Giáo xứ Fatima (sau đổi thành Hoà Thuận), được h́nh thành và được tách ra khỏi Giáo Xứ Chánh Toà. Hiện nay, Giáo xứ Chánh Toà trải rộng khoảng 10 km2, Đông giáp Biển Nha Trang (từ đường Lê Lợi đến đường Lư Tự Trọng) và Giáo xứ Bắc Thành (đường Nguyễn Trăi, Lư Tự Trọng). Đông Nam giáp Giáo Xứ Phước Hải (đường Nguyễn Trăi). Đông Bắc giáp Giáo xứ Hoà Thuận (Đường Lê Lợi, Phan Bội Châu, Thống Nhất, đường Hai tháng Tư). Tây và Tây Nam giáp Giáo xứ Phước Hoà (đường rầy xe lửa, đường Lê Hồng Phong, Cao Bá Quát).Bắc giáp sông Cái, Tây Bắc giáp Giáo xứ Chợ Mới. Gồm các phần đất của 8 Phường trong thành phố Nha Trang: Phước Tân, Phương Sơn, Phương Sài, Vạn Thạnh, Vạn Thắng, Xương Huân (1 phần), Lộc Thọ (1 phần), Ngọc Hiệp (Khóm Vĩnh Hội). Số giáo dân giáo xứ Chánh Toà khoảng 3.000 người chiếm tỷ lệ 6% so với dân số rải rác trong 8 Phường (khoảng 50.000 người).

Riêng Phường Phước Tân: Diện tích: 294.200 m2 - có: 2722 hộ dân - dân số: 14.205 người (tính đến 30/10/98) Dân số Công giáo trong Phường gồm 3 giáo khu:

- Phaolô: 144 gia đ́nh - 550 người - Môi Khôi: 106 gia đ́nh - 536 người - Lộ Đức (Khu Lộ Đức c̣n có một phần đất nhỏ thuộc Phương Sơn): 132 gia đ́nh - 570 người

Tổng cộng: 382 gia đ́nh - 1656 người Tỉ lệ: 382/2722 hộ gđ chiếm: 14.03% hộ - 1656/14205 người chiếm 11.65% dân số - Mật độ dân số: 5 người / m2 - Mật độ dân số công giáo: 0.56 người / m2

III. _Các Linh Mục Quản Xứ và Phó Xứ từ 1928 đến nay:

stt Họ và tên Quản xứ Phó xứ Rửa tội

1

Louis Vallet 1928-1937 & 1939-1945   567 người
2 Tourte 1937-1939   48 người
3 Escalère 1945-1949   145 người
4 Jacques Lourdez (Lourdez) 1949-1951   115 người
5 E. Garrigues 1951-1954   414 người
6 Claude Charmot   1951-1955 486 người
7 Pierre Alexandre...      
8 Vincentê Lê Công Khương   1948-1951 212 người
9 Bênađô Phan Văn Hoàng   1952-1953 129 người
10 Giuse Nguyễn Sồ 1954-1957   53 người
11 Gioakim Nguyễn Du   1955 93 người
12 Giuse Phan Văn Hoa   1955-1957 748 người
13 Gioan Nguyễn Quang Xuyên 1957-1958   8 người
14 Hilariô Trần Khắc Hỷ   1957-1958 305 người
15 Giuse Nguyễn Công Nghị 1958-1964 & 1966-1979   2530 người
16 Vincentê Nguyễn Đạo Quán   1958-1960 125 người
17 Giuse Nguyễn Hoàng Kim   1961-1962 77 người
18 Gioan Nguyễn Văn Minh   1962-1964 91 người
19 Antôn Hồ Ngọc Hạnh 1964-1966   243 người
20 Phaolô Đậu Vương Quyền   1965-1967 316 người
21 Giuse Trần Văn Láng   1967-1968 106 người
22 Phaolô Trần Thanh Lộc   1968-1969 74 người
23 Phêrô Trương Trăi   1969-1970 137 người
24 Phaolô Nguyễn Quốc Bửu   1970-1971 76 người
25 Giuse Trần Thanh Phong 1979 (Quản nhiệm) 1972 31 người
26 Simon Vơ Kinh   1973-1975  
27 Phêrô Nguyễn Quang Sách 1979-25/11/2001   852 người
28 Đaminh Nguyễn Công Đắc   1993-2002 354 người
29 Phêrô Phạm Ngọc Phi 25/11/2001-2005    
30 Tôma Nguyễn Thành Nguyên   2002-2004  
31 Giuse Trần Thanh Phong 2005-    
32 Nicôla Nguyễn Hoà   2004-2005  
33 Phêrô Trần Trung Nam   2005-  
34 Giuse Lê Văn Sỹ   2007  
35  Phêrô Nguyễn Đại   2007-2008  
36 G.B Nguyễn Văn Thanh Toàn   2008 – 2009  
37 Antôn Nguyễn Bảo Chi Quốc   2009 – 2011  
38 Gioankim Huỳnh Quốc Vũ   2012 – 11/3/2014  
39 Phêrô Nguyễn viết Duy   2010 – 2012  
40 Phêrô Nguyễn Chí Công   2010 – 9/3/2014  
41 Giuse Nguyễn Đức Nhu   10/3/2014 - ?  
42 Giuse M. Trần Thanh Phong      

 

IV._ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA GIÁO XỨ:

Nằm trên độ cao 12 mét ngay giữa trung tâm thành phố, với kiến trúc Tây Phương độc đáo uy nghiêm, cảnh quan đẹp mắt, Nhà Thờ Chánh Toà thu hút rất nhiều du khách, các nhà quay phim và nhiếp ảnh trong cũng như ngoài nước. Đặc biệt các đôi tân hôn thích được quay video với phong cảnh nhà thờ.

Rất tiếc là vùng đất bao quanh chân núi của nhà thờ đă bị làm xấu đi một phần do dân chúng đến chiếm dụng và xây dựng tuỳ tiện, hạn chế tầm nh́n, và một phần do công trường là nơi sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ đă bị Nhà Nước mượn dụng làm nơi tổ chức những sinh hoạt xa lạ với tôn giáo như: đấu banh, đấu vơ, dạy vơ, trợt pa-tin, buôn bán... Nhà Thờ đă nhiều lần đệ đơn xin được sử dụng lại khu vực công trường này nhưng chưa được trả lời.

Trong việc bảo tồn Nhà Thờ có nhiều ư kiến cho rằng, tuyến đường sắt chạy sát cạnh nhà thờ đă gây chấn động ảnh hưởng rất lớn đến sự vững chắc của nhà thờ.

Nhà thờ rất mong có sự ủng hộ của Nhà Nước trong việc bảo tồn và tôn tạo khu vực chung quanh nhà thờ này.

V. HOA QUẢ ƠN GỌI

- Linh mục:

Đôminicô Ngô Đức Thiện OFM

- Nữ tu

- Tu sĩ:

- Chủng Sinh:

Giuse Nguyễn Văn Quyền

VI._ SINH HOẠT:

Hiện nay, Nhà Thờ Chánh Toà luôn có 2 thánh lễ được cử hành vào lúc 4 giờ 45 sáng và 17 giờ 00 chiều vào các ngày trong tuần. Ngày Chúa nhật có 4 thánh lễ vào lúc: 5 giờ 00, 7 giờ 00, 9 giờ 30 sáng và 16 giờ 30 chiều, và một giờ Chầu Phép Lành lúc 15 giờ 20.

V́ là Nhà Thờ Chánh Toà nên hằng tháng được Đức Giám Mục đến dâng thánh lễ vào Chúa Nhật đầu tháng và các ngày lễ Trọng như Giáng Sinh, Phục Sinh, Bổn Mạng Giáo Phận, Bổn Mạng Giáo xứ, Thánh Lễ làm Phép Dầu...

Về phương tiện sinh hoạt, khu vực Nhà Xứ chỉ đủ làm nơi ăn ở cho hai linh mục và những người phục vụ. Không có pḥng ốc để hội họp và dạy giáo lư. Tháng 03/1995, Linh Mục Phêrô Nguyễn Quang Sách đă cho cải tạo khu vực garage cũ đă hư hỏng ở cổng lên Nhà Thờ thành một căn pḥng nhỏ dùng để hội họp và để xe tang. C̣n việc dạy giáo lư cho các em thiếu nhi phải thực hiện trong nhà thờ, ngoài hành lang, sân nhà thờ và Hang Đá Đức Mẹ... thiếu thốn bàn ghế, nơi sinh hoạt và gặp nhiều khó khăn khi thời tiết thay đổi nắng, gió, mưa... T́nh trạng này hy vọng sẽ khắc phục được khi nhà thờ được trao trả quyền sử dụng khu vực công trường Ngă Sáu.

Người giáo dân giáo xứ Chánh Toà có nguồn gốc từ tứ xứ, lại ở phân tán trên 8 Phường nên cũng là một thách đố cho những vị chăn chiên trong việc quản lư, chăm sóc, hướng dẫn và sửa chữa những sai phạm. Nhưng cũng có mặt thuận lợi về mặt xă hội: v́ ở rải rác nên người giáo dân Chánh Toà sống hoà đồng, sát cánh với bà con xóm giềng lương cũng như các tôn giáo khác, thực hiện tốt các nghĩa vụ của Nhà Nước cũng như góp phần ḿnh xây dựng quê hương, cách riêng Thành Phố Nha Trang ngày càng văn minh và giàu đẹp.

* Nguồn : Trang WEB Giáo Phận Nha Trang

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Chánh ṭa Nha Trang

Xem thêm : Tuyển Tập "H́nh Ảnh Nhà thờ Chánh Ṭa Nha Trang"

 

H́nh ảnh Thánh lễ mừng thánh Cả Giuse, bổn mạng Đức Cha Giuse Giám Mục Giáo Phận Nha Trang. (18/3/2014)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]