Giáo Phận Nha Trang

Nhà thờ Giáo xứ Hộ Diêm

 

Nhà thờ Giáo xứ Hộ Diêm
Giáo hạt Ninh Thuận

 

Địa chỉ :  Nhà Thờ Hộ diêm, Hộ hải, Ninh hải, Ninh thuận.  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh Mục Gioan Baotixita Nguyễn Kim Đệ
Phó xứ     : Linh mục Gioakim Nguyễn Tô Xuân Vinh (1/2016)

Tel

 068-871024

E-mail

http://www.giaoxuhodiem.net

Năm thành lập

 1900 (?)

Bổn mạng

 

Số giáo dân

 7620

Giờ lễ

Chúa nhật     :  4:30   -   7:00

Ngày thường :  4:30   -   18:00 (thứ 5)   -  17:30 (thứ 7)

Giờ lễ có thể thay đổi theo mùa hay mục vụ của Gx. Xin xác nhận trước  khi đi lễ

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Ngôi Thánh Đường giáo xứ Hộ Diêm
                Tập H́nh Ảnh Lưu Trữ Kỷ Niệm 100 Năm Thành Lập GX

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh Ảnh Mẹ CG Hạt Ninh Hải Hành Hương Nhân Dịp Lễ Mônica (25/8/2016)
* H́nh ảnh Giáo Xứ Hộ Diêm Dâng Hoa Kính Mẹ (4/5/2014)
* Giáo Xứ Hộ Diêm Đón Cha Tân Phó Xứ (26/8/2012)
* Mẹ Công Giáo Giáo Hạt Ninh Hải Mừng Lễ Thánh Monica Bổn Mạng (27/8/2012) - H́nh ảnh

* Nhảy Lân Vui Trung Thu Tại Giáo Xứ Hộ Diêm Tối 14.08 Âm Lịch
* Thánh Lễ Tạ Ơn của Tân Linh Mục Giuse Nguyễn Đức Nhu tại Giáo Xứ Hộ Diêm (4/12/2010) - H́nh ảnh
* Tin tức mới nhất của giáo xứ trên diễn đàn Giáo Phận 
* Giáo xứ Hộ Diêm lưu luyến đưa tiễn Cha Cựu và hân hoan đón nhận Cha Tân Phó xứ - H́nh ảnh
* Đức Cha Phó Giuse ban Bí tích Thêm Sức tại Giáo xứ Hộ Diêm

 

Lược sử Giáo xứ Hộ Diêm

1. Vị trí địa lư

Đông giáp Đầm nại. Tây giáp xă Xuân hải. Bắc giáp giáo xứ Thuỷ Lợi. Nam giáp giáo xứ Thanh Điền.

Địa h́nh, địa thế, khí hậu: Vùng đồng bằng, nhiệt đới, nắng dài hơn mưa.

2. H́nh thành và phát triển

Những người sử dụng Quốc lộ 1 di chuyển Nha Trang đi Phan Rang khi đến cây số 8 cách Phan Rang nh́n thấy phía bên trái ngôi thánh đường đồ sộ với ngọn tháp cao vượt lên giữa những xóm đông dân cư, ngất ngưởng trông ra cánh đồng bao la bát ngát, đó là thánh đường giáo xứ Hộ Diêm.

Buổi sơ khai:

Cố Đề (R.P.Villaume) chánh xứ Dinh Thuỷ (Tấn tài), khi đă hoan hỷ về thành quả thu được bởi công cuộc dẫn thuỷ nhập điền vào đồng ruộng Tấn tài, Tấn lộc, Mỹ an và Tân hội do đập nước của ngài xây dựng ở vua Tháp (Lâm cấm), ngài đă đứng ra xin chánh phủ bảo hộ một nhượng địa khá rộng trong đồng bằng Hộ diêm gồm những đất đai hoang vu và ruộng muối phía tây Đầm Nại.

Ngài đă được chấp thuận năm 1891, đúng hơn là vào năm 1900, ngày thành lập Giáo xứ Hộ diêm. Thật sự, Cố Đề v́ quá bận tâm với những công tác quan trọng trong việc kiến thiết đập nước mới Nha trinh của ngài và công cuộc đào mương dẫn thuỷ không thể bắt tay vào việc thành lập và tổ chức họ đạo mới được.Vả lại, chứng nặng tai đă làm cho ngài bất lực trong việc thi hành nhiệm vụ cha. Do đó Đức Giám Mục Van Camelbeke, đại diện Tông toà miền Đông nam phần, đă cử cố Kim (R.P.Geoffroy) từ Qui nhơn vào ngày 30.12.1898 phụ tá ngài. Chính Cố Kim là vị khai sáng thật sự giáo xứ Hộ diêm.

1899-1918, Phụ tá Cố Đề trong một năm rưỡi, sau kế vị ngài khi ngài tử nạn ngày 6.9.1900. Cố Kim lúc đầu cư ngụ trên một g̣ cát gần "mương Ngang" ngày nay, trong một túp lều tranh vừa làm nhà ở vừa nguyện đường. Đời sống ngài rất cơ cực và bận rộn trong nhiệm vụ điều khiển công tŕnh đào mương đập dài 24 km, rộng 08 m, kéo dài trong 10 năm. Mười năm kế tiếp, Ngài dồn nổ lực vào công tác phát quang, san bằng và khai khẩn vùng đất địa bao la đầy lùm bụi và cây bần. Ngài sử dụng máy trắc lượng rất thông thạo và khéo léo đến nổi một kỷ sư hoả xa một ngày nọ đă viện dẫn ngài làm gương cho các đốc công của ông. Ngài cũng lưu tâm học ngôn ngữ Chàm, v́ đa số lao công trong công trường thuộc gốc dân thiểu số dị giáo này.

Đến năm 1906 con mương hoàn tất, Cố Kim đến ở trên một cồn cát rộng và cao hơn, chốn này những năm về trước vài gia đ́nh từ B́nh định, Quảng Nam ngài đă đem vào quy tụ ở đó. Họ đạo Hộ diêm được thành lập, để ngăn nước biển tràn vào đồng ruộng vừa khai khẩn, ngài c̣n phải đắp một con đê đất dài nhiều cây số chạy từ chân núi Cà Đú đến xóm G̣ thao.

Là một nhạc sĩ trứ danh ngài rất thích đánh đàn phong cầm (harmonium) cho con chiên ngài thưởng thức. Hơn nữa, ngài c̣n đặt một dàn chuông 12 cái lớn nhỏ đủ cở đủ giọng, làm trẻ con khoái chí và cũng là hấp lực mạnh gây sự chú ư nhiều người đến Hộ diêm. Đến thời Cố Thiết (R.P.Gallios) ngài đă dẹp dàn chuông này, phân tán số chuông rải rác cùng khắp địa phận Quy nhơn. Điều này làm cho tất cả giáo dân sở tại buồn tiếc lâu ngày.

Cố Kim cũng thành lập một ban nhạc kèn đồng nổi tiếng như dàn chuông, nhưng cuộc oanh tạc của Đồng Minh ngày 28.03.1945 chôn vùi dưới gạch đá nhà xứ phần lớn nhạc cụ, số c̣n lại dần dần biến mất.

Năm 1913, Cố Kim cất lẫm lúa nhà Chung rộng lớn bằng gỗ và dành riêng một phần để ở. Đồng thời ngài cất nguyện đường trên chỗ nhà trường hiện tại (nhà trường cũ) và hoàn thành đầu năm 1914, từ đó có thể để Ḿnh Thánh Chúa thường trực. Nguyện đường này năm 1930 được gỡ ra đem cất nhà thờ G̣ đền.

Ngài tạ thế ngày 04.11.1918 ở Sài g̣n và được an táng tại nghĩa địa Adran tuổi đời chưa đến 50, nhưng thân xác ngài đă kiệt sức v́ những cơn sốt rét thường xuyên cùng với những lo âu và công việc nặng nhọc. Trong giờ lâm chung, hẳn ngài đă vui mừng v́ nh́n thấy Giáo xứ Hộ diêm đạt được số giáo dân 1062 người rải rác trong bốn giáo đoàn Hộ diêm, G̣ đền, Cà đú và Trại cá mà con số giáo dân chỉ ghi 72 người trong năm 1900.

1919-1927, Cố Thiết (R.P.Gallioz) nối tiếp công việc của vị tiền nhiệm trên cả hai phương diện vật chất và tinh thần, ngài đă cho tân tạo một nhà xứ nhỏ có lầu, hầm dự trử và bể nước. Tất cả đă hoàn toàn huỷ hoại trong cuộc oanh tạc ngày 28.3.1945 nói trên. Ngài cũng mở một con đường đất song song với quốc lộ1 từ Cà đú đến G̣ đền, để cho xe ḅ của tá điền nhà Chung di chuyển khắp địa hạt mà khỏi cần quốc lộ1 cũng như khỏi đóng thuế xe. Sau đó, ngài khởi công xây móng ngôi thánh đường hiện tại, nhưng bệnh hoạn buộc ngài phải về Pháp ngày 7.2.1927. Ra đi ngài để lại cho giáo xứ Hộ diêm một đàn ḅ và một đàn cừu.

1928-1943, Cố Lợi (R.P. Piquet sau là giám mục Quy nhơn- Nha trang) với sự cộng tác giáo dân đă kiến thiết thánh đường hiện nay năm 1930 với tổn phí 24000 đồng (thời ấy). Lễ khánh thành trọng thể được cử hành ngày 22.4.1931 do Đức Giám Mục Phú chủ sự (S.E.Mgr.Tardieu). Tiếp đến 1937-1938 ngài kiến thiết thánh đường Cà Đú (Thanh điền) hiện nay và năm 1944 nguyện đường G̣ sạn.

Ngài cũng chú trọng đến việc khai khẩn đất nhà Chung ở Phước Thiện và Phước An, các họ lẻ được tách ra khỏi giáo xứ Tấn tài năm 1938 sát nhập vào Hộ diêm đến năm 1947. Ngài đă lập họ Tầm Chưởng (Phước an) và định cư tại đó, 1924 khoảng 10 gia đ́nh ngèo ở B́nh định và những người xuất thân từ viện mồ côi Đại an (B́nh định). Chính ngài đă phát động phong trào trồng bông g̣n, bắp và nhất là thuốc lá, tạo nguồn lợi cho xứ sơ,û cung cấp nguồn tài chính cho dân sở tại. Nhờ đó cuộc sống họ nên dễ dàng và hưởng được một số tiện nghi ngày nay.

1944-1948, Cố Trí (R.P.Alexandre) chăn sóc con chiên ngài trong một thời buổi đặc biệt khó khăn. V́ vậy, ngài đă thiết lập một xưởng dệt vải lớn cho toàn vùng trong lúc Việt Nam không thể nhập cảng được vải vóc từ ngoại quốc. Ngài đă cho đắp con đê đất mới dài 715 m để đóng kín doi Đầm nại làm thành một đ́a cá cho giáo xứ Hộ diêm. Năm 1947 ngài c̣n xây một thánh đường nhỏ tại Ḥn thiên với một nhà xứ thích hợp để cho một linh mục ở.

Trong thời buổi mất an ninh này, ngài rất bận tâm về việc tổ chức tự vệ cho Giáo xứ mà ngài đă nhúng tay vào từ tháng 6.1946. Do đó ngài được xem như một trong những vị tiền phong quốc sách ấp chiến lược. Theo tháng năm, ngài kiện toàn tổ chức tự vệ này hữu hiệu đến nổi các dân làng kế cận phải chạy đến xin tá túc tại Hộ diêm.

Sự kiện đáng ghi nhận là Cố Trí đă bị gạch ngói vụn nhà xứ đè trọng thương ngày 28.3.1945 trong trận oanh tạc của phi cơ Đồng minh.

1948-1975 Cố Báu (R.P.Gauthier, tổng đại diện).

Công tác đầu tay của vị thừa sai này khi mới đến là xúc tiến xây cất một nhà xứ mới, không lầu nhưng rộng răi hơn nhà cũ, rồi sang việc kiến thiết một ngôi trường gồm 5 lớp khang trang, đến 1958 lại thêm một lớp ngay trên chỗ nhà thờ cũ, như thế chứng tỏ con số trẻ em tăng trưởng nhanh chóng chừng nào.

Từ 1948-1954, như vị tiền nhiệm, ngài thường xuyên củng cố tổ chức tự vệ, cho xây thêm một hệ thống pḥng thủ, tháp canh, có thể liên lạc nhau ban đêm bằng đèn hiệu.

Năm 1955, ngài tái tạo nhà thờ G̣ sạn do thời cuộc bị hoang phế từ tháng 7.1948. Năm 1958 ngài thỉnh các bà Phước St. Paul de Chartres đến G̣ đền để điều khiển trường xứ và thiết lập trường huấn nghệ cho thiếu nữ Thượng duyên hải, sau đó thêm thiếu nữ Chàm.

Năm 1967-1968 Ngài tân tạo nhà xứ Ḥn thiên với hồ chứa nước mưa để có thể an cư một cha nào tuổi tác lớn hoặc dưỡng bệnh về đó đồng thời coi sóc cộng đoàn giáo hữu 470 người.

Giáo xứ Hộ diêm, trong ṿng 70 năm hiện đă tăng trưởng nhanh chóng từ con số 72 lúc sơ khai (1900) tiến đến mức 9310 trong năm 1970. Sự kiện này ban đầu nhờ công cuộc di dân của những gia đ́nh nhất là từ Quảng nam và B́nh Định, tiếp đến nhờ mức độ sinh sản nhanh.Tuy nhiên, cũng có một số đông thiếu đất cất nhà và không làm ăn được đă t́m sinh kế nơi khác.

Nếu trong 70 năm hiện hữu, giáo xứ này có 5 linh mục quản xứ chính thức cộng với 3 linh mục xử lư thường vụ: linh mục Linh, linh mục Lễ và linh mục An, trái lại số linh mục phó tính được khá đông và một số linh mục phụ tá. Ba linh mục đầu tiên trong số ấy: Quư linh mục Ái, linh mục Chẩm và linh mục Binh thường phải lo việc thiêng liêng cho các họ G̣ đền, Cà đú hơn là Hộ diêm. Chỉ từ linh mục Tới trong năm 1928 mới thường trực là phó xứ ở tại Hộ diêm.

Trong những năm dài, các sư huynh ḍng Thánh Giuse đă tiếp tay đáng kể cho hàng giáo phẩm của xứ hoặc đảm nhiệm việc quản thủ ruộng đất (quản lư) hoặc điều khiển trường tiểu học. Các sư huynh phụ trách văn hoá sau này được các thầy chủng viện thực tập thay thế, tiếp đến từ năm 1956 là các bà Phước tu Viện mến Thánh Giá G̣ thị.

Các hoạt động công giáo tiến hành lần lược ra đời và hoạt động nhộn nhịp:

Hội con cái Đức Mẹ ra đời năm 1940 do linh mục Lễ, và năm 1949 linh mục Phước (R.P.Béliard). Hội Thánh Thể năm 1954 do linh mục Sách. Ca đoàn Cécilia được cải tổ do linh mục Hỷ,. Liên minh Thánh Tâm năm1961 do linh mục Hành. Hội các Bà Mẹ Công Giáo năm 1967 do linh mục Lộc và Hùng Dũng năm 1969 do linh mục Thanh.

1975-1978 Giáo xứ được linh mục Giuse Lê khắc Tâm coi sóc, nhưng chỉ một thời gian ngắn ngài bị chứng bệnh ung thư rồi mất. Xác ngài được an táng sau thánh đường Hộ Diêm. Măi đến 1989 giáo xứ mới được Đức Giám Mục bổ nhiệm linh mục Phanxicô Xavie Nguyễn Nhị chính thức về ở với giáo dân, lâu nay chỉ có thầy Martinô Hồ Đắc Trung và các linh mục xung quanh đến dâng thánh lễ và ban các bí tích. Năm 1990 ngài tổ chức lễ Tạ Ơn 90 năm thành lập Giáo xứ rất thành công.

Thời gian này ngài đứng ra tổ chức, xây dựng lại các đoàn thể, các phong trào đạo đức lâu nay không ai chăm sóc. Đời sống đạo của Giáo xứ như được ngọn gió mới thổi bùng lên ngọn lửa từ những mẫu than âm ỉ dưới lớp tro.

Đến 1996, ngài sử sang lại ngôi thánh đường, cho sơn lại tường trước đây quét vôi, thay và sơn lại ngói cũ, nâng và mở rộng cung thánh. Trong thời gian này ngài sángd kiến đập vách nhà Lẫm thay bằng vách gỗ, phía trên đóng râm ri thoáng mát và rộng răi có thể chứa đông giáo dân tham dự thánh lễ trong các lễ trọng và Chúa nhật. Đây cũng là nơi hội họp, dạy giáo lư, sinh hoạt văn hoá. Ngài c̣n tổ chức những phong trào văn nghệ, đặc biệt những giải bóng đá thiếu niên nhi đồng và dịp hè.

Năm 1998, Đức Giám Mục bổ nhiệm linh mục phó Giuse Nguyễn Đức Long trong niềm vui sướng hồ hởi của giáo dân, cùng cộng tác với linh mục quản xứ ngài cho trồng cây xanh và lác đá xung quanh nhà thờ, bắt hệ thống quạt. Ngôi thánh đường càng thêm khang trang, lộng lẫy. Đồng thời ngài xin Đức Giám Mục tiền mua lại hai ngôi nhà nằm trong khung viên thánh đường để có nơi hội họp và sinh hoạt cho các đoàn thể. Từng ngày giáo xứ vững bước đi lên trong đời sống đức tin và trong t́nh đoàn kết yêu thương.

Các linh mục phụ trách giáo xứ từ ngày thành lập đến nay:

  • Cố Kim (R.P.Julien Geoffroy)1899-1918.

  • Linh mục Antôn Linh (Xử lư thường vụ) 1918-1919.

  • Cố Thiết (R.P.Pierre Gallioz) 1919-1928.

  • Cố Lợi (SE Mrg. Piquet)1928-1943.

  • Linh mục Anrê Lễ (XLTV)1943-1944.

  • Cố Trí (R.P.Pierre Alexandre) 1944-1948.

  • Linh mục Antôn An (XLTM)1945-1946.

  • Cố Báu (R.P Pierre Gauthier)1948-1975.

  • Linh mục Giuse Lê khắc Tâm 1975-1978, Ngài qua đời 1978 được an táng tại thánh đường Hộ diêm.

  • Linh mục Gb Phạm hồng Thái, Quản xứ Thanh điền kiêm nhiệm giáo xứ Hộ diêm, trong thời gian Đức giám mục chưa bổ nhiệm được linh mục quản xứ từ 1978-1989.

  • Linh mục Fx Nguyễn Nhị 1989- đến nay.

  • Linh mục phó xứ:

  • Quư linh mục Jos Ái 1921-1924.

  • Ant Chẩm 1924-1926.

  • Step Bính 1926-1928.

  • Thom Tới 1928-1933.

  • Phêrô Quá 1933-1934.

  • Aug Long 1934-1935.

  • Anrê Lễ 1935-1941.

  • Thom Hườn 1941-1942

  • Gb Quảng 1942-1943.

  • Jos Số 1943-1944.

  • Martinô Hộ 1944.

  • Toach Hoá 1944.

  • Giuse Nghị 1944-1945.

  • Vinc Khương 1945-1946

  • Cố Minh (R.P. Tamet) 1946-1949.

  • Cố Lộc (R.P. Jacq Cuordez) 1946-1947.

  • Cố Phước (R.P.Don. Béliard) 1947-1953

  • Linh mục Luy Nhẫn 1953.

  • Phêrô Sách 1953-1955

  • Giuse Châu 1955-1956.

  • Phêrô Mân 1956-1957

  • Jos Tâm 1957-1959

  • Hil Hỷ 1959-1960

  • Phêrô Hành 1960-1965

  • Alex Ngọc 1962-1964

  • Phao lô Tịnh 1964-1967

  • Phao lô Lộc 1967-1968

  • Tadêô Thanh 1968-1970

  • Gb Thái 1970-1973.

  • Giuse Tinh 1973-1976.

  • FX Nguyễn Nhị

  • Giuse Long 1998- 2000.

  • Phanxicô Assisi Nguyễn Tôn Sùng 2000 - nay

  • Phó xứ: Antôn Nguyễn Ngọc Trăi 2005 - nay

Hoa quả ơn gọi của giáo xứ

  • Linh mục Fr Nguyễn Tôn Sùng

  • Linh mục Giuse Trần Văn Láng

  • Linh mục Jb Lê Văn Nh́

  • Linh mục Giuse Nguyễn Đức Long

Tu sĩ

  • Ḍng Mến Thánh Giá: Nữ tu Adrienne - Nữ tu Sophie Kết - Nữ tu Christine Phụng -Nữ tu Phạm thị Cúc Hoa - Nữ tu Nguyễn thị Trung - Nữ tu Phạm Thị Mai Linh - Nữ tu Thuư - Nữ tu Nguyễn thị Định - Nữ tu Nguyễn thị Đẹp -Nữ tu Nguyễn thị Thay

  • Ḍng Khiết Tâm Đức Mẹ B́nh Cang: Nữ tu Mélanie Minh Loan - Nữ tu Jean Marie Chế - Nữ tu Kim - Nữ tu Mến - Nữ tu Trần Thị An Tuyền - Nữ tu Trần Thị Thuư

Sinh hoạt giáo xứ

1. Các lớp giáo lư

Lớp giáo lư vở ḷng hằng năm vào dịp hè. Lớp giáo lư Kinh thánh phổ thông cho mọi giới vào ngày Chúa Nhật.

Lớp giáo lư dự bị hôn nhân hằng năm 2 lớp tổ chức học vào mùa Chay và mùa Vọng.

Lớp giáo lư viên giáo xứ sinh hoạt theo quy chế của giáo phận.

Giáo lư hôn nhân: Hằng năm tổ chức 2 khoá giáo lư hôn nhân vào dịp Mùa Chay và Mùa Vọng. Học tập trung vào dịp tối, thời gian từ 3-5 tháng. Đối tượng thanh niên thanh nữ chưa lập gia đ́nh.

2. Các hoạt động:

Đặc biệt quan tâm đến người nghèo, người neo đơn, bệnh tật. Định kỳ cứ 3 tháng một lần và dịp đại lễ: Mục vụ Bí tích và phát quà.

Hướng tương lai

Ưu tiên của giáo xứ giáo lư phụng vụ cho mọi giới. Ước mong giải quyết lao động nâng cao thu nhập cho dân. Giáo dục cho dân: Một xoá bỏ ư thức ỷ lại; một bản lĩnh sống đạo chiều sâu: Tức là đem Lời Chúa vào cuộc sống cụ thể qua đức ái và sự hiệp nhất.

Chú tâm đến việc tái truyền giáo cho giáo dân nhiều hơn. Sáng kiến bằng mọi h́nh thức sống đạo, tổ chức đại lễ. Nhằm phát động một ḷng nhiệt thành nhà Chúa, một đoàn kết và kích thích mọi người hăy trở về nguồn của đức tin lẫn xă hội văn hoá. Muốn truyền giáo, trước tiên phải hội nhập và thích nghi về mọi mặt. Loan báo bằng cuộc sống quan trọng hơn và là bước đầu cho một thuyết phục. Đối tượng: Cho hết mọi người.

....................

Ngôi Thánh Đường giáo xứ Hộ Diêm

Nếu ai đă một lần đi ngang qua tỉnh Ninh Thuận, dọc theo quốc lộ 1A, đều dễ dàng nh́n thấy ngôi thánh đường Hộ Diêm nguy nga với tháp chuông cao vút giữa một xóm dân cư đông đúc, bao quanh là cánh đồng lúa bát ngát. Nét đặc trưng tiêu biểu chính là dáng vẻ cổ kính theo lối kiến trúc Tây phương. Có thể coi đây là một công tŕnh văn hóa cổ xưa hiếm hoi so với các nhà thờ khác trong giáo phận Nha Trang.

1. Lối kiến trúc:

Với đặc điểm là một giáo xứ được các Cha Thừa sai Pháp gầy dựng và cai quản trong một thời gian khá dài, đương nhiên ảnh hưởng về các mặt văn hóa, lối kiến trúc….phần lớn đều mang đậm màu sắc văn hóa Tây phương. Sự h́nh thành nên ngôi thánh đường lúc ấy rơ ràng là một chứng tích cụ thể về sự ảnh hưởng này, nhưng cũng thật xứng tầm và biểu thị rơ nét đối với sự tăng triển giáo dân nhanh chóng ở Việt Nam.

Ngôi thánh đường giáo xứ Hộ Diêm được thiết kế theo kiểu gô-tích (style gothique). Đây là một loại h́nh nghệ thuật có nguồn gốc phát sinh từ nước Pháp vào nửa đầu thế kỷ XII. Nghệ thuật này đă tỏa sáng hơn 400 năm, nhất là từ giữa thế kỷ XIII đến cuối thế kỷ XIV, chỉ đến khi nghệ thuật Phục hưng ra đời (giữa thế kỷ XV) th́ nó mới lụi tàn. Những hoa văn phía trên các cửa ra vào, các ṿm cong bên trong thánh đường, tháp chuông…và đặc điểm sử dụng ánh sáng xuyên qua các cửa kính màu để tăng thêm sự lung linh, huy hoàng đă thể hiện rất rơ loại h́nh nghệ thuật này.

2. Thời điểm thi công:

Trong thời gian Cha Pierre Gallioz (Cố Thiết) làm quản xứ, Ngài đă thấy trước khả năng phát triển của giáo xứ sẽ lớn mạnh về mọi mặt. Mặc dù vào thời điểm ấy, số lượng giáo dân chỉ vào khoảng gần 2.000 người. Với sự giúp đỡ của Hội Thừa Sai Paris, vào năm 1927, Ngài đă có trong tay bản thiết kế và nhanh chóng bắt tay vào việc xây dựng phần móng.

Qua những nhân chứng kể lại, phần móng nhà thờ được đóng cừ rất quy mô v́ nơi đây là vùng trũng. Người ta chặt những gốc tre già to chắc từ Du Long (Xă Công Hải) để đóng xen kẽ với những gốc “đưng” có đường kính từ 15 – 20 cm. Cự ly đóng rất dày tạo thành một khối vững chắc khó có thể xảy ra hiện tượng nứt nẻ về sau. Bằng chứng là phần móng ngôi nhà xứ cũng được xử lư theo như quy tŕnh đă thực hiện móng nhà thờ và sau vụ đánh bom của quân đồng minh làm sập nhà xứ, đến khi cố Báu xây dựng lại ngôi “nhà vuông” hiện nay, vẫn không thể phá bỏ kiền móng cũ v́ quá chắc chắn.

Sau giai đoạn thi công phần móng, v́ lư do sức khỏe, cố Thiết đành phải về Pháp để lại công tŕnh dở dang. Nhưng từ những cơ sở ban đầu rất ổn định mà vị kế tục nhiệm vụ của Ngài đă gặp nhiều thuận lợi để tiếp tục xây dựng công tŕnh.

3. Mô tả khái quát về ngôi thánh đường:

Nhà thờ Hộ Diêm có chiều dài 40 mét, chiều rộng lớn nhất ở hai cánh có gian cung thánh là 20 mét. Phần diện tích chính thức dành cho giáo dân tham dự khoảng trên 300 m2. Chỗ ngồi ước tính chỉ đủ cho khoảng 700 người. Tường nhà thờ có độ dày 0,4 m và cao 7 m (tính đến đuôi mái). Do việc xây dựng rập khuôn theo lối kiến trúc của Tây phương vùng ôn đới, nên nhà thờ chỉ có 3 cửa đi chính: trước tiền đường và hai bên tháp chuông. Cửa sổ rộng lớn được lắp kính màu “vitrail” của Pháp. Bước vào bên trong người ta càng ngạc nhiên hơn v́ những hàng trụ có đường kính 0,9 m vươn cao đỡ các ṿm cong bên trên. Phần ṿm và mái nhà thờ là khâu thi công rất công phu: người ta dùng gỗ uốn cong thay cho vật liệu sắt để làm thành các khung ṿm, kể cả phần ṿm chính giữa có khẩu độ khá lớn. Ta có thể h́nh dung các ṿm lớn nhỏ ấy như là những tán dù. Phần trên ṿm là những v́ kèo làm bằng gỗ căm xe có mặt rộng đến 50cm. Mái nhà thờ lợp ngói móc, độ dốc cao. Các đ̣n tay, rui, lách đều có kích cỡ lớn hơn mức b́nh thường. Công tŕnh được trang trí nhiều hoa văn, đường nét rất công phu, tỉ mỉ. Gian cung thánh có diện tích 70 m2, nửa phía sau có trang trí các khung h́nh hoa bách hợp bằng bê tông, nhằm tạo thêm vẻ uy nghi và trang trọng.

Bàn thờ chính được thực hiện khá công phu với nhiều tháp nhỏ và hoa văn sắc sảo. Bên dưới là mô h́nh khung cảnh Bữa Tiệc Ly. Bao quanh phía sau cung thánh là một nửa ṿng cung được thiết kế thêm 5 bàn thờ nhỏ đặt các tượng: Thánh Tâm Chúa – Đức Mẹ - Thánh Giuse – Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu. Trên bàn thờ c̣n lại là tượng Thánh Anrê Kim Thông, tay cầm cành lá vinh thắng, tay c̣n lại cầm chiếc gông để nhắc nhớ với mọi người nhất là các thành viên hội đồng giáo xứ rằng: Ngài là một chứng tá cụ thể cho tất cả và v́ tất cả, nhất là việc giúp đỡ các cha thừa sai, các linh mục…trong công cuộc truyền bá Tin mừng và mở mang Nước Chúa.

Tháp chuông nhà thờ có độ cao 36 mét. Tầng 1 dành làm nơi cho Ca đoàn. Lầu chuông được đặt phía trên cao khoảng 25 mét. Trên cùng là ngọn tháp vươn cao cùng với cây Thánh giá. Trước khi khởi công phần móng ngôi thánh đường, Cố Thiết đă đặt đúc 3 quả chuông tương xứng với công tŕnh nhà thờ trong tương lai.

Tưởng cũng nên nhắc lại về chuyện những quả chuông: giai đoạn cố Kim làm quản xứ, Ngài đă lắp đặt một dàn chuông 12 cái đủ cỡ, đủ giọng (vị trí phía trước nhà lẫm cũ). Khi cố Thiết đến kế tục nhiệm vụ, Ngài đă cho tháo dỡ dàn chuông này làm nhiều người luyến tiếc và thắc mắc. Số chuông ấy được phân bổ cho nhiều nhà thờ khác trong giáo phận. Ba quả chuông hiện nay đang sử dụng được đặt hàng tại Pháp vào năm 1924 do xưởng đúc chuông mang tên “G. Paccard” thuộc vùng Annecy- Le Vieux, tỉnh Savoie Pháp. (Annecy là vùng có nhiều khu công nghiệp nổi tiếng về luyện đúc kim loại - dệt vải và ngành thực phẩm, nằm cách thủ đô Paris 452 km về hướng Tây-Nam). Quả chuông ở giữa lớn nhất, có đường kính 1m (cung Sol) – Chuông hướng Nam (có cung Si) đường kính 0,9 m và chuông hướng Bắc (cung Đô) đường kính 0,8 m. Cả 3 quả chuông đều có đúc 3 tầng hoa văn rất tinh vi, nhưng kiểu dáng hoa văn lại khác nhau. Mỗi chuông có 4 đai để đeo vào xà gỗ có chạm trổ h́nh mặt người. Ở bốn hướng khác nhau trên thành chuông (được chia đều như h́nh chữ thập) là biểu tượng của xưởng đúc, ba hướng c̣n lại là h́nh Thánh giá, h́nh thiên thần cầm loa kèn và h́nh các Thánh. Phía dưới một chút là các ḍng chữ cao 5cm bằng tiếng Pháp với ư nghĩa như sau: Giáo xứ Hộ Diêm – Đời Cha Pierre Gallioz quản xứ - Niên đại 1924.

Những người con Hộ Diêm có thể tự hào về tiếng chuông nơi ngôi giáo đường thân yêu này: rất thánh thót, rất linh thiêng…Tiếng chuông vẫn vang lên đều đặn qua bao thăng trầm của cuộc sống để kêu gọi mọi tín hữu quy tụ về Nhà Chúa. Tiếng chuông như chia sẻ bao niềm vui và cả nỗi buồn trong sinh hoạt của cộng đồng xứ đạo này. Tiếng chuông vẫn vọng ngân....như niềm tri ân sâu xa đối với những bậc tiền nhân đă quên ḿnh để khai mở Nước Chúa.

Để có thể kéo những quả chuông nặng hơn 4 tạ này, người ta ṿng dây chuông vào một bánh xe có đường kính từ 1m đến 1,5m tùy theo kích cỡ chuông (tạm gọi là những bánh trớn). Đai chuông được liên kết với trục tâm bánh xe, lúc khởi động th́ có vẻ như hơi nặng, nhưng khi đă có trớn th́ người đánh chuông chỉ cần thao tác nhẹ nhàng để tạo thêm trớn. Với quy tŕnh như thế, ngoài việc nghe được âm thanh tuyệt hảo do tay nghề đúc, người ta c̣n nghe tiếng chuông vang lên rất khoan thai, sâu lắng. Hơn 80 năm sử dụng, độ ṃn trên thành chuông không đáng kể.

Đến đây, chắc nhiều người dân Hộ Diêm đă giải tỏa được thắc mắc: v́ sao Cố Thiết đă tháo dở dàn chuông 12 cái mà Cố Kim đă lắp đặt trước đó!....

4. Quá tŕnh thi công:

Người đốc công cho đội ngũ thợ xây là ông Đoàn Văn Thi (thường gọi là ông Cai) đă có nhiều kinh nghiệm thi công nhiều công tŕnh phụng tự, ḍng tu… dọc miền Trung. Vốn là người gốc Huế, nhưng nhóm thợ do ông quản lư thuộc dân làng Kim Bồng, một làng nghề truyền thống về xây dựng thuộc tỉnh B́nh Định. Mỗi ngày có gần trăm thợ thi công, không kể những công phụ do giáo dân sở tại đóng góp, nên thời gian thi công chỉ gần 3 năm đă hoàn thành công tŕnh. Đội ngũ thợ dựng láng trại ở tại chỗ (nơi phần đất trường tiểu học ngày nay, đối diện với nhà xứ). Giáo dân trong xứ đă có thói quen làm công ích từ lúc bấy giờ (thường gọi là làm xâu). Công việc phần lớn là phụ hồ, khiêng vác vật tư, gánh cát nền…có khi làm cả ban đêm. Vữa hồ xây là một hỗn hợp gồm: đường táng đen, vôi, chất nhớt gai xương rồng. Gạch được đúc tại chỗ (nơi trụ sở UBND xă bây giờ) với quy cách đặc biệt.

Mỗi khi thực hiện một công việc cần số lượng lớn người tham gia như gác v́ kèo chẳng hạn, toán thợ ḿnh trần, đầu chít khăn nhiễu ḥ reo theo nhịp trống trước sự hiếu kỳ của đông đảo giáo dân. Sau khi đưa vào vị trí an toàn, công việc thi công tạm dừng, giáo xứ giết ḅ mừng công…..

5. Lễ Khánh Thành Ngôi Thánh Đường:

Chúng ta cần lưu ư về dịp lễ khánh thành nhà thờ Hộ Diêm: vào lúc ấy, giáo xứ đă tổ chức Tam Nhật để đánh dấu ngày kỷ niệm đặc biệt này, đồng thời là dịp để cầu xin ơn lành của Chúa.

Bài viết của một nhân chứng (không ghi tên) mô tả về ngày lễ khánh thành nhà thờ bằng tiếng Pháp được đăng trên nguyệt san Mémorial của địa phận Quy Nhơn số ra tháng 5 năm 1931:

Buổi tối ngày thứ hai, 20/4/1931, một toán kỵ binh và đoàn người đi xe đạp đă xuất phát để đón Đức Cha Augustino Tardieu Phú. Trong khi đó đội kèn, đội vệ binh Thánh Thể, ca đoàn Tông đồ, các chức việc họ và các cha đứng đợi ở đầu đường. Đường làng được trang trí các khải hoàn môn và cờ treo rợp trời. Đêm dần buông....từ xa.....có ánh đèn pha......xe của Đức Cha đến rồi....ai nấy vào vị trí của ḿnh. Mọi người đốt đuốc lên, chuông đổ liên hồi, mọi sự đă sẵn sàng để nghênh đón Đức Giám Mục. Cùng đi với Ngài có cha Gagnaire và cha Solvignon. Trên một xe khác có các cha Guéno, cha Darré và cha Garrigues. Đức Giám Mục mặc áo rộng trắng đi giữa đoàn đông dân chúng tiến vào nhà thờ mới. Khi mọi sự đă ổn định, giáo dân cùng quỳ gối để đón nhận phép lành của Ngài.

Ngài đứng giữa cung thánh cùng với các cha Gagnaire, cha Guéno, cha Solvignon, cha Darré, cha Garrigues, cha Piquet, cha Phiến, cha Tới, cha Tuần và cha Ban. Trong lúc ấy, ca đoàn cất cao bài ca về Thánh Thể Chúa. Nghi thức khai mạc Tam nhật mừng cung hiến Thánh đường bắt đầu…Khi nghi thức kết thúc, đoàn rước cùng đồng hành với Đức Cha về nhà xứ.

Đến trước tiền đường nhà thờ, đoàn rước dừng lại, ca đoàn Tông đồ tay cầm đuốc biểu diễn xếp thành nhiều ṿng tṛn đan xen nhau tạo nên một ấn tượng tuyệt vời. Ánh đuốc chiếu sáng cả con đường dẫn về nhà xứ. Về đến nơi, Đức Cha mới thực sự thán phục v́ cả một không gian chung quanh ngôi thánh đường tràn ngập trong ánh sáng.

Sáng ngày thứ ba, 21/4/1931, lúc 7g là thánh lễ “Rước lễ bao đồng”. Phần khai mạc thật long trọng. Cũng như ngày hôm trước, đi đầu là đội kèn, đến nhóm thiếu nhi của các giáo xứ tay cầm giỏ hoa để cung nghinh Thánh Thể Chúa. Các chức việc họ trong trang phục đại lễ, sau cùng là đoàn linh mục đồng tế cùng với Đức Giám Mục. Đoàn rước tiến vào trong trật tự. Nhà thờ được trang hoàng lộng lẫy. Thánh lễ bắt đầu…Sau bài Phúc âm, Cha Phiến, trong một bài giảng rất hùng hồn đă mời gọi mọi người tín hữu phải lo xây dựng ngôi nhà Chúa trong chính tâm hồn mỗi người. Như một kiến trúc sư tài t́nh, ngài đă chỉ ra những vật liệu cần thiết để tạo nên sự bền vững cho ngôi nhà Chúa, chính là sự nhiệt thành và ḷng bao dung.

Từ sáng sớm, cả giáo xứ đă đến gặp gỡ Đức Cha để cám ơn Ngài. Ca đoàn Tông đồ hát vang những bài chúc mừng. Trong phần đáp từ, Ngài đă khen ngợi và nhắc nhớ cho tất cả về công lao của các cố Đề, cố Kim và cố Thiết, là những vị tiền nhiệm đă khai sinh và gầy dựng nên xứ đạo này. Sau lời đáp từ của Đức Cha, một bài hát khác lại vang lên để chúc mừng các cha hiện diện. Cha Gagnaire muốn đáp từ nhưng ngài không thể nói được v́ bị xúc động khi nghĩ đến cố Đề, một người bạn rất thân thiết với ngài….Cha Dung đă thay lời cám ơn các chức việc họ và giáo xứ v́ cuộc tiếp xúc này.

Ngày đă gần tàn, nhưng có thể nói rằng: nhà thờ không lúc nào ngớt giáo dân đến thăm và cầu nguyện. Nhiều người dọn ḿnh xưng tội (số người xưng tội và rước lễ trong 3 ngày này rất đông). Tối hôm đó, có chầu Phép Lành trọng thể do cha Lư, quản xứ Phan rí chủ sự.

Sau bữa tối, để tạo bầu khí vui vẻ cho khách mời, các giáo dân và cả những người ngoại đạo đă cùng diễn tuồng các Thánh Tử Đạo.

Ngày 22/4/1931, ngày trọng đại đă đến, từ lúc 7g sáng, Đức Giám Mục đă tiến hành nghi lễ Cung Hiến Thánh Đường. Đến dự có ông Alérini, công sứ Pháp tại Phan rang, ông Quản Đạo ở tỉnh Ninh Thuận và các công dân Pháp cùng gia đ́nh họ ở Phan rang. Trong sáng thứ tư, số cha đến tham dự tăng thêm: có cha Labiausse, Bề trên địa phận đến từ Đà Lạt, cùng với cha Nicolas, cha Vallet và cha Phước. Sau Phúc Âm, Đức Giám Mục đă giảng giải Lời Chúa một cách cặn kẽ và mời gọi mọi người hăy chuẩn bị tâm hồn thật thánh thiện để Chúa đến ngự. Sau Thánh lễ, Ngài ban Phép Lành Ṭa Thánh và Ơn Toàn Xá cho mọi tín hữu.

Nghi lễ kết thúc, đoàn rước cùng với ban giúp lễ rước Đức Cha về nhà xứ. Lúc ấy đă có nhiều quan khách người Pháp đang đứng chờ để chúc mừng Ngài. Cố Lợi đă tranh thủ thời gian này để bày tỏ ḷng biết ơn đối với Đức Giám Mục v́ sự hiện diện của Ngài đă làm tăng thêm phần long trọng cho ngày lễ hôm nay. Bằng những lời lẽ thật cảm động, cố Lợi đă gợi lại về sự hoàn thành của công tŕnh là nhờ công lao các vị tiền nhiệm của ngài là cố Đề, cố Kim và cố Thiết. Mọi người hăy luôn ghi nhớ và tri ân. Cố Lợi cám ơn vị công sứ Pháp và quư quan khách đă đáp lại lời mời đến tham dự. Ngài không quên cám ơn về những tấm ḷng hào hiệp đă dành cho giáo xứ. Có thể nói, Ngài thật hănh diện về những người cộng sự của ḿnh đă chung tay góp sức cho công việc xây dựng ngôi nhà Chúa. Cuối cùng, ngài cầu xin Chúa ban nhiều ơn lành cho những người thợ xây và gia đ́nh họ. Cám ơn tất cả…..lời cám ơn rất chân thành….Sau những tiếng vỗ tay, Đức Giám Mục đă cám ơn về những lời chúc mừng trong t́nh cha con. Ngài nhắc lại sự liệt kê chi tiết mà cố Lợi đă nêu ra: về những người khởi xướng, những thợ xây, những cộng sự trong việc xây dựng ngôi thánh đường….nhưng (cố Lợi) thật khiêm nhường khi không nói ǵ đến ḿnh.

Sau những lời trao đổi chân t́nh, mọi người cùng tiến về phía trước tiền đường nhà thờ để chụp ảnh lưu niệm về dịp kỷ niệm đáng nhớ này. Tối đến, mặc dù đă khá mệt, nhưng Đức Cha vẫn cố gắng chủ sự chầu Thánh Thể. Trong lúc Ngài nâng cao Thánh Thể Chúa: đội vệ binh tay bồng súng, trống đánh kèn vang, mọi người cùng bái lạy Đấng Cứu Thế của nhân loại.

Đă đến ngày cuối cùng của Tam Nhật. Có thể nói, ngày đầu tiên như là sự chuẩn bị cho cuộc Đại lễ, c̣n ngày cuối cùng này được dành cho việc cảm tạ - tri ân v́ những ơn lành Chúa đă ban cho trong thời gian qua. Thánh lễ được cha Dung, quản xứ Mằng Lăng, cử hành cách trang trọng. Trong bài giảng, mọi người được nghe lời giảng thuyết rất sâu sắc và cụ thể của cha Solvignon…..Ngài nhắc lại công lao của các đấng đă phục vụ tại Hộ Diêm, quy tụ các con chiên về cùng chủ chăn và làm tăng triển h́nh ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn họ.

Để kết thúc những ngày trọng đại này, vào tối ngày 23/4, một nghi thức trang trọng được cố Lợi chủ sự. Ngài quỳ gối trước Thánh Thể Chúa và cất cao giọng hát bài “TE DEUM” bằng tất cả con tim.

Ngài như quên đi mọi buồn phiền, khổ nhọc đă gặp phải trong việc xây dựng ngôi thánh đường. Cảm tạ Thầy Chí Thánh đă phù trợ cho công tŕnh được hoàn tất rất khang trang và rộng lớn, một công tŕnh thật cần thiết cho giáo xứ v́ sự gia tăng giáo dân rất nhanh chóng. Tưởng nhớ và tri ân cách đặc biệt đến Đức Cha Đamianô Grangeon Mẫn, đă cho phép và tạo nhiều điều kiện thuận lợi. Qua tâm t́nh liên kết với Thánh Thể Chúa, cố sở đă không quên một ai: Đức Giám Mục, các linh mục tiền nhiệm tại Hộ Diêm, các cha phó xứ và nhất là những người cộng sự của ngài đă khéo léo tổ chức dịp đại lễ này, quư bà con giáo dân đă sẵn ḷng đóng góp nhiều ngày công, các thợ xây…và hết tất cả mọi người với ḷng tri ân chân thành.

Dịp Đại lễ này đă gây ấn tượng mănh liệt cho nhiều giáo dân và cả những người ngoại đạo: trước tiên đối với những người công giáo để họ hăng say và nhiệt thành hơn trong công việc nhà Chúa, v́ giờ đây Thiên Chúa đang ngự trị ở giữa họ; thứ đến đối với những lương dân, để họ nhận ra và đi theo con đường chính lộ sẽ dẫn họ về Quê thật, nơi có cuộc sống vĩnh cửu, hầu cho mọi người cùng được quy tụ về Nhà Cha chung “trong một đoàn chiên và một chủ chiên”.

Kể từ lúc cố Thiết khởi công xây móng năm 1927 đến đời cố Lợi hoàn thành, thời gian mất khoảng 3 năm. Tổng giá trị công tŕnh là 24.000 đồng (tương đương 2.400 cây vàng vào thời điểm ấy).....

6. Những mốc thời gian bảo tŕ và chỉnh trang:

Qua 80 năm sử dụng, ngôi thánh đường vẫn sừng sững hiên ngang; tuy nhiên với thời tiết khắc nghiệt của vùng đất Phan rang này, hư hao là điều không thể tránh khỏi.

Có thể ghi nhận những mốc thời gian chỉnh trang Ngôi Thánh Đường như sau:

- Năm 1965: sau 35 năm, cố Báu cho thay toàn bộ ngói cũ bằng loại ngói đỏ mới, có lổ để cột thép v́ độ dốc mái lớn. Trong thời gian sửa chữa, thánh lễ được cử hành tạm thời tại hang đá Đức Mẹ.

- Năm 1968: tô lại toàn bộ phần ṿm bị gảy nứt do ảnh hưởng của mái lợp cũ trước đây bị thấm nước.

- Năm 1996: cha Fx. Nguyễn Nhị thực hiện việc đại tu sau hơn 60 năm gồm các công việc trọng tâm sau: tô trát lại vách nhà thờ, sơn mới toàn bộ nhà thờ, đóng mới ghế ngồi, tu sửa phần mái (thay cây bị mối mọt, ngói bể), sửa chữa các khung cửa và lấp kính mới, tân trang hệ thống điện thắp sáng. Do việc đại tu phải mất nhiều thời gian, nên ngài đă cho cải tạo nhà Lẫm làm nguyện đường tạm để dâng Thánh lễ. Việc đại tu tốn khá nhiều kinh phí trên 300 triệu đồng. Giáo xứ may mắn được sự giúp đỡ của Đức cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, Đức Giám Mục Phaolô giáo phận, các ân nhân và bà con giáo dân trong nước cũng như ở nước ngoài…

- Năm 2000: cha Fr. Assisi Nguyễn Tôn Sùng chỉnh trang lại cung thánh, đặt bàn thờ mới bằng đá granit (do gia đ́nh Sr. Đoàn Hồng-MTG.QN dâng cúng), trổ thêm 4 cửa đi hai bên hông nhà thờ cho thông thoáng hơn.

- Năm 2009: cha Inhaxiô Trần Ngà tiến hành dán đá phần chóp tháp chuông, sơn mới bên ngoài nhà thờ và đúc lại phần ṿm ở gian cung thánh.

Hy vọng rằng: những người con Hộ Diêm sẽ măi trân trọng và bảo tồn ngôi Nhà Chúa thật khang trang và huy hoàng. Đồng thời cũng biết chuẩn bị tâm hồn của chính mỗi người thật trong sạch, thánh thiện để xứng đáng là đền thờ Chúa ngự

Nguồn : http://www.giaoxuhodiem.net/

 

H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Hộ Diêm

H́nh ảnh Giáo Xứ Hộ Diêm Dâng Hoa Kính Mẹ (4/5/2014)

Nguồn : Website GP Nha Trang

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

...................................................

 

H́nh ảnh Nhà Đa Năng của giáo xứ Hộ Diêm

Lễ tro năm 2011

V́ số người tham dự quá đông, nhà thờ không đủ sức chứa, nên Thánh Lễ được cử hành tại Nhà đa năng của Giáo xứ.

<Nguồn : Website GP Nha Trang >

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]