Giáo phận Phan Thiết

Nhà thờ Giáo xứ Cù Mi

 

Nhà thờ Giáo xứ Cù Mi
Giáo hạt Hàm Tân

 

Địa chỉ : Hiệp Ḥa Xă Tân Thắng, Hàm Tân, B́nh Thuận ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Gioakim Nguyễn Kim Hà (14/5/2012)

Tel

(062) 875-041

E-mail

http://gxcumi.blogspot.com/

Năm thành lập

1885

Bổn mạng

Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15/8)

Số giáo dân

6500

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Lược sử Giáo xứ Cù Mi (Website Gx Cù Mi)

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo xứ Cù Mi, Chầu Ḿnh Thánh Chúa (13/1/2013)  -  H́nh ảnh
* Thánh lễ Tạ ơn tân Linh mục Thomas Nguyễn Văn Hiệp tại thánh đường Giáo xứ Cù Mi. (17/6/2012)

 

Lược sử Giáo xứ Cù Mi

Nguồn : Trang web Giáo Phận Phan Thiết

Giáo xứ Cù Mi hiện thuộc xă Tân Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh B́nh Thuận. Thoạt đầu có Cù Mi “Hộ” (giáo xứ) và Cù Mi “Cửa” (giáo họ ở B́nh Châu). Giáo xứ Cù Mi do cha Huỳnh Công Ẩn thành lập năm 1885, thời Đức Cha Hân (Prancois Xavier Van Camelboke) cai quản địa phận Quy Nhơn. Giáo dân lúc đó gồm 8 gia đ́nh từ B́nh Định, Phú Yên, Nha Trang… V́ số giáo dân tăng thêm, nên cha Huỳnh Công An lập thêm làng Hàm Thắng (bây giờ là thôn 2, xă Tân Thắng). Quan thầy của Giáo xứ: Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, mừng kính vào ngày 15-8 hằng năm.

Về cơ sở vật chất: có nhà thờ tạm, làm bằng vật liệu thô sơ. Sau đó cha Boivin làm nhà thờ bằng gỗ cho Cù Mi “Hộ” và Cù Mi “Cửa”.

Năm 1890, Cù Mi nhập địa phận Sài G̣n – cha Micae Giàu làm quản xứ. Năm 1934, xây nhà thờ có tháp cao 30m; nhà thờ này này bị đốt cháy vào năm 1947. Sau đó được cha Nhơn (Viot) tu bổ, đến năm 1965, bị bom tàn phá tất cả.

Cha Micae Giàu làm quản xứ 25 năm, ngài coi luôn giáo xứ Tân Lư. Ngoài nhà thờ tháp cao 30m, ngài c̣n xây nhà xứ, nhà trường, nhà các Nữ tu Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, tất cả đều bằng gỗ.

Từ năm 1885-1975, Cù Mi có 24 cha làm quản xứ, có 6 cha coi xứ từ 10 đến 25 năm: cha Guégnand, cha Lefèbvre, cha Tiên, cha Lễ.

Năm 1957, Cù Mi thuộc địa phận Nha Trang dưới thời Đức Cha Lợi (Piquet). Năm 1963, cha Vincente Nguyễn Đạo Quán làm quản xứ, ngài tiếp tục tu bổ nhà thờ, đă được cha Nhơn làm lại sau khi bị đốt. Ngài c̣n xây nhà xứ trên bằng gạch phía sau đài Đức Mẹ hiện tại. Sau đó, xây trường học và đặt tượng Mẹ trước nhà thờ.

Nhà thờ này lại bị bom phá sập tan tành vào năm 1965, giáo dân phải rời Cù Mi về tạm trú tại Tân An, phía sau Nhà thờ Đồng Tiến. Lúc này, số giáo dân ước chừng 1500 người. Có các hội đoàn: Lêgiô, con Đức Mẹ, Nghĩa binh Thánh Thể. Đời sống đạo phát triển khá mạnh.

Năm 1975, Cù Mi thuộc giáo phận Phan Thiết, dưới sự cai quản của Đức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Một biến cố đáng ghi nhớ vào sử Cù Mi: ngày 25-4-1975, sau buổi kinh sáng ngày Chúa Nhật, giáo dân Cù Mi (đang tạm trú tại Tân An, B́nh Tuy) đă đón tiếp Đức Cha Nicolas đến thăm, trong lúc vắng cha quản xứ, v́ cha Sáng (Roger Delsuc) đă mất v́ bệnh ung thư. Cha J.B. Lê Xuân Hoa, Hạt trưởng, đưa Đức Cha đến bằng xe Honđa, ông Trùm Đông, Chủ tịch Hội Đồng Giáo xứ đại diện giáo dân mừng Đức Cha và phái đoàn tháp tùng.

Ngày 20-5-1975, cha J.B. Hoàng Thanh Huê, được bổ nhiệm làm quản xứ, ngài dời nhà thờ bằng gỗ, từ Tân An về làm nhà thờ tạm trên nền nhà thờ bị tàn phá.

Năm 1976-1978, xây dựng nhà thờ mới, lợp tôn, tường gạch, 12 cột tṛn bằng gỗ. Làm nhà xứ phía sau nhà thờ, xây trường học, xây nhà cho cộng đoàn MTG. Phan Thiết.

Có các hội đoàn: Bà Mẹ Công Giáo, Legio, Thiếu nhi Thánh Thể, Têrêxa. Cha Huê rời Cù Mi, cha Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Nam thay thế, ngài xây đài Đức Mẹ, lễ đài, hội trường, nhà xứ mới. Đến tháng 10.1998, cha Giuse Phạm Thọ về làm phó xứ.

Từ năm 1975, ngoài 5 khu địa phương, giáo dân từ Bắc, Trung, Nam đến lập nghiệp, làm thành các giáo họ, mỗi giáo họ trên dưới 1000 người… giáo họ Antôn, Mân Côi, Phêrô đă có nhà nguyện từ những năm 1985-1997. Từ ngày 01.12.1999, giáo họ Giuse bắt đầu xây nhà nguyện mới, với diện tích 200 m2, do Ṭa Giám Mục tài trợ và đă hoàn thành vào đầu tháng 05.2000.

Đa số giáo dân Cù Mi làm ruộng, làm rừng, làm biển, một số ít buôn bán nhỏ, và làm nghề thủ công. Ṭa Giám Mục đă giúp xây 2 đập đưa nước vào tưới cho cánh đồng, để làm 2 vụ, có nơi được 3 vụ. Số giáo dân hiện nay trên 6000 người.

Về văn hóa: trước 1975, đa số mù chữ, số c̣n lại tŕnh độ từ lớp 3 đến lớp 6,7. Từ năm 1990, số học sinh tăng nhiều. Niên khóa 1999-2000, cấp I: 1450 học sinh, cấp II: 570 học sinh, cấp III: 56 học sinh và 16 sinh viên đại học. Từ 1994, Giáo xứ đă có chừng 15-20 người xin theo đạo.

Hướng về tương lai: đẩy mạnh việc truyền giáo và tái truyền giáo cho những gia đ́nh “nguội lạnh”, ước mong xây dựng một trạm phát thuốc miễn phí, mua xe làm xe cứu thương, để đưa người đau ốm và bị tai nạn đến bệnh viện. Ngoài ra, c̣n phải nâng cấp con đường chính, từ QL. 55 vào nhà thờ, v́ thấp và thường bị ngập vào mùa mưa, và ước mơ lớn nhất của giáo dân là thấy ngôi nhà thờ mới được h́nh thành.

Địa chỉ liên hệ: XĂ TÂN THẮNG - HÀM TÂN - B̀NH THUẬN
Điện thoại: 0623. 875041
Năm thành lập: (1887)
Số giáo dân hiện nay: (4481)
Bổn mạng và ngày lễ: ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI (15/08)

...............

Lược sử Giáo xứ Cù Mi

Nguồn : Website GX Cù Mi

1.Cuộc Nam Tiến của chín tổ phu:

Chiếu Cần Vương do Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi ban hành ngày 13.07.1887 đă dấy lên một phong trào “pḥ vua cứu nước” lớn mạnh tại Trung và Bắc Kỳ. Song song với tinh thần pḥ vua, một sự đối kháng với đạo Kitô cũng nổi lên. Sự đối kháng này đạt cao điểm khi hàng loạt các giáo xứ ở miền Trung bị bố ráp, hàng trăm làng đạo bị thiêu đốt và hàng ngàn Kitô hữu bị thảm sát.

Trước t́nh h́nh nguy kịch như thế, Cha Phêrô Huỳnh Công An và thầy Lê Pho cùng chín gia đ́nh giáo dân (có tài liệu nói là 7 gia đ́nh)gốc Quảng B́nh, B́nh Định, Phú Yên và Khánh Hoà đă làm một cuộc “nam tiến”, nhằm bảo vệ tính mạng, giữ vững niềm tin và t́m đất lập nghiệp. Đó là các gia đ́nh sau:

1. Nguyễn Minh
2. Nguyễn Châu
3. Phạm Quân
4. Hà Lực
5. Nguyễn Cậy
6. Nguyễn Đờn
7. Trần Bờ
8. Lê Viễn
9. Lê Tín

Năm 1887, Cha Phêrô Ẩn và thầy Lê Pho cùng chín gia đ́nh “Tổ Phụ” đă đặt chân đến mảnh đất Cù Mi, lúc đó gọi là làng Hàm Thắng, thuộc tổng Phước Thắng, huyện Hàm Tân, tỉnh B́nh Thuận. May mắn thay, cha con đă được miêu duệ của quan Kỵ úy Nguyễn Hữu Từ nhường cho một phần đất để làm ăn sinh sống. Rồi trên mảnh đất này, Cha Ẩn đă cùng các bổn đạo đầu tiên lập nên họ đạo Cù Mi. Chỉ một thời gian sau, một nguyện đường bằng gỗ tạp, lợp lá buông được hoàn thành. Đây là ngôi Nhà thờ thứ nhất. Lần đầu tiên sau chuỗi ngày gian nan, thánh lễ “cung hiến” và Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được dâng một cách sốt sắng (15.8.1887) trang nghiêm bởi một cộng đoàn gồm Cha Xứ tiên khởi và các Bổn đạo ít ỏi này.

Cha Phêrô Ẩn đă dâng Giáo xứ và các con cái ḿnh cho Đức Maria và Cha Phêrô đă chọn Đức Maria Hồn Xác Lên Trời làm Tước hiệu Nhà thờ và Bổn Mạng Giáo xứ.Từ đây, Giáo Hội Việt Nam và Giáo phận Quy Nhơn có thêm một người con vừa chào đời.

2. Cù Mi đứa con xa của Giáo phận Quy Nhơn:

Chỉ 6 năm sau ngày khai xứ, Cha Ẩn đă được Đức Cha Francois Xavier Van Camelbecke Hân, Giám mục Quy Nhơn (1884-1901) gọi về làm Tổng Đại diện giáo phận và Đức Cha đặt Cha Thiêntạm thời coi sóc họ đạo Cù Mi. Một năm sau, Cha Sanh lại được sai đến thay Cha Thiên. Đến năm 1895, Cha Boivin Nhă (Thừa sai Paris) về làm Cha Sở họ đạo.

Thời gian Cha Nhă coi sóc là thời gian họ đạo phát triển mạnh mẽ. Số giáo dân tăng nhanh nhờ nhiều giáo dân nhập cư và lương dân tại địa phương theo đạo. Cha đă hướng dẫn các bổn đạo làm ngôi nhà thờ mới rộng răi và vững chắc hơn.Đó là ngôi Nhà thờ thứ 2 của Giáo xứ Cù Mi. Bên cạnh đó, Cha c̣n mở các lớp Giáo lư để củng cố đức tin cho cả giáo dân cũ và các tân ṭng. Sinh hoạt của họ đạo Cù Mi lúc này khá phong phú và vững vàng.

Đang hăng say hoạt động như vậy, th́ năm 1899, Cha Nhă lại được chuyển về Toà Giám mục và nhận trách nhiệm khác. Cũng thời gian này, Cù Mi lại được sát nhập vào địa phận Tây Đàng Trong (sau này đổi thành địa phận Sài G̣n ngày 03.02.1924), kết thúc thời gian 13 năm làm đứa con xa của địa phận Quy Nhơn.

3. Cù Mi cùng Mẹ mới Sài G̣n:

Năm mươi tám năm thuộc địa phận Sài g̣n, với bốn đời Giám mục và mười Linh mục Quản xứ là khoảng thời gian dài và nhiêu khê nhất của họ đạo Cù Mi. Sau khi Cha Nhă đi rồi, năm 1900 Đức Giám mục địa phận Tây Đàng Trong là Lucien Emile Mossard Măo đưa Cha Sao đến làm Quản nhiệm Cù Mi. Cha sao thuộc địa phận Sài G̣n. Cha Sao cử các chức việc gồm các ông: ông Phạm Kề làm Trùm. Đây là ông Trùm tiên khởi của Giáo xứ Cù Mi ; ông Trần Bờ, ông Hà Lực, ông Nguyễn Đờn làm Biện. Cha cũng sửa sang lại ngôi Thánh đường cho đàng hoàng hơn. Năm 1902, Cha Sao phải rời Cù Mi và Cha Phuông được sai đến, được 4 tháng.

Năm 1903 Cha Phêrô Thao lại đến thay Cha Phuông. Ngoài Cù Mi, Cha Thao c̣n phải coi sóc họ Xuyên Mộc nữa, giúp xứ Cù Mi được 1 năm, đến năm 1904 Cù Mi lại được Cha J. Guegnard Lộc, đến thay Cha Thao. Cha Lộc là Linh mục thuộc Hội Thừa sai Pari. Thời gian này Cha Lộc đă thiết lập điền thổ nhà chung, lập bộ thuộc công nho của làng Hàm Thắng. Cha Lộc thành lập Hội Đồng Nhi do ông Phêrô Trương Khương làm Hội Trưởng Câu đồng nhi nam và bà Mattha Hà Thị Sở là Hội trưởng Câu đồng Nhi nữ dưới sự d́u dắt của ông Thầy Tám Phước. Tôn chỉ mục đích của Hội là t́m hiểu và học Giáo lư, Thánh hóa bản thân, lập quỹ tiết kiệm. Hội Đồng Nhi dùng quỹ này để giúp đỡ hội viên lúc đau ốm, xin lễ b́nh yên cũng như lễ an táng cầu hồn cho Hội viên khi đă qua đời.

Năm 1906 đến 1907 có Cha Simon Chánh làm Cha phó và năm 1907 đến năm 1909 có Cha phó Keller Lê thay Cha Simon Chánh làm Cha phó. Từ năm 1909 Cha Gustave Lefebvre Luật về làm Cha phó thay cha Keller Lê.

Đến năm 1912 Cha Lộc đổi đi và Cha Gustave Lefebvrelên làm Cha Chánh xứ và Cha Ferre làm phó. Năm 1915, Cha Phêrô Tiễn về thay, Cha Ferre làm phó. Năm 1916 Cha Gustave Lefebvre đổi về xứ Mỹ Hội, th́ Cha Phêrô Tiễn lên Chánh xứ Cù Mi và Cha Tôma Vạn làm Cha Phó. Trong thời gian này Giáo xứ Cù Mi có 2 D́ thuộc ḍng MTG Thủ Thiêm giúp. Đó là D́ Nh́ Hải và D́ Tám Vân. Tập tục mừng tuổi Chúa, đọc bài chúc Hôn phối tại tiệc cưới, diễn Thánh tuồng mừng lễ Giáng sinh được Cha Phêrô Tiễn áp dụng từ đây. Có những tập tục mới này làm cho tinh thần sống đạo trong giáo dân được hưng khởi rất nhiều. Dù những xáo trộn về Cha Sở như thế, nhưng thời gian đầu, đời sống đạo của giáo dân vẫn ngày một thăng tiến. Những ngày lễ sốt sắng, những sinh hoạt vui tươi và sinh động diễn ra đều đặn. Giáo dân phấn khởi tham gia tổ chức các ngày lễ trọng như Phục Sinh và Giáng Sinh. Có khi giáo dân chuẩn bị tập tuồng, kịch hay canh thức trước cả mấy tháng trời. Nhưng rồi sự khó khăn đă nảy sinh. Nguyên nhân chính là v́ các Cha coi sóc đều là người Pháp, thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP). Ngôn ngữ bất đồng, văn hoá cách biệt, Cha sở và bổn đạo ít hiểu nhau. Dần dà, những sinh hoạt sôi nổi cũng ch́m xuống. Đến năm 1918, nhiều Chủng sinh Việt Nam được phong chức Linh mục, Toà Giám mục sai Cha Giuse Trần Hiếu Lễ đến làm Chánh họ đạo thay Cha Phêrô Tiễn và Cha Giuse Hưng là Cha Phó. Cha tổ chức lại họ đạo, đặt lại ông Trùm, ông Câu, ông Biện và thành lập các hội đoàn. Mọi sinh hoạt nhận được sinh khí mới và phát triển trở lại. Lúc này, giáo phận Tây Đàng Trong được đổi thành địa phận Sài G̣n (03.02.1924). Cha Lễ coi sóc Cù Mi cho đến năm 1920. Năm 1920, Cha Giuse Lễ đổi đi và Cha Phêrô Thể thuộc Địa phận Sài G̣n về làm Chánh xứ Cù Mi. Cha Thể tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho giáo dân trong Giáo xứ như Cha mở trại dệt đệm bườm được làm bằng lá buông để bán ra miền Trung. Từ ấy, mới có tục danh là G̣ đệm. Lúa thu hoạch từ ruộng Nhà chung, Cha Thể không dùng đến mà Cha canh tác phần ruộng riêng là phần ruộng Phó Lâm để chi phí ăn uống hàng ngày.

Năm 1922 Cha Thể đổi đi xứ khác. Năm 1923 Giáo dân Cù Mi vui mừng đón Cha cựu Giuse Trần Hiếu Lễ tái giúp xứ Cù Mi. Thời gian này, nhịp sống của giáo dân Cù Mi vui nhộn hơn, giao lưu buôn bán với các nơi chủ yếu bằng đường thủy. Cha Lễ cho nạo vét các cửa sông để ghe thuyền ra vào bến được thuận tiện. Cha c̣n huy động trong con chiên của ḿnh chuẩn bị làm nhà thờ mới.

Năm 1928, Cha Lễ được đổi đi nơi khác năm 1928 Cha Micae Nguyễn Văn Giàu thuộc Địa phận Sài G̣n về làm Chánh xứ Cù Mi. Ngoài Cù Mi Cha Giàu c̣n giúp họ Lagi nữa. Họ đạo vẫn trên đà phát triển. Lúc này số giáo dân đă tăng lên đáng kể. Năm 1930, Cha Giàu đă cùng giáo dân chuẩn bị xây mới ngôi Thánh đường, Cha Giàu cùng với giới trẻ giáo xứ lên Cầu Kiều cậy đá, dùng xe trâu chở về, làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm. Cha con ở lại đêm cậy đá làm sao cho đủ số lượng đá cần thiết. Sau đó mỗi gia đ́nh phải góp thêm 4 khối đá nữa và tự chuyên chở về Giáo xứ. Cha c̣n lập nhiều tiểu ban như: Ban thợ rừng th́ lên rừng lo việc khai thác và đẽo cột, kèo, trính, đ̣n tay,..Gỗ th́ toàn là gỗ sao, săng đá. Ngoài ra c̣n phải mua thêm gổ ở Lagi và chở về bằng ghe. Ban gạch ngói th́ chịu trách nhiệm mướn thợ về xây ḷ gạch ngói để sản xuất gạch ngói lợp Nhà thờ. Ban ḷ vôi th́ lo ra biển thu lượm vỏ ṣ về hầm vôi, Cha Giàu c̣n mua đá san hô ở miền Trung về hầm vôi thêm mới đủ số lượng yêu cầu. Ngoài ra, Cha c̣n phân công chở cát xây…..Ximăng. C̣n sắt, đinh, vít, bùlon th́ mua ở Sài G̣n dùng ghe chở về bằng đường biển (số lượng ít). Sau khi chuẩn bị xong năm 1932 khởi công xây dựng. Năm 1934, Nhà thờ khá kiên cố với diện tích 30 x 12 mét và một tháp chuông cao 30 mét theo mô h́nh nhà thờ kiểu Âu châu hoàn thành. Đây là Nhà thờ thứ 3 của Giáo xứ Cù Mi. Sau khi công tŕnh xây dựng Nhà thờ và các công tŕnh khác hoàn thành, Cha Micae Giàu có nhă ư mời Đức Cha Quinton Giáo phận Sài G̣n về làm phép Nhà thờ mới và một số công tŕnh phụ như: nhà xứ, nhà D́, trường học. Nhưng ư định của Cha không thực hiện được, v́ Cha Micae Giàu phải đi giúp xứ khác. Đó là họ Lagi (Giáo xứ Tân lư ngày nay).

Năm 1935, Cha Macco Châu thuộc Giáo phận Sài G̣n đến làm Chánh xứ Cù Mi thay Cha Giàu. Đi cùng với Cha Châu có 2 thầy: thầy Thanh và thầy Quyền giúp giáo sở Cù Mi. Cha Macco Châu tiếp tục thực hiện ư định của Cha Giàu và lập kế hoạch mời Đức Cha Quinton về làm phép Nhà thờ và công tŕnh phụ. Ngày 01.5.1935 Nhà thờ Giáo Xứ Cù Mi trang hoàng cờ hoa lộng lẫy, Đức Cha từ trên kiệu hoa bước xuống, chuông trống rập ràng vang lên toàn thể giáo dân Cù Mi long trọng đón Đức Cha Quinton. Cùng đi với Đức Cha có hai Cha thừa sai khác nhưng không biết tên. Đức Cha đă dâng Thánh lễ Đại triều, làm phép Nhà thờ, Nhà xứ, nhà D́, trường học, các ảnh tượng và ban phép Thêm sức. Để tán thưởng và ghi nhận công lao to lớn và ḷng nhiệt thành của Giới chức đă giúp cha Micae Giàu xây dựng và sửa sang lại toàn bộ các công tŕnh cùa Giáo xứ nhất là ngôi Thánh đường mới này. Đức Cha Quinton đă gắn huy chương Ṭa thánh cho 4 ông Đại diện Giáo xứ Cù Mi: Đó là ông Câu nh́ Antôn Lê Tước, ba ông Biện việc là: ông Phêrô Trương Khương, ông Phaolô Nguyễn Đặng và ông Giuse Trần B́nh. Giúp xứ được ba năm th́ Cha Macco Châu đổi đi.

Năm 1938, Cha Micae Nguyễn Văn Giàu tái nhận sở Cù Mi thay Cha Macco Châu. Thời gian này, Cha Giàu tập trung công sức lo xây dựng nhà thờ họ Lagi. Để mừng 25 năm Linh Mục và tỏ ḷng biết ơn công lao to lớn của Cha Micae đă cống hiến cho Giáo xứ Cù Mi. Năm 1942, ban Giới chức Giáo xứ tổ chức mừng lễ Bạc cho Ngài. Ngày thứ nhất tiếp đón Quư cha, quư thầy từ các nơi về. V́ các Cha phải đi bằng ngựa nên các Cha vất vă lắm mới đến được Cù Mi. Ngày thứ hai, Thánh lễ và tiệc mừng. Cha Micae làm chủ tế, 3 Cha đồng tế và 2 thầy Phó tế. Đến dự Thánh lễ Bạc của Cha Micae có đông đảo giáo dân Giáo xứ và một số giáo hữu đại diện cho Họ đạo Lagi. Ngày thứ ba, là ngày Ban giới chức thăm hỏi, cảm ơn, và tiễn các Qúy Cha lên đường.

Qua 25 năm thiên chức Cha Micae Giàu đă có những đóng góp vô cùng to lớn cho dân Chúa nói chung và cho Giáo xứ Cù Mi nói riêng. Đây cũng là dịp Giáo xứ Cù Mi tỏ ḷng biết ơn, ḷng hiếu thảo, ḷng quư trọng đối với một vị chủ chăn đă đưa giáo xứ Cù Mi lên một tầm cao mới có giá trị lịch sử.

Rồi 18 năm b́nh yên, thịnh vượng dưới sự chăn dắt của Cha Giàu từ 1928 đến 1946 đă nhanh chóng trôi qua. Năm 1946, chiến sự khốc liệt bắt đầu nổ ra. Năm 1947, lệnh “tiêu thổ kháng chiến” được ban ra và chiến lược “vườn không nhà trống”, đốt sạch, phá sạch đă được áp dụng. Bổn đạo có số chạy loạn, số khác phải vào rừng tránh đạn. Tháng 5.1946 Cha Giàu cũng phải về lánh nạn ở Toà Giám mục. Giai đoạn 1946-1954 là thời gian bi thương nhất của bổn đạo Cù Mi. Ngày 17.3.1947 tin buồn ập đến, giáo dân Cù Mi đau ḷng nh́n Nhà thờ đă bị đốt phá. Giáo dân phải sống giữa “rừng thiêng nước độc”; lên núi gặp cọp beo, xuống suối đụng cá sấu, ngày trốn tránh tầm đạn, đêm phải lo cày cấy, giáo dân sống trong hoang mang lo sợ, không linh mục, không bí tích nhưng tinh thần đạo, đức tin của giáo dân vẫn không hề lay chuyển. Ngày 21.3.1947 Nhà nguyện tạm được dựng lên cạnh bờ sông, cách bờ sông chừng 10m, Nhà thờ lợp bằng lá buông, các bức vách để trống để khi có máy bay oanh tạc thả bom, bắn phá th́ chạy thoát cho nhanh. Nhà thờ này là Nhà thờ thứ tư của Giáo xứ Cù Mi hay gọi là nhà thờ Bằng Lăng nghèo nàn, đơn sơ. May thay, năm 1948-1949 có hai Cha là Nguyễn Bá Kính và Nguyễn Bá Luật ghé thăm. Giáo dân vui mừng tiếp đón và mời Cha dâng Thánh lễ, ban Phép các Bí tích. Giáo dân sốt sắng lănh nhận các Bí tích cũng như tham dự Thánh lễ. Rồi hai Cha phải chia tay, mọi người lại trở về cảnh sống bơ vơ, không người chăn dắt. Giáo xứ trong hoàn cảnh không Cha xứ, máy bay địch oanh tạc thường xuyên. Ay vậy mà không có ngày Lễ trọng nào lại không tổ chức trọng thể. Năm 1948, trường học của Giáo xứ được mọc lên ngay G̣ Ong Thầy, các lớp học văn hóa, Giáo lư ra đời, với các giáo viên là Thầy Nguyễn An (cựu Latinh), cô giáo Nguyễn Thị Tùy (nữ tu), cô giáo Mai Thị Trang (nữ tu). Trung b́nh cả trường có từ 50-60 học sinh. Đến năm 1950 trường học phải di dời về phía sau Nhà thờ Bằng Lăng. V́ máy bay thường oanh tạc bắn phá khu vực Nhà thờ Bằng Lăng. Nên tháng 3.1950 trường học tiếp tục dời về khu ruộng Bà Rít và ổn định cho đến năm 1954. Dù cuộc chiến vẫn xảy ra, bom đạn vẫn nổ, nhưng việc học hành của các em vẫn không bị gián đoạn, giải quyết t́nh trạng mù chữ cho con em Cù Mi trong thời kỳ lịch sử khắc nghiệt này.

Trung tuần tháng 3.1952, khi nghe tin Cha GioaKim Nguyễn Bá Luật trên đường đi công tác Mục vụ ở Cao Lănh đă gặp nạn và qua đời. Ban Giới chức liền loan tin cho các giáo hữu được biết. Ong biện việc Nguyễn Hữu Duyên đặt áo lễ đen của Ngài lên trên bàn thờ, đặt măo 3 khía của Thầy Cả nằm trên áo, cả Giáo dân Cù Mi và tập trung về Nhà thờ cầu lễ cho Cha Luật liên tiếp 3 ngày. Nỗi buồn chưa vơi. Tháng 8.1952 tin từ Họ Xuyên Mộc cho biết. Cha Micae Giàu sau khi tĩnh tâm ở Sài G̣n xong, Ngài về Đất Đỏ nghỉ lại để hôm sau dâng lễ cho Họ Long Điền và cha đă bị bắn tại Nhà thờ khi đang trong pḥng Thánh bước ra tiến lên bàn thờ dâng lễ. Nhớ ơn Cha, nghĩ về Cha, nghĩ về những tháng ngày Cha giúp cho Cù Mi, nhất là ngôi Thánh đường cao lớn, vĩ đại mà cha đă xây dựng cho Cù Mi…rồi cả giáo dân bùi ngùi xúc động, nước mắt dâng trào vô cùng thương tiếc. Ông biện việc Nguyễn Hữu Duyên dọn bàn thờ, đặt áo lễ đen lên giữa, trên áo đen là chiếc măo 3 khía, măo này Cha thường đội khi đi rảy nước Thánh ngày Chúa Nhật. Một hồi dài chuông trầm thốt lên, sau đó khắc 7 tiếng, tiếp theo một hồi chuông dài. Đến hồi chuông thứ ba th́ nhà thờ chật nít giáo dân như ngày lễ Chủ nhật. Rồi tiếng kinh cầu lễ vang lên, cầu cho Cha Micae được an nghỉ trong Chúa. Vĩnh biệt Cha yêu Micae Nguyễn Văn Giàu.

Cũng trong năm này, giặc bắn phá dữ dội, trâu chết, nhà cửa tiêu điều. Nhà thờ bị hư hỏng nặng. Ban Quư chức họp bàn di dời Nhà thờ Bằng Lăng sang gần vùng đất đập Bà Ôn. Hay c̣n gọi là Nhà thờ Bà Ôn. Ơ đây cây cối um tùm, rậm rạp để tránh đạn cho an toàn. Trường học cũng phải di dời về vùng ruộng Bà Rít. Ngày 30.11.1952 công việc dời trường học và Nhà thờ đều hoàn tất. Đây là Nhà thờ thứ 5 của Giáo xứ Cù Mi.

Ngày 02.10.1954 Ban Quư chức lập kiến nghị dâng lên Đức Cha F.Cassaigne Giám Mục Địa phận Sài G̣n. Xin Đức Cha ban cho Cù Mi một Cha sở mới. Và nhờ Hồng ân Chúa thương đến Giáo sở Cù Mi. Lúc 10 giờ Ngày 23.10.1954 chuông trống ngân vang, Giáo hữu tập trung về tại Nhà thờ thật đông đảo đón mừng Cha Thừa sai Paris Troget được sai đến làm chánh xứ Cù Mi. Chiều 23.10 Cha Troget dâng Thánh lễ đầu tiên tại Nhà thờ Cù Mi tị nạn Bà Ôn. Trong thời gian này có Thầy Phaolô Diệu làm Phó xứ giúp cha Troget trong công tác Mục vụ. Ngày 17.3.1955 Ban Quư chức thống nhất với Cha Troget dời Nhà thờ Bà Ôn về lại cất trên nền Nhà thờ Cũ (Nhà thờ Bằng Lăng). Đây là Nhà thờ thứ 6 của Cù Mi. Nhưng đến tháng 10 năm 1955, Ngài lại được Cha Phaolô Phan Tùng Lộc về thay để đi nhận nhiệm sở mới. Cha Lộc lại họp bàn Ban Quư chức dời Nhà thờ Bằng Lăng 2 này về lại gần nền Nhà thờ cũ, Nhà thờ mà bị giặc đốt năm 1947. Sau lễ các Đẳng Linh hồn năm 1955, Nhà thờ thứ 7 của Giáo xứ Cù Mi được di dời và tết Nguyên đán 1956 Cha Lộc dâng Thánh lễ đầu năm trong ngôi Nhà thờ nhỏ bé này. Cha Lộc cùng sống chết với giáo dân Cù Mi cho đến khi Giáo phận Nha Trang được chính thức thành lập ngày 05.07.1957 và Cù Mi lại được làm con của Giáo phận mới.

4. Về với Nha Trang.

Với Sắc chỉ Crescit Laetissimo của Đức Thánh Cha Piô XII ban hành ngày 05.07.1957, Giáo phận Nha Trang chính thức được thành lập gồm Khánh Hoà, Ninh Thuận của địa phận Quy Nhơn và B́nh Thuận, B́nh Tuy của Giáo phận Sài G̣n do Đức Cha Piquet Lợi (MEP) làm Đại Diện Tông Toà. Như vậy, từ lúc này họ đạo Cù Mi lại trở thành đứa con xa xôi của Giáo phận mới Nha Trang.

Từ năm 1957 đến 1960, Đức Cha Piquet đă giao Cù Mi cho Cha Viot Nhơn coi sóc. Tháng 8.1958, Cha Viot họp bàn với Ban Quư chức lập kế hoạch trùng tu lại ngôi Thánh đường theo kiểu mẫu mà Cha Micae Giàu kiến trúc năm 1947.Tháng 10.1958 Cha Viot chuẩn bị mua ximăng, mua ngói ở Biên Ḥa và mua gỗ ở trại cưa B́nh Tuy.Tháng 12.1958 Nhà thờ thứ 8 được khởi công xây dựng. Đầu năm 1960 Nhà thờ mới được hoàn thành. Tết Nguyên đán năm 1960, Cha Viot cùng Giáo dân dâng Thánh lễ tạ ơn Chúa trong nhà thờ mới tái thiết này. Tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đă ban cho Cù Mi có được ngôi Thánh đường đẹp nhất tỉnh B́nh Tuy.

Năm 1960 Cha Gérard Moussay đến thay Cha Viot. V́ phải coi cả Cù Mi và Tân Lư, nên ngài chỉ có thể dâng lễ và ban phép các bí tích, c̣n những hoạt động khác th́ tạm thời để yên.Đến ngày 15.4.1961 Cha Vinh Sơn Nguyễn Đạo Quán về Quản xứ Cù Mi thay Cha Gérard Moussay. Dưới sự chăn dắt của Cha Vinh Sơn nhà thờ được xây dựng lại khang trang hơn, pḥng giáo lư đầy đủ. Tưởng đă yên vui hưởng b́nh an. Nhưng ngày vui chẳng được bao lâu chiến tranh nổ ra, đạn lại bay tứ phía, bom dội ào ào. Sáng Chúa nhật ngày 25.2.1965, lễ chưa xong mà bom lại dội ầm ầm trên làng Pḥ Tŕ làm 12 người chết và trâu ḅ gia súc cũng thiệt hại nặng nề. May mắn thay giáo dân Cù Mi đang dự lễ, nếu hôm ấy bom rơi ngay Nhà thờ th́ c̣n ai là người sống sót. Dân Chúa sẽ ra sao? Có phải Thiên Chúa đă làm phép lạ không? Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đă phù hộ Cù Mi không? “Đúng như thế”. Những trái bom rơi, những loạt đạn chết người. Đa số đồng bào Dân tộc Chăm bỏ đi hết chỉ c̣n Cù Mi ráng bám lại làng mạc một thời gian. Nhưng rồi bom lại rơi, đạn lại pháo từ biển vào làm giáo dân hoảng loạn, làng mạc hoang tàn, dân cư sơ tán hầu hết. Người giáo dân Cù mi cũng không chịu nỗi cảnh chiều chiều những chiếc máy bay “Đầm già” quan sát thả bom ầm ỉ. Ngày 26.2.1965 Cha xứ cùng con chiên khăn gói ra đi tránh đạn. Ong Trùm Phêrô Cao Chiếu vào Nhà thờ đưa ảnh tượng Đức Mẹ Mông Triệu xuống khỏi ṭa và cùng ông Từ Mai Rớt, hai ông thay phiên nhau vác ảnh Đức Mẹ đi theo đường biển về B́nh tuy. Khi đến Giáo xứ Vinh Thanh, Cha Nguyễn Viết Khai nghe tin Đức Mẹ Bổn Mạng Cù Mi đến, Cha vội vàng bảo hai cụ đưa tượng Đức Mẹ vào Nhà thờ Vinh Thanh và đặt Mẹ trên ṭa chờ ngày Cù Mi ổn định hăy kiệu Mẹ về. Hai cụ vâng lời Cha Khai và về báo tin cho Cha Vinh sơn và Giáo dân biết. Khó khăn lại đến, đất khách giờ cũng là đất khách, nhưng đây là đời con cháu tha hương, cũng v́ để bảo vệ tánh mạng và duy tŕ đức tin mà một lần nữa, hậu duệ của 9 tiền hiền lập xứ Cù Mi lại khăn gói rời quê hương đi t́m nơi ở mới. Đó là vùng đất xă Tân An ngày nay. Náu nương nơi xứ Thanh Xuân và xứ Tân Lư ít lâu. Ngày 09.4.1695 Cha Vinh Sơn dẫn giáo dân về nơi đất mới và chọn vùng đất cất Nhà thờ. Ngày 10.5.1965 giáo dân dựng lều tranh làm nhà xứ. Ngày 15.5.1965 Cha Vinh Sơn về ở tại nhà xứ đơn sơ này(thời gian tị nạn Cha Vinh sơn ở trọ nhà xứ Thanh Xuân với Cha Vũ Đ́nh Hiên). Ngày 16.5.1965 giáo dân cùng bắt tay xây dựng lại nhà thờ. Nhà thờ đơn sơ được cất bằng gỗ tạp, mái lợp tôn kẽm. Đây là Nhà thờ thứ 9 của Giáo xứ Cù Mi. Chiều ngày 16.5.1965 hồi chuông ngân lên và Cha Vinh Sơn dâng Thánh lễ đầu tiên tại Nhà thờ tị nạn. Từ nay, Giáo dân Cù Mi sống lại từ tinh thần lẫn thể xác, vui mừng hiệp một ư cùng Cha xứ Cảm tạ ơn Thiên Chúa và Mẹ Maria. Cuộc sống giáo dân Cù Mi bắt đầu từ đây, rồi cùng nhau xây dựng hội trường, pḥng đọc sách, trên đồi cát trắng trong cảnh trắng tay. Chưa yên, ngôi Thánh đường dựng tạm quá chật hẹp. Do vậy, ngày 10.6.1965 Cha Vinh Sơn họp bàn với Ban Quư chức làm lại Nhà thờ mới khang trang hơn, rộng răi hơn. Ngày 13.6.1965 khởi công đắp nền Nhà thờ và chuẩn bị một số vật liệu cần thiết. Ngày 27.6.1965 tiến hành dựng và lợp mái Nhà thờ mới. Ngày 05.7.1965 Nhà thờ hoàn thành. Nhà thờ có hai mái. Mái cao lợp bằng tôn sắt, mái thấp lợp bằng tôn ximăng, nền tráng ximăng, cửa gỗ, vách ván. Đây là ngôi Nhà thờ thứ 10 của Cù Mi, hay c̣n gọi là Nhà thờ Hiệp Ḥa. Ngày 14.8.1965 Nhà thờ trang hoàng cờ hoa lộng lẫy, Giáo dân chật đứng chật như nêm. Chiếc xe ôtô hiệu Chevrolet từ từ tiến vào ngă 3 liên tỉnh lộ 23, rồi dừng lại. Cánh cửa hậu của xe mở ra, ông Trùm Cao Chiếu và Ong Từ Mai Rớt kính cẩn đưa tượng Mẹ Bổn Mạng xuống xe và đặt Mẹ lên kiệu hoa. Chuông trống Nhà thờ Hiệp Ḥa nổi lên, Cha Vinh Sơn, Cha Trần Ngọc Thủy và Cha Nguyễn Viết Khai nghiêng ḿnh xông hương kính chào Mẹ rồi từ từ đoàn kiệu hoa rước Mẹ tiến về Nhà thờ, đặt Mẹ trên Ṭa cao rồicùng nhau hát mừng kính Mẹ. Đó là quang cảnh rước Đức Mẹ Bổn Mạng Cù Mi Hiệp Ḥa về đoàn tụ với con cái nơi đất khách quê người.

Trong thời gian tị nạn, Giáo dân công tác tích cực cùng Cha xứ lập lại kỷ cương trong giáo xứ và cũng kiếm kế làm ăn, sinh sống chờ ngày về quê hương Cù Mi cũ. Toàn thể giáo dân Cù Mi lúc bấy giờ cứ nghĩ là hai hoặc ba năm sẽ trở về. Nhưng đợi chờ đến mười năm sau, khi cỏ cây mọc um tùm kín lối về th́ ḥa b́nh mới thực sự có trên đất nước Việt Nam thân yêu này. Trong bối cảnh tranh tối tranh sáng của năm 1973 (sắp sửa ḥa b́nh) th́ Cha Vinh Sơn Quán đổi đi về Di Cần và một Linh mục Pháp lại về là Cha Roger Delsuc Sáng. (Thời gian này Địa phận Nha Trang thuộc quyền cai quản của Đức Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận 1967 – 1975). Chưa được 1 năm sau th́ Ngài ngă bệnh và qua đời tại Sài g̣n, Cù Mi lại chưa có Cha xứ mới. Sau đó, Cha Vinh Sơn dẫn dắt đoàn chiên Duy Cần trở về tị nạn tại Cù Mi nên Ngài tạm coi xứ, nên xứ vẫn có Thánh lễ. Sau khi Cha Vinh Sơn đi th́ Cha Báu và Cha chính J.B Hoa (bây giờ là Đức Ông Tổng Đại diện) thường xuyên lên dâng Thánh lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.

5. Mẹ mới Phan Thiết.

Ngày 30.01.1975, Đức Thánh Cha Phaolô VI đă cắt phần đất B́nh Thuận và B́nh Tuy của Giáo phận Nha Trang để lập nên Giáo phận Phan Thiết. Toà Thánh đă đặt Đức Cha Nicôla Huỳnh Văn Nghi, Giám mục Phụ tá Sài G̣n làm Giám Quản Tông Toà Giáo phận Phan Thiết. Vậy là Cù Mi lại có Mẹ mới, và có lẽ sẽ là “Mẹ Út” của ḿnh. Ngày 30.4.1975 ḥa b́nh lập lại. Giáo dân Cù Mi vui mừng và hân hoan v́ được trở về xứ sở, đứng nh́n cỏ tranh hoang mọc phủ kín đầu người. Chung quanh nhà thờ nào là keo, táo mọc um tùm. Nhà thờ th́ bị giặt bắn phá sụp đổ tan nát chỉ c̣n hai bức tường đứng trơ trọi bên đống gạch vụn. Tượng đài Mẹ vẫn sừng sững giữa trời xanh, Mẹ giang rộng cánh tay đón đàn con đang lưu lạc tản mác khắp nơi về với Mẹ. Hai hàng điệp vàng to lớn quanh đài Mẹ che bóng mát cho đoàn người mới kéo về che lều ở tạm trong khi chờ dựng lại nhà ở. Toàn cảnh thung lũng Cù Mi tiêu điều, rừng đước th́ bị chất độc hóa học tàn phá chỉ c̣n trơ cây chết đứng, ruộng th́ cỏ mồm từng bụi to như cái thúng mọc chằng chịt. Nhà cửa không c̣n cái nào, đây đó là những hố bom và những hàng rào kẽm gai chăng khít. Ngày 17.11.1975 Giáo phận Phan Thiết được thành lập dưới sự dẫn dắt của Đức Giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi và ngày 20.5.1975 Cha G.B Hoàng Thanh Huê được sai đến Cù Mi để trông coi đàn chiên côi cút. Sau chiến tranh, cuộc sống khó khăn tứ bề, Cha xứ mới, con chiên giáo hữu lại mới từ tha hương trở về với hai bàn tay trắng, cùng nhau bắt tay vào xây dựng lại giáo xứ khắc phục hậu quả chiến tranh, phần th́ lo kế sinh nhai bửa đói, bửa no hàng ngày. Mặt khác, giáo dân Cù Mi đang c̣n tản lạc khắp nơi chưa về được quê cũ. Nhưng Cha J.B đưa ra quyết tâm, dù có khó khăn thế nào th́ cũng phải đưa con chiên vượt qua để về đất hứa và ngày 23.5.1975 Cha Huê dâng thánh lễ đầu tiên tại quê hương Cù Mi này. Mất đi 10 năm 2 tháng 27 ngày, giờ đây Cù Mi mới có Thánh lễ. Sau đó, ngày 09.9.1975 ngôi nhà thờ bằng lá được cất tạm trên sân nhà thờ để ngày ngày giáo dân cùng hiệp ḷng dâng lễ tạ ơn Chúa. Đây là ngôi nhà thờ thứ 11 của Giáo xứ Cù Mi. Giáng sinh 1975 Cha con mừng lễ trên đống gạch hoang tàn đổ nát của nền nhà thờ cũ. Hai bức tường c̣n trơ lại che bớt gió mùa đông, sao giăng kín bầu trời, tiếng đàn guita réo rắt, ḥa với giọng hát rộn ràng mừng Chúa sinh vang xa. Đom đóm làm nền sáng cho Chúa Hài Đồng, c̣n rừng âm u như ấm t́nh người giáo hữu sung sướng và vui mừng v́ đă được về nơi chôn nhau cắt rốn của ḿnh. Nhờ hồng ân Chúa ban và sự hộ phù của Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời, Cha G.B đă từng bước đưa giáo dân vượt qua cảnh khó khăn. Song song với đời sống đức tin, ḍng Mến Thánh Giá Phan Thiết đă cho các D́ về giúp giáo xứ. D́ Anna Đoàn Thị Mến và Anna Nguyễn Thị Liêu là hai D́ chịu cực khổ với giáo xứ nhiều nhất, bửa đói bửa no, bị đuổi tới đuổi lui mà vẫn bám trụ. Hai D́ dạy giáo lư, dạy hát, dạy lớp t́nh thương và hướng dẫn sinh hoạt cho thiếu nhi. Nhờ thời gian phục vụ này của 2 D́ mà Cù Mi hôm nay mới có 1 số nữ tu, chủng sinh và nhiều ơn gọi khác.

Cũng nói thêm về kinh tế, đất đai ngày xưa ông bà tổ tiên dâng cúng cho nhà thờ rất nhiều. Nhưng bây giờ chỉ c̣n lại hai phần ruộng là Phó Lâm và Đức Mẹ (khoảng 20.000m2­), giáo dân cùng tham gia cày cấy để có lúa cho Cha và các D́ sinh sống, c̣n ít nữa lo dầu đèn trong xứ. Ngày 11.6.1977 Cha JB Huê họp bàn cùng Ban HĐGX thống nhất di dời Nhà thờ Hiệp Ḥa tị nạn về lại Cù Mi nguyên quán và cất trên nền Nhà thờ cũ mà Cha Micae Giàu đă cất khi xưa đă bị sụp đổ do chiến tranh. Nhà thờ bằng gỗ, vách ván, mái cao lợp tôn kẽm, mái thấp lợp bằng tôn ximăng, nền tráng ximăng. Đây là ngôi Nhà thờ thứ 12 của Giáo xứ cù Mi. Măi đến ngày 29.01.1989 Cha J.B Huê đă trùng tu một lần nữa, xây dựng lại ngôi Thánh đường gọi là khang trang nhất từ trước đến nay. Đây là ngôi Thánh đường thứ 13 của Giáo xứ, mừng vui v́ đời sống giáo dân đă ổn định đôi chút, cuộc sống tinh thần thoải mái và cũng để tổng kết lại chặng đường đă đi qua. Cha Huê đă cùng giáo dân long trọng mừng lễ tạ ơn Chúa, khánh thành nhà thờ, và mừng Cù Mi trên 100 năm tuổi. Lần đầu tiên Cù Mi có thánh lễ đại triều. Đức Cha Nicolas chủ tế, Cha Giám tỉnh Ḍng Chúa Cứu Thế cùng hơn 10 Cha dâng Thánh lễ đồng tế. Giáo xứ Cù Mi lúc này có 4 giáo họ chuẩn bị khai sinh. Ngày 07.10.1990 Mân côi tách ra thành lập giáo họ, chọn Đức Mẹ Mân côi làm lễ quan thầy (bổn đạo giáo họ Mân côi đa số là dân kinh tế mới). Ngày 07.10.1990 Phêrô cũng tách ra thành lập giáo họ và lễ bổn mạng là Thánh Phêrô (bổn đạo giáo họ Phêrô là dân Nghệ An, Hà Tỉnh di dân vào thời Cha J.B Huê). Giáo họ Antôn được h́nh thành, nhưng măi đến ngày 13.7.1994 mới có thánh lễ đầu tiên (dân Hà Tỉnh đến sau). Giáo họ Giuse, một số giáo dân tha phương đến xứ năm 1977. Năm 1994 mới có thánh lễ tại đây và ngày 01.12.1999 Nhà nguyện Giuse được khởi công xây dựng và ngày 29.4.2000 khánh thành có Đức Cha Nicolas tham dự. Thời gian này các Cha Ḍng Chúa Cứu Thế cũng thường đến giảng và cấm pḥng cho giáo dân trong giáo xứ. Năm 1992 có thầy Giuse Phạm Đức Triêm thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế đến giúp dạy Anh văn, dạy văn hóa cho trẻ em trong xứ. Thỉnh thoảng Cha Gierado Lê Văn Ḥa (ḍng CCT)cũng về dâng Thánh lễ. Năm 1993 có Cha Thừa thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế về Cù Mi nghỉ hưu và Ngài cũng giúp Cha Huê dâng lễ cho giáo xứ (cuối năm 1993 Cha Thừa về ḍng). Cuộc vui nào cũng tàn, Cha J.B Huê đă ở Cù Mi 19 năm, nay Cha phải đi nhận nhiệm sở mới. Ngày 11.6.1994 Cù Mi đón nhận Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Vân Namvề giúp xứ. Tiếp tục công việc Cha Huê c̣n dở dang Cha Nam cho xây dựng hàng rào nghĩa địa, đúc Thánh giá, làm sân lễ và trồng cây trên nghĩa địa, sửa sang lại những con đường nhỏ trong giáo xứ. Tu sửa lại đập nước Bà ôn và mương Du Đế (kinh phí do Đức Cha Nicolas đài thọ), xây hàng rào chung quanh nhà xứ. Thời kỳ này là thời kỳ mà giáo xứ phải tiến hành xây dựng nhiều nhất. Ngày 01.10.1998 có Cha Giuse Phạm Thọ về phụ giúp Cha Nam coi giáo xứ cùng phục vụ 4 giáo họ. Thời gian này giáo xứ thực hiện lối sống nề nếp, kỷ luật. Cha Thọ quan tâm đến học hành của các em trong giáo xứ, đặc biệt là em có hoàn cảnh khó khăn học giỏi. Vào đầu năm học Cha thường phát thưởng cho những em có thành tích trong học tập, quà cho các em thi đỗ Đại học. Do vậy, tŕnh độ văn hóa con em giáo xứ được nâng lên.

Sau 25 năm thanh b́nh bộ mặt Cù Mi đă được đổi mới, sáng sủa và văn minh, con em trong xứ đă có người học Đại học, Cao đẳng, cấp III và đa phần là cấp II. Giáo xứ không c̣n nạn mù chữ. Giáo xứ cũng sinh thêm nhiều ơn gọi dù chưa được bao nhiêu nhưng cũng đă tiến triển nhiều. Ngày 13.5.2001 Cha F.X Nam đi nhiệm sở mới Cha Giuse Hồ Sĩ Hữu về coi xứ, 11 tháng sau cha Hữu du học tại Pháp, Cha Thọ quyền quản nhiệm giáo xứ. Thời gian Cha Thọ quản nhiệm phong trào học hỏi chia sẻ lan mạnh trong giáo dân và duy tŕ cho đến hôm nay. Ngày 21.8.2003 Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Sáng được sai đến coi sóc Cù Mi và giáo dân bắt đầu chuyển sang một trang sử mới. Với vai tṛ là chánh xứ Cù Mi, Cha Phêrô bắt tay vào công tác mục vụ của ḿnh. Giáo xứ đi vào hoạt động có nề nếp hơn. Rồi ngày 28.8.2004 Cha Phêrô Vơ Tấn Luật được cử đến làm Cha phó giúp Cha Phêrô Sáng dâng Thánh lễ ở Giáo xứ và các Giáo họ. Cha Phêrô tiến hành kiện toàn lại toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng. Pḥng giáo lư rộng răi được mọc lên, một nhà truyền thống bằng cột gỗ của nhà thờ cũ, ngôi nhà thờ mới và nhà xứ được lên kế hoạch xây dựng. Tưởng chừng như một giấc mơ. Ngày 22.2.2005 Giáo xứ Cù Mi vô cùng phấn khởi và long trọng mừng lễ đặt viên đá đầu tiên. Ngôi Nhà thờ tạm được cất lên bên cạnh Nhà thờ đang xây dựng để công việc Phụng vụ không bị gián đoạn. Đây là ngôi Nhà thờ thứ 14 của Giáo xứ Cù Mi. Ngày 28.3.2005 Cha Luật rời Giáo xứ Cù Mi và Cha JB Ngô Đ́nh Long đến thay Cha Luật giúp Cha Phêrô trong công tác Mục Vụ. Ngày 02.5.2005 khởi công xây dựng nhà thờ mới. Toàn thể Giáo dân mỗi người mỗi nhà thực hành lập quỹ tiết kiệm để cùng nhau xây dựng ngôi Thánh đường. Từng ngày trôi qua, giờ đây ngôi Thánh đường mới đă hoàn thành. Đây là Nhà thờ thứ 15 của Gx Cù Mi. Nhà thờ được đúc bằng bêtông-cốt thép rộng lớn, uy nghi với tháp chuông cao trên 30m, trang trí nội thất nhà thờ chất lượng cao, đài Mẹ được xây cất với tượng Mẹ cao 3m được tạc từ đá hoa cương chắc và đẹp, toàn bộ khuôn viên của Thánh đường đă được hoàn toàn đổi mới với tổng kinh phí xây dựng trên 5tỷ đồng. Đây là công tŕnh thế kỷ như một Hồng ân mà Thiên Chúa và Mẹ Maria ban tặng cho giáo xứ Cù Mi qua bàn tay tài năng của cha Phêrô Sáng.

Một giáo họ sắp được nâng lên thành giáo xứ (giáo họ thánh Giuse); Ba giáo họ c̣n lại: Mân côi, Phêrô (chuẩn bị xây dựng nhà thờ) và Antôn nề nếp hơn cũng nhờ công lao của các D́ Ḍng Mến Thánh Giá, với mỗi giáo họ là một nhà trẻ - mẫu giáo. Hoạt động trong giáo xứ cũng đổi mới, có các đoàn thể với các ca đoàn của từng giới hát lễ ḿnh. Đội ngũ giáo lư viên đông đảo, từng ngày có thánh lễ riêng cho từng giới, nhà t́nh thương được xây dựng cho các hộ nghèo, giếng nước cho các gia đ́nh chưa có nước sạch. Cha Phêrô cũng vận động các nhà hảo tâm giúp đỡ quỹ hiếu học, phát học bổng cho các em có hoàn cảnh khó khăn. Năm 2005 Thầy JB Nguyễn Hồng Uy([1])đến giúp cho Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Sáng trong việc giảng dạy giáo lư và dâng Thánh lễ mỗi ngày ở giáo xứ cùng 4 giáo họ. Ngày 6.11.2006 Cha JB Nguyễn Hồng Uy về làm Quản xứ Giáo xứ Thánh Giuse (Giáo họ Giuse được nâng thành Giáo xứ Thánh Giuse).Ngày 10.11.2006 Cha Giuse Nguyễn Văn Soi về thay Cha JB Uy làm Cha phó Cù Mi và cùng giúp Cha Phêrô Sáng dâng Thánh lễ mỗi ngày ở Giáo xứ và các giáo họ cũng như những công tác Mục vụ khác. Đến ngày 04.02.2009 giáoxứ Cù Mi đưa Cha Phero Nguyễn Đ́nh Sáng về Ṭa Giám mục Phan Thiết. Ngày 6.2.2009 Giáo xứ đón cha Gioan Nguyễn Văn Hảo từ Giáo xứ Phước An về làm chánh xứ Cù Mi. Ngày 07/2/2009 Giáo xứ lại tiễn cha phó Giuse Nguyễn Văn Soi từ Giáo xứ Cù Mi về làm Chánh xứ Phước An. Trong thời gian này, Giáo xứ được Thầy Paul Nguyễn Đ́nh Luyện về giúp, đến 01/07/2009 thầy Batolomeo Trần Nhật Nghĩa về giúp xứ, thầy Paul Luyện về Đại chủng viện Nicola. Ngày 31/7/2010 Giáo xứ lại tiễn thầy Bat Trần Nhật Nghĩa về Ṭa Giám Mục. Ngày 1/8/2010 giáo xứ đón Thầy Paul Trần Duy Khanh về giúp xứ. Một năm đă trôi qua, sáng Chủ nhật ngày 24/8/2011 giáo xứ lại phải nói lời tạm biệt thầy Paul Trần Duy Khanh và tiễn thầy về Ṭa Giám mục kết thúc thời gian mục vụ tại Cù Mi. Trong lúc cha xứ Yn sức khỏe suy yếu, th́ ngày 03/9/2011 ĐGM Giuse Vũ Duy Thống gởi Thầy Phó tế Thomas Nguyễn Văn Hiệp quê Hiệp Đức về Cù Mi, giúp cha xứ YN Nguyễn Văn Hảo trong công tác Mục vụ. Đó thật là Hồng ân Chúa ban cho Giáo xứ Cù Mi.

Ngày 17/5/2012, nhà thờ giáo họ Phe6rô giáo xứ Cù Mi khánh thành và đuộc Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống nâng lên hàng Giáo xứ - Giáo xứ Hồ Thắng. Và cũng trong ngày này, vâng lời bề trên,Cha Gioan Nguyễn văn Hảo về làm Chánh xứ giáo xứ Hồ Thắng. Ngày 18/5/2012, Cha Gioan Nguyễn Kim Hà (Giáo xứ Đông Hà) về làm Chánh xứ Cù Mi.

Trăi qua bao nỗi thăng trầm, từ 9 gia đ́nh, nay giáo xứ Cù Mi đă vững vàng, địa bàn rộng lớn, đông đảo giáo dân. Trên 1.000 gia đ́nh, 3 giáo họ, đời sống đức tin đang được chăm sóc. Bộ mặt giáo xứ văn minh và tươi sáng hơn, sinh hoạt các đoàn thể tiến triển nhiều (nhất là thiếu nhi). Trên 120 năm, biết bao công sức, bao mồ hôi, máu và nước mắt của các Cha xứ, các ông Trùm, các Thầy, các D́, các tiền hiền đă đổ xuống trên mănh đất này để có được một Cù Mi như hôm nay, Cù Mi vững vàng trong đức tin, Cù Mi văn minh, ổn định về kinh tế, một Cù Mi tươi đẹp và hạnh phúc. Giáo dân Cù Mi vô cùng cảm phục, luôn ghi khắc trong tâm những công ơn to lớn mà các Tiền nhân đă mang lại. Là miêu duệ của 9 tiền hiền xưa, con cháu chúng ta hăy nh́n vào tấm gương cha ông, noi theo gương các Ngài luôn biết sống hy sinh và phục vụ, khắc phục mọi khó khăn, cố gắng vươn lên để khỏi hỗ thẹn khi thắp nén hương kính nhớ ông bà tổ tiên trong những ngày đầu năm mới.

.............

Đôi Ḍng Lịch Sử Gx Cù Mi

Nguồn : VietCatholic

Theo sử lược Chiếu Cần Vương do Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi ban hành ngày 13. 07. 1887 đă dấy nên một phong trào “ Pḥ Vua Cứu Nước” lớn mạnh tại Trung và Bắc Kỳ. Với tinh thần pḥ vua, nên đă tạo ra sự đối kháng với đạo Kitô. Cao điểm là khi hàng loạt các giáo xứ ở miền Trung bị bố ráp, hàng trăm làng Đạo bị thiêu đốt và hàng ngàn Kitô hữu bị thảm sát.

Trước t́nh h́nh nguy kịch của cuộc bắt hại, Cha Phêrô Huỳnh Công Ẩn cùng 9 gia đ́nh giáo dân gốc Quảng B́nh, B́nh Định, Phú Yên đă làm một cuộc “ Nam Tiến”, nhằm bảo vệ tính mạng, giữ vững niềm tin và t́m đất lập nghiệp.

Năm 1887, Cha Ẩn và 9 gia đ́nh này đặt chân đến mảnh đất Cù Mi, lúc đó gọi là Hàm Thắng, thuộc tổng Phước Thắng là Huyện Hàm Tân, tỉnh B́nh Thuận ngày nay. Thật may mắn, cha con được miêu duệ của quan Kỵ Uư Nguyễn Hữu Từ nhường cho một phần đất để làm ăn sinh sống. Trên mảnh đất này, cha Phêrô Huỳnh Công Ẩn cùng các bổn đạo đầu tiên lập nên họ đạo Cù Mi. Một thời gian sau, tại nơi đây một nguyện đường bằng gỗ, mái lợp lá buông được dựng lên. Đây là ngôi nhà thờ đầu tiên của Cù mi.

Sau những ngày gian nan thử thách, Thánh lễ đầu tiên được cử hành vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời (15.08.1887). Cha An đă dâng giáo xứ và con cái ḿnh cho Đức Maria và ngài đă chọn Đức Maria Hồn Xác Lên Trời làm Bổn mạng của Giáo xứ.

Trải qua 41 năm với nhiều đời cha sở, Cù mi ngày càng phát triển.

Đến năm 1928 cha Micae Nguyễn Văn Giàu thuộc Địa Phận Sài G̣n về làm Chánh xứ và năm 1930 nhà thờ được khởi công xây dựng. Sau 4 năm mới hoành thành.

Với sắc chỉ Crescit Laetissimo của Đức Thánh Cha Pio XII ban hành ngày 05.05.1957, Giáo Phận Nha Trang đưọc thành lập bao gồm : Khánh Hoà, NinhThuận, B́nh Thuận, B́nh Tuy của Giáo Phận Sài G̣n. Đức Cha Piquet Lợi làm Đại diện Tông Toà.

- Từ năm 1957 Đức Cha Piquet giao Cù Mi cho Cha Viot Nhơn coi sóc.

- Năm 1960 cha Gérard Moussay đến thay cha Viot.

- Năm 1961 Cha Vinhsơn Nguyễn Đạo Quán về quản xứ.

- Năm 1973 Linh mục người Pháp, Cha Roger Delsus Sáng đến Cù Mi. Thời gian này Giáo phận Nha Trang thuộc quyền cai quản của Đức Cố Giám Mục F.x Nguyễn Văn Thuận (1967-1975).

Ngày 30. 01. 1975, Đức Thánh Cha Phaolô VI đă cắt phần đất B́nh Thuận và B́nh Tuy của Giáo Phận Nha Trang để lập nên Giáo Phận Phan Thiết. Toà Thánh đă đặt Đức Cha Nicôlas Huỳnh Văn Nghi, Giám Mục Phụ tá Sài G̣n về làm Giám Quản Tông Toà Giáo Phận Phan Thiết.

Sau biến cố 1975, bà con giáo dân di tản từ khắp nơi v́ chiến tranh, nay trở về quê. Cỏ mọc um tùm phủ kín mọi nơi, ai cũng đau ḷng xót dạ khi nh́n Nhà thờ bị bom đạn tàn phá đổ nát. Chỉ có tượng đài Mẹ đứng vững giữa trời xanh giang tay đón lấy những người con lưu lạc trở về. Việc đầu tiên là giáo dân chung tay xây lại Nhà thờ làm nơi thờ phượng Chúa, sớm tối kinh hạt.

Năm 1975 Giáo Phận Phan Thiết chính thức được thành lập dưới sự dẫn dắt của Đức Giám Mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi.

- Ngày 20. 5. 1975 Cha G.B Hoàng Thanh Huê được sai đến Cù Mi để trông coi đàn chiên.

- Ngày 11.6. 1994 Giáo xứ đón cha sở mới F.x Nguyễn Vân Nam.

- Ngày 13.5. 2001 Cha Giuse Hồ Sĩ Hữu về làm quản Xứ. Sau 7 tháng phục vụ, cha Hữu du học tại Pháp, cha phó Giuse Phạm Thọ quản nhiệm.

- Ngày 21. 8. 2003 Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Sáng được sai đến coi sóc Giáo Xứ. Sau 30 năm, Nhà thờ nhỏ bé đă xuống cấp nên phải xây dựng lại.

Ngày 22.02.2005 Lễ đặt viên đá đầu tiên do Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan chủ sự.

Ngày 02. 05. 2005 khởi công xây dựng ngôi nhà thờ. Sau 22 tháng thi công, Nhà thờ hoàn thành.

Các linh mục phục vụ theo ḍng thời gian

- 1887- 1893 : Cha Huỳnh Công Ẩn và 9 gia đ́nh đến Cù Mi
- 1893- 1894 : Cha Thiên
- 1894- 1895 : Cha Sanh
- 1895- 1900 : Cha Bovin Nhă
- 1900-1902 : Cha Sao
- 1902- 1903 : Cha Phuông
- 1903 -1904 : Cha Phêrô Thao
- 1904- 1912 : Cha J. Guegnard Lộc
- 1912- 1916 : Cha Gustave Lefevre
- 1916- 1918 : Cha Phêrô Tiễn
- 1918- 1920 : Cha Giuse Trần Hiếu Lễ
- 1920-1922 : Cha Phêrô Thể
- 1923-1928 : Cha Giuse Trần Hiếu Lễ
- 1928-1935 : Cha Micae Nguyễn Văn Giàu
- 1935-1938 : Cha Maccô Châu
- 1938-1946 : Cha Micae Nguyễn văn Giàu
- 23.10.1954-10.1955 : Cha Troget đến Cù Mi
- 10.1955-4.1957 : Cha Phaolô Phan Tùng Lộc
- 5.1957-1960 : Cha Viot Nhơn
- 1.1960-1961 : Cha Gerard Moussay
- 15.4.1961- 1973 : Cha Vinh Sơn Nguyễn Đạo Quán
- 29.3.1973 : Cha Roget Delsue Sáng
- 20.5.1975-1994 : Cha JB Hoàng Thanh Huê
- 11.6.1994-13.5.2001:Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Vân Nam, Cha Giuse Phạm Thọ.
- 05.8.2001-29.7.2002: Cha Giuse Hồ Sĩ Hữu.
- 21.8.2003: Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Sáng (các cha Phó: Giuse Phạm Thọ, Phêrô Nguyễn Tấn Luật, J.B Ngô đ́nh Long, J.B Nguyễn Hồng Uy, Giuse Nguyễn Văn Soi)

HOA TRÁI ƠN GỌI

Giáo xứ đóng góp cho Giáo hội : 3 Linh mục, 03 đại chủng sinh, 03 nam tu sĩ; 10 nữ tu sĩ,10 dự tu và 40 em đang tham gia các sinh hoạt của vườn ươm ơn gọi.

1. Lm. Antôn Phan Vũ, sinh năm 1963, thụ phong linh mục ngày 29-11-2001, thuộc Ḍng Phanxicô.
2. Lm. Phaolô Nguyễn Xuân Đường, sinh năm 1973, thụ phong linh mục năm 2005, thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế.
3. Lm. Giuse Trần Văn Phúc, sinh năm 1972, thụ phong linh mục năm 2006, phục vụ tại Giáo Phận Vinh.
4. Thầy Giuse Nguyễn Thành Long, sinh năm 1972, đang tu học tại ĐCV Thánh Giuse, Sài G̣n.
5. Thầy Giuse Nguyễn Đ́nh Thiên, sinh năm 1972, khấn ḍng ngày 2-2-2002, thuộc Ḍng Xitô Phước Lộc
6. Thầy Fx. Nguyễn Văn Hoài, sinh ngày 20-6-01975, khấn ḍng tháng 6-2001, thuộc Ḍng Chúa Cứu Thế.
7. Thầy Phêrô Nguyễn Ngọc Niên, sinh ngày 10-4-1978, khấn ḍng ngày 17-9-2004, thuộc Ḍng Phanxicô.

8. Nữ tu Anna Nguyễn Thị Cho, sinh ngày 25-8-1957, vĩnh khấn năm 1986, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
9. Nữ tu Têrêxa Nguyễn Thị Ai, sinh năm 1962, Vĩnh khấn ngày 19-9-1996, thuộc Ḍng MTG Huế.
10. Nữ tu Maria Ngô Thị Hải Triều, sinh ngày 29-5-1964, vĩnh khấn ngày 6-5-2000, thuộc ḍng MTG Phan Thiết.
11. Nữ tu Catarina Nguyễn Thị Hoàng Oanh, sinh năm 1974, vĩnh khấn ngày 5-6-2003, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
12. Nữ tu Maria Nguyễn Thị Mộng Hà, sinh ngày 8-7-1974, vĩnh khấn ngày 17-4-2006, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
13. Nữ tu Maria Hà Thị Ngọc Thy, sinh ngày 12-2-1982, tiên khấn ngày 14-9-2006, thuộc Ḍng MTG Huế.
14. Nữ tu Anna Dương Thị Hồng Thanh, sinh ngày 12-2-1982, tiên khấn ngày 31-5-2006, thuộc ḍng Chúa Quan Pḥng.
15. Nữ tu Anna Nguyễn Thị Hằng, sinh năm 1976, tiên khấn ngày 5-6-2003, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
16. Nữ tu Maria Hoàng Thị Khánh Ly, sinh năm 1976, tiên khấn 15-4-2004, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
17. Nữ tu Anna Nguyễn Thị Sơn, sinh năm 1980, tiên khấn 31-5-2006, thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
18. Nữ tu Maria Nguyễn Thị Xuyên, sinh ngày 24-3-1983, (nhà tập) thuộc Ḍng MTG Phan Thiết.
19. Chủng sinh Phêrô Lê Trọng, đang học tại Chủng viện Thánh Nicolas – Phan Thiết.
20. Chủng sinh Phêrô Dương Xuân Ngọc, đang học tại Chủng viện Thánh Nicolas – Phan Thiết.

Sau một chặng đường dài 120 năm h́nh thành và phát triển, nay lịch sử Cù Mi đă mở sang một trang mới. Giáo xứ đă trưởng thành mọi mặt, từ đây có thể sánh vai đồng hành cùng các xứ trong Giáo phận.

Niềm vui năm Toàn Xá và Nhà thờ mới góp phần xây nên đền thờ tâm hồn của mọi tín hữu Giáo xứ Cù Mi.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Nguồn : VietCatholic

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Cù Mi

H́nh ảnh Giáo xứ Cù Mi, Chầu Ḿnh Thánh Chúa (13/1/2013)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

H́nh ảnh và thông tin bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]