Giáo Phận Phát Diệm

Ṭa Giám Mục Giáo Phận Phát Diệm


Địa chỉ : 75 Phát Diệm Đông – Kim Sơn – Ninh B́nh  (Bản đồ )

Tel         : (30)-862-058

(30)-862-617

E-mail    : tgmpdiem@gmail.com

 

Web site : http://www.phatdiem.org/

 
   
Năm thành lập : Diện tích    : 1,787 Km2
Số Giáo dân    : 146,335  
Số Giáo hạt     : Số Giáo xứ : 65
   

Tư liệu :  Lược sử Giáo phận Phát Diệm (1901-2001)
                H́nh ảnh Giáo phận Phát Diệm
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Phát Diệm
                Danh sách Linh mục Giáo phận Phát Diệm

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo Phận Phát Diệm khai mạc năm thánh Ḷng Thương Xót (14/12/2015) - H́nh ảnh

* Thánh lễ phong chức Phó tế (18/10/2011)

 

LỊCH SỬ GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM

1901-2001

 
  LỜI DẪN NHẬP

Cuốn “Lịch Sử Giáo Phận Phát Diệm” chính lẽ đă được hân hạnh ra tŕnh diện với Quư vị độc giả trước tháng tư năm 2001, nghĩa là trước ngày Giáo phận mừng lễ 100 năm (1901-2001) thành lập. Nhưng không may, tác giả đă bất thần đă lâm bệnh trầm trọng và phải bồi dưỡng từ nhiều tháng nay.

Chúng tôi không được trăm phần trăm thoả măn, là v́ đă xa quê nhà quá lâu, từ 1954, không được trực tiếp đọc nhiều tài liệu lịch sử tại chỗ, cũng như không được may mắn tham khảo những nhân vật c̣n sống, nhất là Chương sáu nói về “Lịch sử các giáo xứ” trong Giáo phận. Hy vọng rằng với thời gian, quư vị độc giả sẽ vui ḷng chỉ giáo cho, để chúng tôi sửa lại cho hoàn hảo.

Ôn lại những giai đoạn lịch sử hào hùng, nhân dịp Giáo phận ba lần kỷ niệm 100 năm: trăm năm Nhà Thờ Chính Toà Phát Diệm, trăm năm ngày Cụ Sáu Trần Lục tạ thế (1899-1999) và trăm năm thành lập Giáo Phận Phát Diệm (1901-2001), tâm hồn những ai c̣n lại tràn ngập sự biết ơn sâu xa Thiên Chúa toàn năng đă bảo toàn Giáo phận, Đức Mẹ Mân Côi, Quan Thầy của Nhà Thờ Chính Toà, Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, nhất là 11 vị của Giáo phận

Chúng tôi cũng thành tâm ghi ơn các vị Giám mục đă ra đi:

Đức Giám mục Alexandre Marcou Thành, thừa sai người Pháp, đă lấy khẩu hiệu “Soi chiếu cho những ai c̣n ngồi trong bóng tối tăm”.

Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Ṭng, Giám mục Việt Nam tiên khởi, đă chôn “rễ sâu trong ḷng giáo đoàn Chúa chọn”, chương tŕnh mà tất cả bảy vị Giám mục Việt Nam tiếp nhận, qua bao ḍng thời gian, khó khăn, đă thực hiện, trong khi lèo lái Giáo phận bằng gương sáng, bằng đời sống thánh thiện, anh dũng, bằng đời sống không giả tạo và bằng sự triệt để vâng phục Toà Thánh.

Rôma, ngày 20 tháng 12 năm 2001

Vinh sơn Trần Ngọc Thụ

 

CHƯƠNG NHẤT

NHỮNG BƯỚC ĐƯỜNG THIÊN ĐỊNH

Trong lịch sử cá nhân mỗi người, cũng như của một dân tộc bao giờ cũng có bàn tay của Thiên Chúa quan pḥng chuẩn bị một cách tự nhiên, thông thường, hay một cách đặc biệt. Hiện tại của một người hay một xứ sở thường bị ảnh hưởng, hay mang tính chất của quá khứ địa phương đó hay là cá nhân đó.

1- a) Ngược ḍng lịch sử, chúng ta lên măi quá khứ xa xưa của Đinh Bộ Lĩnh (lên ngôi vua năm 968). Quê ở Động Hoa Lư, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh B́nh. Đinh Bộ Lĩnh là con của quan Thứ sử Hoan Châu đời Tiền Ngô, tên là Đinh Công Trứ. Lúc c̣n thiếu thời ông thường thi đua với bọn chăn trâu, bắt chúng làm kiệu công kênh, đi t́m bông lau làm cờ quạt, bày ra thế trận giả đánh nhau suốt ngày.V́ có sức mạnh phi thường, ông làm cho cả bọn trẻ khiếp sợ, kinh hoàng. Lớn lên, nhờ ông được tài trí thông minh và được Sứ Quân Minh Công Trần Lăm tin dùng, giao cho quyền điều khiển bá quân, tướng sĩ. Đến khi Minh Công Trần Lăm mất đi, ông đem quân về động Hoa Lư, chiêu mộ thêm tráng sĩ hào kiệt, đánh tan ba Sứ Quân Phạm Bạch Hổ, Sứ Quân Đỗ Cảnh Thạc tại Đỗ Động Giang và Sứ Quân Nguyễn Thủ Tiệp ở Tiên Du. Thế lực của Đinh Bộ Lĩnh hùng mạnh như vũ băo, do đó mọi người đều tôn phong ông lên hàng Vạn Thắng Vương. Năm Mậu Th́n (968), khi loạn Sứ Quân đă dẹp yên, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, xưng hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Đời vua Tiên Hoàng họ Đinh, h́nh luật đặt ra vô cùng gắt gao, như là nuôi cọp, xử tội bằng vạc dầu sôi, bày ra ngục thất ở hang núi Yên Hạ, cốt để cho dân chúng sợ mà không dám phạm pháp. Làm vua từ 968, trị v́ được 12 năm, tới năm 979 Đinh Tiên Hoàng và người con trưởng là Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám hại (1).

b) Gần Hoa Lư có làng Phúc Am, huyện Gia Khánh, quê hương của một danh nhân thứ hai tại Ninh B́nh, tức ông Trương Hán Siêu, một danh tướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cũng là tác giả bài Bach Đằng giang phú. Bạch Đằng Giang là trận địa hai lần chôn xác từng vạn quânTàu. Lần thứ nhất, đời Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán của chúa Lưu Cung, hoàng tử Hoằng Tháo bị bắt sống và bị giết tại Đại La Thành (939).

Lần thứ hai, Hưng Đạo Đại Vương đánh thắng tướng Ô Mă Nhi nhà Nguyên (1228) và tịch thu vô vàn chiến lợi phẩm.

Bạch Đằng Giang tức là con sông Nhị Hà. Trong bài ca Bạch Đằng Giang do Lưu Hữu Phước viết lời và Mai Văn Bộ phổ nhạc, chiếm giải thưởng hội Khuyến Học Nam Kỳ (1942) có câu thời danh:

“Đây Bạch Đằng Giang, sông hùng dũng của ṇi giống tiên rồng. Giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng Nam, Bắc, Trung!”

Vua Đinh Tiên Hoàng, danh tướng Trương Hán Siêu cho dù không trực tiếp liên quan đến việc thành lập Giáo phận Phát Diệm, tuy nhiên, nhắc tới việc các ngài lên ngôi chấp chính, sau khi đă dẹp loạn Sứ Quân ngay tại chỗ và xây dựng giang sơn, nhắc tới những huân công oanh liệt làm cho đất nước là có ư nói lên tính cách linh địa của tỉnh Ninh B́nh, nơi đă sản xuất hai vị anh hùng xuất chúng đă xây sự nghiệp, sau Ngô Quyền, rửa nhục hơn một ngàn năm Bắc thuộc (Trung Hoa) và dựng lại nền độc lập tự chủ cho con dân nước Việt

2- Công cuộc khai nguyên xă hội cho Phát Diệm

Cách đây gần 200 năm về trước, Phát Diệm chỉ là một cánh đồng bát ngát, mênh mông, mới có bùn lầy, mới có cỏ sậy tràn ngập dưới những làn sóng lênh láng. Con đê Hồng Đức, con đường Quan lộ chạy suốt từ Quảng Phúc qua xă Phúc Nhạc rồi đổ ra bể… hiện c̣n đứng vững để minh chứng đường ranh giới phân chia đất và nước của thời xưa. Và rồi Tạo Hoá đă làm việc rất nhiều. Người ta tính các chi nhánh sông Hồng Hà bồi thêm cho miền Trung châu Bắc Việt cứ trung b́nh mỗi năm được 100 thước trên một diện tích dài 25 km chạy ra bể. Như thế, cứ sau 10 năm bờ bể Bắc Việt Nam lợi thêm một cây số: cùng chung một đà tiến đó, sau 100 năm Phát Diệm đă chiếm thêm 10 cây số chạy ra bể.

Giải đất này, thẳng cánh c̣ bay, dưới đời Minh Mạng (1826-1840) đă được cụ Nguyễn Công Trứ (2) đem hết công lao khai thác và tổ chức. Năm 1826, sau khi chung sức với quan Tham Hiệp Nghệ An là Nguyễn Đức Nhuận và quan Tham Hiệp Trấn Bắc Thành là Nguyễn Hữu Thuận đem quân đánh ta bọn giặc Miền Bắc do hai tên Vơ Đức Cát và Phan Bá Vành nổi loạn. Hai tên giặc bị dồn về Trà Lũ, Vành bị bắt sống với hơn 700 đồng đảng. Năm 1828, với tư cách Dinh điền sứ, cụ Nguyễn Công Trứ dâng sớ, xin triều đ́nh cho lập huỵên Tiền Hải (Thái B́nh) gồm 7 tổng: Tân Cơ, Tân An, Tân Định, Tân Thành, Tân Hưng, Tân Phong và Tân Bồi. Năm 1829, tức Minh Mạng năm 20, cụ lại dâng sớ xin nhà vua cho phép khai khẩn doanh điền tỉnh Ninh B́nh, tức thành lập huyện Kim Sơn cũng chia làm 7 tổng: Chất Thành, Hồi Thuần, Quy Hậu, Hướng Đạo, Tự Tân, Tuy Lộc và Lai Thành (3). Là nhà nho uyên bác, cụ Nguyễn Công Trứ đă đặt cho hai huyện Tiền Hải (bể tiền) và Kim Sơn (núi vàng) những danh xưng tuyệt đẹp, nhiều ư nghĩa và muôn đời c̣n ghi nhớ tính cách thanh b́nh, hiền hoà của hai cuộc kinh doanh xă hội kỳ diệu trong lịch sử miền Trung châu Bắc Việt. Riêng trong huyện Kim Sơn, chính cụ là người đă cao kiến phân chia lănh thổ, điền địa, đặt tên cho các thôn, xă, đă cho đào những con sông ngang dọc làm máng chuyên chở, tiện lợi và mang lại ph́ nhiêu cho 14.600 mẫu đất của cả một miền tân lập.

Đời sống của cụ Nguyễn Công Trứ, lịch sử c̣n kể lại, không phải là măi măi công thành danh toại. Hết làm tướng vơ, đi dẹp loạn Vơ Đức Cát, Phan Bá Vành (1826), rồi lại đem quân đánh thắng giặc Nông Văn Vân (1833). Nhưng cụ c̣n là người thông minh, xuất chúng. Năm 1813, dự khoa thi của triều đ́nh, cụ được Tả Quân Lê Văn Duyệt dặn Ban chấm thi cho cụ đỗ, để sử dụng nhân tài cho đất nước. Năm 1829, cụ đỗ Giải nguyên lúc 42 tuổi. Tuy nhiên, v́ một vài lầm lẫn, như năm 1831, v́ cụ cử Phi Quư Trại làm Thừa Huyện Tiền Hải, năm 1840, v́ để cho một tội nhân vượt ngục, cụ bị triều đ́nh khiển trách nặng nề, và hai lần bị giáng một hơi 4 cấp, nhưng về sau với ư chí sắt đá, cụ đă phục hồi danh dự. Và cụ dạy đời:

Ṿng trời đất dọc ngang, ngang dọc
Nợ tang bồng vay trả, trả vay
Chí làm trai Nam, Bắc, Đông Tây
Cho phỉ chí vẫy vùng trong bốn bể!

Nói cho chí lư, sự nghiệp khai nguyên của cụ Nguyễn Công Trứ về sau này vẫn được cha Trần Lục, cũng là Cụ Lớn Khâm, tiếp tục và hoàn bị. Cả hai vĩ nhân này ra chào đời không xa boa nhiêu. Cuộc đời cha Lớn Khâm (1825-1899) đến sau cụ Dinh điền sứ (1778-1858) chừng 40 năm. Năm 1829, cụ Nguyễn Công Trứ khởi công lập huyện Kim Sơn, th́ cha Trần Lục mới ra đời được 4 năm. Tuy nhiên, cha sống tới măi 1899 và từ 1873 cha đă ra tay chuẩn bị vật liệu, để xây cất quần thể Thánh Đường Phát Diệm. Cha Lớn Khâm đă đứng lên chiêu mộ dân cư về ở, đă chiến đấu lấy lại những khoản công tư điền thổ cho dân chúng, đă khởi công cho đào con sông Ân giang chạy ngang địa hạt Kim Sơn, suốt từ Điền Hộ cho tới Như Sơn, lấy đất đắp thành con đường 10 ngày nay. Lập trường của cha, chính sách của cha rất thực tế: có thực mới vực được đạo!. Làm cho công cuộc tông đồ đi đôi với những khả năng kinh tế, xă hội của người dân, bất cứ lương hay giáo!

3- Ngôi nhà thờ thứ nhất tại Bắc Vịêt

Không nguyên trên b́nh diện xă hội mà cả trên phương diện tôn giáo, Phát Diệm c̣n in sâu dấu vết của Tay Chúa Quan Pḥng. Mảnh đất về sau sẽ thành cơ đồ sán lạn của vị Khâm Sai Tuyên Phủ Sứ (5), thành giáo phận đầu tiên được Toà thánh La Mă uỷ thác cho hàng Giáo phẩm bản quốc, cho linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Ṭng, giám mục tiên khởi Việt Nam, cũng chính là nơi mà đầu thế kỷ XVII đă được hân hạnh đón vị truyền giáo ngoại quốc thứ nhất và do đó lịch sử c̣n ghi chép là một họ đạo đầu tiên đă được thiết lập tại Bắc Việt.

Đức cha Alexandre Marcou Thành, trong tập nhật kư năm 1904, có ghi chép: “Hảo Nho là một xứ đạo đầu tiên của Bắc Việt, được cha Đắc Lộ, Ḍng Tên, vị tông đồ thứ nhất tại xứ này thành lập, v́ ngài đă tới đây, ở lại nhiều tháng, năm 1627 (Tonkin Maritime, 1901-1920, Souvenirs d’année en année, Thư Viện MEP, tr. 18)”.

Theo cuốn Khâm Định Việt Sử, ngay từ năm Nguyên Hoà nguyên niên, tức là đời vua Lê Trang Tông (1533-1548) đă có người Tây tên là Inekhu đi đường bể vào giảng đạo Thiên Chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh thuộc huyện Nam Châu (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ thuộc huyện Giao Thuỷ (6). Sở dĩ có sự kiện như thế là v́ thời đó (từ thế kỷ XVI) đang là một thế kỷ phát minh. Sau cuộc khám phá tân thế giới của Cristophe Colomb (1451-1506), các cường quốc Tây phương thi đua chạy t́m các thị trường buôn bán tại Âu châu cũng như tại Á châu. Với Việt Nam cũng bắt đầu những đàm phán thương giao. Và có thể cùng với nhóm tàu thuyền buôn bán Tây phương này đă có những vị Truyền giáo ngoại quốc tận dụng thời cơ để đi giảng đạo bên Đông Phương. Tuy nhiên, công cuộc truyền giáo khai nguyên này đă cùng với thời gian trôi chảy và hiện giờ không c̣n đâu ghi chép với những chi tiết phù hợp chính xác. Inekhu, nhà truyền giáo nói trên đây, là ai? Công việc của ngài diễn tiến ra sao? Thành công hay thất bại? Hiện nay tuyệt đối không c̣n di tích lịch sử!

Trái lại ở đây, chúng tôi có trong tay một tài liệu vô cùng quư giá đă được công bố bởi chính tay vị linh mục Alexandre de Rhodes (Cha Đắc Lộ), người mà xưa nay toàn dân công nhận là vị truyền giáo thứ nhất đă đặt chân lần đầu tiên tại Việt Nam. Trong hai cuốn: “Lịch sử Bắc Việt” (7), ngài đă tỉ mỉ chép lại cuộc hành tŕnh đầu tiên, khi tới Cửa Bạng (Thanh Hoá), ngày 19-3-1627, cũng là năm Đinh Măo đời vua Lê Thần Tông (1619-1643) và đời chúa Trịnh Tráng (1623-1657) ở Đàng Ngoài. Ngài đặt tên cho Cửa Bạng là cửa Thánh Giuse, v́ hôm ấy trúng ngày lễ kính thánh nhân (8). Và đây cũng là lư do về sau Giáo hội Việt Nam được đặt dưới sự bảo trợ của thánh Giuse và nhận ngài làm Quan thầy toàn thể Giáo hội nước Việt Nam.

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) lui lại Cửa Bạng bốn tháng trời, rồi lên đường trực chỉ ra Bắc, vẫn theo bờ bể, theo các nghách sông, chứ không dám mạo hiểm ra khơi. Là v́ cuộc hành tŕnh ngoài khơi thời đó rất nguy nan, hiểm trở, nhất là quăng đường qua cửa Thần Phù gần mỏm núi Yên Duyên, giáp giới hai miền Bắc Việt và Trung Việt, ngay từ hồi đó đă thời danh v́ những biến cố thiên tai (9). Lời ngạn ngữ của dân chúng truyền tụng cho nhau:

Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu th́ nổi vụng tu th́ ch́m

Ngày 2-7-1628, linh mục Alexandre de Rhodes đă tới thủ đô Kẻ Chợ (Hà Nội) và xin vào triều yết chúa Trịnh Tráng hồi ấy xưng hiệu là Thanh Đô Vương. Sự nghiệp của linh mục thành công mỹ măn, em gái chúa Trịnh Tráng trở lại đạo công giáo lấy tên là Catarina. Cả ông săi chùa làng Vũ Xá cũng ṭng giáo, c̣n chính chúa Trịnh Tráng cho phép lập nhà thờ bên cạnh đền vua (10). Không may cách đấy 2 năm về sau, chúa Trịnh Tráng quá tin một nhóm nịnh thần vu oan cho cha Đắc Lộ, nên ra chỉ dụ buộc ngài rút lui. Năm 1629, vị truyền giáo lại xuống thuyền theo con đường cũ xuôi về mạn Nam (11). Lúc qua Chợ Ḅ, ngài được viên xă trưởng, trước đă nhờ ngài để ṭng giáo, đem cả một đội tuần canh ra đón tiếp long trọng (12). Rồi từ đó cha lại xuôi buồm chạy một ngày đường tới làng Chợ No, chỗ mà hai năm về trước (1627) “chúng tôi đă xây dựng đền thờ thứ nhất ở Bắc Việt” (13).

Tài liệu lịch sử trên đây hết sức quan trọng, nhưng cần giải thích một vài từ ngữ và minh chứng tài liệu lịch sử này tương đối với các địa điểm hiện hữu trong lănh thổ giáo phận Phát Diệm.

1) Một vài từ ngữ

a. Chợ Ḅ

Trong địa đồ tỉnh Ninh B́nh, chợ Ḅ hồi xưa là một làng ở về mạn phía Bắc xă Như Sơn, một bên là Nam Biên, một bên là chi nhánh sông Đáy, tương đối với Hiếu Thuận ngày nay. Gọi là Chợ Ḅ v́ nơi đây tập trung các lái buôn ḅ từ Ninh B́nh đổ xuống và từ Nam Định đổ sang. Đồng ruộng tại vùng này ph́ nhiêu, nhưng là đất cát, khô ráo… cần phải có ḅ mới tiện làm ăn

b. Chợ No

Hay là Văn No: cha Đắc Lộ dùng hai danh từ này để chỉ một địa điểm (14). Chính lẽ ra phải viết là Chợ Nho, hay là Văn Nho, nhưng người ngoại quốc không đọc nổi chữ NH Việt ngữ. Chợ Nho hay là Văn Nho, v́ là địa điểm chỗ gặp gỡ các Nho giả sùng mộ chữ Hán, tập họp với nhau, nhất là khi nhàn rỗi chờ đ̣ qua sông Ninh B́nh-Thanh Hoá sát cạnh rạng núi Yên Duyên và cửa Thần Phù. Về sau đó là Hiếu Nho, ngày nay là Hảo Nho.

Sở dĩ quyết đáp như trên là v́ căn cứ vào hai đoạn sử liên đới cùng đề cập trong cuốn “Lịch sử Bắc Việt”. Cha Đắc Lộ khi tường thuật những lần di chuyển đầu tiên để truyền đạo đă nói rơ hai chi tiết:

· Chợ Ḅ, nơi ngài được viên xă trưởng đă ṭng giáo tiếp niềm nở, cách xa thủ đô (Hà Nội) chừng 100 cây số: centum fere ab urbe regis milliaribus (14).

· Và từ chợ Ḅ tới chợ No (tức là từ Hiếu Thuận đến Hảo Nho ngày nay) xa nhau bằng một ngày đi thuyền: continua unius diei navigatione (16).

Cả hai chi tiết nói trên, thật ra chính xác và tương đối với sự thật, hợp với vị trí địa dư, nghĩa là quyết đáp Chợ Ḅ (Hiếu Thuận) và Chợ No (hay Văn No), tức Hảo Nho, căn cứ vào lịch sử, phải ở trong địa hạt Phát Diệm, chứ không ở một nơi nào khác, bởi v́ không đâu có những địa điểm mang tên như thế. Và rồi cũng ở đây Chợ Ḅ cách xa thủ đô Bắc Việt gần 100 cây số. Theo đường xe lửa, Hà Nội cách Ninh B́nh 97 cây số; giữa chợ Ḅ và chợ No, nêú đi thuyền cũng phải mất một ngày chèo.

2) Trong cuốn “Lịch sử Bắc Việt”, trong đoạn đề cập đến việc truyền bá Đức tin trong các dân làng đầu tiên tại lănh thổ Phát Diệm, cha Đắc Lộ có kể mấy câu chuyện hào hứng:

a. Truyện một vị sư thời danh trở lại đạo Thiên Chúa giáo: vị sư này hồi ấy chỉ huy một ngôi chùa h́nh kim tự tháp chót vót trên đỉnh một ngọn núi (17).

b. Trong cuộc hành tŕnh từ Cửa Bạng ra Bắc năm 1627, cha Đắc Lộ đă đón gặp chúa Trịnh Tráng dịp ấy đang tập họp quân binh trên một quảng trường mênh mông… gần làng An Vực, c̣n chính Trịnh Tráng lên núi cao nơi có ngôi chùa để đích thân hành lễ tế thần (18), trước khi lên đường đem toàn lực vào Quảng B́nh đánh chúa Nguyễn Phúc Nguyên, tức Thuỷ Quận Công (1613-1635) (19).

c. Luôn đấy truyện một bà lăo rất sùng Phật, nhưng ơn Chúa thúc đẩy bà đă theo đạo Công giáo, quê bà ở một làng bên kia sông gọi là Văn No (20)

Lịch sử để lại có bấy nhiêu, nghĩa là dùng một lỗi văn diễn tả đơn giản, nhưng ngày nay cần t́m lại địa thế của những nơi vừa kể trên. Năm 1934 trước đây cha Schlotterbek (cố Tuấn), thuộc Hội Truyền giáo Balê, hồi đó giám đốc Đại Chủng Viện Phát Diệm, và năm 1951 chính chúng tôi cùng với một số giáo dân kỳ lăo người Hảo Nho đă trở lại nơi đó với mục đích chứng kiến cho đoạn lịch sử này. Kết quả là những địa điểm do cha Đắc Lộ đă nhắc tới trong cuốn Lich sử Bắc Việt trên đây, th́ ngày nay người ta đủ bằng chứng tập trung lại trên một mảnh đất ở về cuối rặng núi Bằng, gần làng Phương Tŕ, huỵên Yên Mô, tỉnh Ninh B́nh, nghĩa là hơi xéo về phía đông bắc Thần Phù, Hảo Nho.

Đại khái:

Trên đỉnh một ngọn núi, cuối rặng núi Bằng, cho dù ngôi chùa h́nh kim tự tháp không c̣n nữa v́ đă trải qua hơn ba thế kỷ, tuy nhiên hiện vẫn c̣n một cái miếu xây trên núi đó: có phải chính ở nơi đây là chỗ xưa kia chúa Trịnh Tráng đă lên tế thần?

Từ chân núi đó xoải xuống là một băi cát thênh thang, ngày nay là một cánh đồng rộng lớn, nhưng xưa kia là ven bờ bể gần cửa Thần Phù. Chính ở đây một quảng trường mênh mông: in anplissimo campo dư chỗ cho đại đoàn quân binh nhà vua xếp hàng, quay về phía ngôi chùa trên núi, đang khi chúa Trịnh Tráng hành lễ long trọng. C̣n làng An Vực nhắc trong đoạn lịch sử cũng không xa rặng núi Bằng. Hiện nay trong vùng đó c̣n một cái đầm gọi là An Vực, chỉ khác một điều là với thời gian, đầm này đă được bồi lấp, không c̣n rộng lớn như xưa.

Con sông làm chỗ phân ranh giới cho bản quán bà lăo sùng Phật kia chính là ngọn Kênh Đào ngày nay chạy từ Hảo Nho lên qua chợ Trâm, Từ Đường, Chợ Kênh…Như thế nói: một làng bên kia sông gọi là Văn No (Hảo Nho) theo địa thế rất chính xác với thực tế

3) Căn cứ vào đoạn lịch sử trên đây, chúng tôi xin trở lại lời quyết đáp của cha Đắc Lộ: chính ở Hảo Nho (Chợ No, Văn No) là nơi hai năm về trước (1627) chúng tôi đă xây dựng đền thờ thứ nhất ở Bắc Việt : primum Tunquini templum erexeramus… để xác tín rằng lịch sử đă chứng minh: mảnh đất Hảo Nho hồi xưa là chỗ dừng chân giữa đường ranh giới hai miền Bắc – Trung cho khách thập phương qua lại buôn bán và là những khác Hiếu nho (Hảo nho: hâm mộ chữ Hán), cũng là một đầu cầu thiên định, v́ ở đây, cha Đắc Lộ đă dừng chân giảng đạo và xây cất ngôi nhà thờ thứ nhất ở Bắc Việt.

Đầu cầu thiên định là v́ vầng ánh sáng Đức tin hồi xưa đă soi chiếu cho nhà sư đạo đức, cho bà lăo sùng Phật cũng chính là vầng ánh sáng Đức tin đă toả chiếu cho tất cả đất Bắc, gieo xuống ở đó hạt giống Phúc Âm, thiết lập ở đó họ đạo đầu tiên: Primum Tunquini templum năm 1627 tại Bắc Việt dọn đường và tiên báo, hơn ba thế kỷ trước, giai đoạn lịch sử huy hoàng sẽ thành lập giáo phận Việt Nam đầu tiên, chuyển giao cho hàng Giám mục bản quốc năm 1933. Lời ngạn ngữ của giáo dân Hảo Nho xưa nay truyền tụng cho con cháu:

Thứ nhất Toà Thánh Pha-pha
Thứ hai Cửa Bạng, thứ ba Thần Phù

c̣n là một bằng chứng b́nh dân, có tính cách thôn xă địa phương, nhưng thật sâu sắc, muôn đời c̣n ghi nhớ hồng ân Thiên Chúa huyền diệu và cao cả này vậy!

(1) Trịnh Văn Thanh,Thành ngữ điển tích, Danh nhân từ điển, Gia Định 1966, tr. 249

(2) Cụ Nguyễn Công Trứ, con hai cụ Công Tấn và bà nội Thị Cảnh Bá Nhạc (người Sơn Nam-Hà Đông), sinh 1-1-1778 tại làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. (X. Trịnh VănThanh, Thành ngữ điển tích, Danh nhân từ điển, Gia Định 1966, II, tr. 818).

(3) Hoàng Xuân Việt,Thắng cảnh Phát Diệm (Địa linh nhân kiệt và kỳ quan), do Uỷ Ban Đoàn Kết Công Giáo Tp. Hồ Chí Minh ấn hành Rôneô, 1991, tr. 26 và tiếp theo.

(4) Hoàng Xuân Việt, Thắng cảnh Phát Diệm, tr.29-30

(5) Danh hiệu vua Đồng Khánh tặng cha Trần Lục

(6) Trần Trọng Kim,Việt Nam sử lược,Sài G̣n 1951, tr. 341-342

(7) Alexandre de Rhodes,Tunquinensis Historiae, libri duo (Lịch sử Bắc Việt, 2 cuốn),Kẻ Sở 1906.

(8) Ibid, tr. 107-108

(9) Ibid, tr. 132, “per continentes fluminum alveos… vela fecimus, semper extra ipsum mare, ad quod ingressi nequaquam sumus”.

(10)Ibid, tr. 138-139

(11)Ibid, tr. 194

(12)Ibid, tr. 195

(13)Ibid, tr. 196: Ex eo portu (Chợ Ḅ) continua unius diei navigatione.

(14)Ibid, tr. 122 và 196

(15)Ibid, tr. 195: “cum igitur intellexit tryremem nostram ad illius pagi, cujus nomen est Chợ Ḅ,ora praetervehi, centum fere ab urbe regia miliaribus, prodiit ipse (xă trưởng) , obviam nobis cum frequentissima militum cohorte…”

(16)Ibid, tr. 196

(17)Ibid, tr. 122: “praeerat ille (ông sư) templo idolorum, quo olim dixi in modum pyramidis eminere conspicuum in supremo montis cujusdam vertice”.

(18)Ibid, tr. 115: “In amplissimo quodam campo, non procul a pago,cui nomen An Vuc, rex ascendit ad solemne sacrificium peragendum, e regione altissimi cujusdam montis, cujus in vertice supremo templum eminet idolis dedicatum”.

(19)Ibid, tr. 113-117. Và Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược, tr. 264-265

(20)Ibid, tr. 122: “In altero quoque pago, qui situs in altera parte fluminis dicitur Van No vetula quaedam erat idolorum superstitionibus mire dedita”.

.................

CHƯƠNG HAI

VIỆC THÀNH LẬP GIÁO PHẬN PHÁT DIỆM

Công cuộc truyền giáo tại Bắc Việt, chúng tôi đă tŕnh bày ở trên, là do sự nghiệp của linh mục Alexandre de Rhodes và các anh em ḍng Tên đồng nghiệp của ngài từ năm 1627. Nguyên một ḿnh ngài, trong nửa đầu thế kỷ 17, đă từ Macao đổ bộ lên Bắc Việt bốn lần (những năm 1627, 1640, 1643, 1644), chứng minh rằng ngài đă hết sức tận tuỵ, nhưng v́ những khó khăn lúc ban đầu, những hiểu lầm, những bách hại, thành ra việc phát huy đạo công giáo đă bị ngưng trệ rất nhiều. Năm 1648, về tới kinh thành La Mă, linh mục Alexandre de Rhodes đă cố vận động Đức giáo hoàng Innocent X (1644-1655) để xin thêm số linh mục truyền giáo, xin cả giám mục nữa. Kết quả là Hội các Linh mục Thừa sai Balê (Missions Etrangéres de Paris) ra đời. Năm 1659, Toà thánh thiết lập giáo phẩm cho Việt Nam và năm1960, hai giám mục đầu tiên François Pallu và Lambert de la Motte lên đường sang nhận nhiệm sở mới. Với tư cách là giám mục thứ nhất của Nam Việt, giám mục Lambert de la Motte tới Bắc Việt trước này 30-08-1669, cùng hai linh mục đồng nghiệp De Bourges và Bouchard. Thế rồi, ngày 14-02-1670, ngài nhóm công đồng thứ nhất ở Việt Nam, tại Định Hiến (Nam Định), cùng với ba linh mục Pháp và chính linh mục Việt Nam (1) để xác định quy chế : “Nhà Đức Chúa Trời”, nghiên cứu các điều kiện truyền bá Phúc Âm, phân chia Bắc Việt ra làm 9 giáo hạt và uỷ thác cho 9 linh mục bản xứ, sau cùng thành lập Ḍng chị em Mến Thánh Giá. Tất cả những văn kiện của công đồng này về sau đă được Đức Clêmente X (1670-1676) duyệt y phong sắc chỉ “Nhiệm Vụ Tông Đồ: Apostolatus Officium”, ban hành ngày 23-12-1673.

Cũng trong năm 1670, giám mục Lambert de la Motte vào thăm Giáo Tỉnh Đàng Trong (1). Trông thấy số linh mục quá ít ỏi trước những nhu cầu khẩn trương của giáo dân, năm 1673, ngài uỷ nhiệm một tân linh mục Việt Nam và linh mục Bouchard sang Manila, thủ đô Phi-luật-tân (nơi mà, năm 1674, giám mục Prançois Pallu, trên đường đi Đàng Ngoài, đă bị băo đánh tạt vào đây) để cầu cứu sự tiếp tay của các Ḍng Đaminh và Phanxicô. Thế là một số linh mục Ḍng Đaminh Tây Ban Nha, ngày 7-7-1976 đặt chân lên bến Hưng Yên (Bắc Việt ) và ngày 20-2-1677, theo lệnh của linh mục Tổng quản Deydier, họ định xuống Nam định nhận nhiệm sở mới, nhưng v́ cuộc bách hại thứ tám đang diễn tiến gắt gao (2), họ đến ẩn náu tại cửa biển Trung Linh (Bùi Chu).

Giáo Hội Việt Nam hồi đó, cũng như ngày nay, là một cánh đồng ph́ nhiêu, lúc nào cũng hứa hẹn một màu xanh tươi, lúc nào cũng một cảnh dập d́u theo luồng gió Phúc Âm, cần là cần những thợ gặt mà Chúa đă xin Thân Phụ hồi xưa, cần là cần những nhà truyền giáo có nhiều tâm huyết, để thu lượm hoa mầu về cho giáo Hội. Năm 1647, tức chỉ sau 20 năm sau ngày khởi sự rao giảng Tin Mừng, linh mục Alexandre de Rhodes trong bảng phúc tŕnh về Đức giáo hoàng Innocent X có kể rằng số giáo dân Bắc Việt đă vọt lên quá 200.000 người (3)

Nhưng một điều mà ai cũng công nhận là hồi đó tất cả miền Bắc chỉ kết thành một giáo phận duy nhất. Măi cho tới năm 1679, nghĩa là 3 năm sau khi có các vị truyền giáo từ Phi-luật-tân đến tăng cường, v́ những điều kiện bất thường, v́ những khó khăn gặp phải trong những năm bị bách hại và để phân công công tác, Thánh bộ Phúc Âm hoá các dân tộc nhận thấy nhu cầu thời đại mới, nên đă duyệt y chương tŕnh phân chia Bắc Việt ẩ làm hai giáo phận, lấy sông Hồng Hà làm ranh giới: bên này sông (Phía Tây sông) là Hà Nội (Tây Bắc Việt: Tonkin Occidental) trao cho Hội Thừa sai Balê và bên kia sông (phía đông sông Hồng Hà) là Hải Pḥng (Đông Bắc Việt: Tonkin Oriental) trao cho Ḍng Đaminh Phi-luật-tân. Từ đó hai giáo phận mẹ đă sinh ra nhiều giáo phận con khác. Theo thứ tự thời gian như sau:

Giáo Phận Đàng Ngoài

Tây Đàng Ngoài: Hà Nội Tonkin Occidental (1679)

Đông Đàng Ngoài: Hải Pḥng Tonkin Oriental (1679)

Nam Đàng Ngoài: Vinh Tonkin Méridional (1846)

Trung Đàng Ngoài: Bùi Chu Tonkin Central  (1848)

Thượng Đàng Ngoài: Hưng Hoá Haut Tonkin (1895)

Bắc Đàng Ngoài: Bắc Ninh Tokin Septentrional (1883)

Duyên Hải Đàng Ngoài: Phát Diệm Tonkin Maritime (1901)

Thái B́nh(1936)

Thanh Hoá(1932)

Lạng Sơn(1913)

 

Cứ như trên, sánh với Hà Nội, Phát Diệm là giáo phận con thứ ba nhưng sánh chung với Bắc Việt, là giáo phận con thứ năm được phân chia. Mỗi lần phân chia như thế là mỗi bước tiến, mỗi thành công. Là v́ lư do tồn tại của Giáo hội là phải phát triển, phải lớn lên, phải xây dựng ở khắp hoàn cầu: “Chúng con hăy đi cùng thế giới rao giảng Tin Mừng cho muôn tạo vật”(Mc 16,15). Các giám mục truyền giáo hồi xưa mang nặng mối suy tư đó. Trong tập văn thư mật của giám mục Gendreau Đông, tiên nhiệm giáo phận Hà Nội, chúng tôi t́m thấy hai bức thư sau đây gửi giám mục Alexandre Marcou Thành, hồi ấy đang là phó với quyền kế vị (Coadjuteur) Hà Nội.

Bức thứ nhất đề ngày 13-5-1900, từ Balê, năm ấy giám mục Gendreau Đông về La Mă dự lễ Đức Leô XIII tôn phong Chân phúc cho các anh hùng Tử đạo Việt Nam. Dưới đây là nội dung: “Tôi đă bắt đầu nêu lên dự án phân chia địa phận theo ư nghĩa mà tôi đă có lần tŕnh bày với Đức cha. Xem ra ở đâu cũng hoan nghênh” (4).

Năm sau về tới Việt Nam, giám mục Gendreau Đông từ Kẻ Săi, 5-10-1901, nhắc lại vấn đề một cách khẩn khoản, rơ rệt hơn: “Hôm 15 tháng 9 dương lịch, tôi đă nhận được thư của Hội Đồng Balê chuyển giao lời phúc đáp của Hồng y Tổng trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo, cho lệnh phải kết thúc vấn đề phân chia. Balê cũng cho hay là đă viết cho Đức cha như thế. Ngay hôm sau, tôi cũng viết cho Đức cha, đại khái nói rằng: phần riêng tôi rất sẵn sàng tuân theo chỉ thị của Thánh Bộ, và tôi xin Đức cha vui ḷng cho tôi biết những điều kiện và nguyện vọng cần thiết để kết thúc vấn đề này. Tôi có thêm rằng: v́ Balê và La Mă cho lệnh thanh toán việc này một cách gấp rút nên chúng ta có thể gặp nhau ở Kẻ Sở, tôi sẽ tới đó ngày 10 tháng 10” (5).

Sở dĩ bức thư trên đây có vẻ thúc bách là v́ tự La Mă Toà thánh đă duyệt y bản dự thảo của giám mục Gendreau Đông và của Hội Thừa Sai Balê về việc phân tách Phát Diệm ra khỏi giáo phận Hà Nội, và ngày2-4-1901, Thánh Bộ Truyền Giáo, thừa lệnh Đức Leô XIII, đă phê chuẩn bản dự thảo đó một cách công khai. Dưới đây là nguyên văn sắc chỉ Toà Thánh (6).

NGHỊ ĐỊNH

Văn thư Prot. No. 4-3093
(Tập Hồ Sơ Thư Viện R. 129)

“Giám mục Phêrô Gendreau, trước sự kiện địa phận Tây Bắc Việt ḿnh đang quản nhiệm quá rộng lớn, đă khẩn khoản yêu cầu để chia làm hai giáo phận riêng biệt, và thành lập một giáo phận mới,lấy tên là giáo phận Bắc Việt Duyên Hải, sẽ bao gồm hai tỉnh Thanh Hoá, Ninh B́nh, cả miền núi Châu Lào, và cả lănh thổ người Mường tại Lạc Thổ. Do đó, các vị Hồng Y liên hệ trong trách nhiệm ở Thánh bộ Truyền Giáo, trong buổi công hội ngày 11 tháng 3 vừa qua, đă nghiên cứu toàn thể vấn đề và đă đồng thanh nghị quyết nhu cầu phân chia giáo phận Tây Bắc Việt, và thành lập một tân giáo phận lâư tên giáo phận Bắc Việt Duyên Hải. Ranh giới giáo phận này như sau: bắc giáp tỉnh Hà Nam và miền Lạc Thổ, đông giáp sông Đáy và vịnh Bắc Việt, tây giáo giáo phận Lào và nam giáp tỉnh Nghệ An, tức giáo phận Nam Bắc Việt

Ngoài ra, cũng trong buổi công hội ngày 11 tháng 3, các vị Hồng Y đă quyết định bổ nhiệm giám mục Alexandre Marcou Thành, trong mấy năm gần đây đă là vị giám mục phó đắc lực của giám mục Phêrô Gendreau, sẽ về cai quản tân giáo phận. Nghị quyết của các vị Hồng Y trên đây đă được Đức Aloisiô Veccia, Thư kư Thánh Bộ Truyền giáo, đệ tŕnh Đức thánh cha Leô XIII, trong buổi chiều yết ngày 28 tháng 3 vừa qua. Đức thánh cha đă xác nhận và duyệt y tất cả những sự kiện đó và lệnh cho bản quyết nghị này, cũng như bức Tông thư đây, được gửi đi dưới h́nh thức một Sắc Chỉ”.

Làm tại La Mă, ngày 2 tháng 4 năm 1901

Kư tên:

Hồng Y M. Ledochowski, Tổng trưởng
Giám mục L. Veccia, Thư kư

Đang khi Toà Thánh xúc tiến và duyệt y chương tŕnh truyền giáo tương lai cho Bắc Việt một cách mau chóng và tốt đẹp như thế, lịch sử c̣n chứng ḿnh rằng tại Việt Nam công cuộc chuẩn bị để chấp hành nghiêm chỉnh sắc chỉ của Toà Thánh cũng không kém phần gấp rút.

Trên đây, chúng tôi chỉ tŕnh bày những diễn tiến đặc biệt liên quan đến giáo phận Phát Diệm. Nhưng thực sự trong đầu óc giám mục Gendreau thời đó, có hai dự án phân chia thành hai giáo phận mới: Hưng Hoá và Phát Diệm. Bằng chứng là vị giám mục lăo thành khôn ngoan đó từ lâu đă đề cử và đựơc Toà Thánh chấp thuận danh sách hai vị tân giám mục: Đức cha Raymond Lộc cho Hưng Hoá và Đức cha Alexandre Marcou Thành cho Phát Diệm.

Cuộc lễ tấn phong giám mục cho hai vị vừa được tuyển chọn cử hành long trọng ngày 15 tháng 10 năm 1895, tại nhà thờ chính toà Hà Nội. Người ta c̣n ghi chép một câu chuỵên hi hữu liên quan đến cuộc lễ tấn phong này. Sáng hôm đại lễ, các vị giám mục đă an toạ, nhưng v́ là một biến cố chưa từng có cho cả Bắc Việt, nên số người từ thập phương tuôn về hết sức đông đảo và do đó cũng hết sức huyên náo ồn ào. Giám mục Gendreau Đông nhận thấy cha Trần Lục hiện diện trong buổi lễ, liền cho người đến xin cha t́m phương pháp đỗi phó kịp thời. trong giây phút, cha Trần Lục đă nghĩ ra một cao kiến: ngài đứng dậy ra về. Nhưng khi trở lại, ngài oai phong đi giữa hai hàng cận vệ, hồi đó với tư thế Lễ Bộ Tham tri, sung Khâm sai Tuyên Phủ Sứ của vua Đồng Khánh, trên ḿnh đeo nhất hạng Kim Khánh và Bắc Đẩu Bội Tinh. Một viên đội hầu đi trước báo lệnh, hai bên là bốn lính đội nón dấu, áo đỏ, nẹp xanh (theo tước hàm các quan Đại thần hồi xưa), hai tên cầm nghi trượng, hai tên cầm gươm tuốt trần, đằng sau là các Thông, Kinh, Bá, Cửu tuỳ hầu. Trăm ngàn con mắt đổ dồn về đây, cha Trần Lục tiến lên toà giảng, quay về phía bàn thờ bái chào các vị Giám mục và quay chào cử toạ, rồi dơng dạc tuyên bố có một câu: “Yêu cầu đâu đấy trong nhà thờ phải tĩnh lặng để cuộc lễ tấn phong được cử hành”. Trật tự đă văn hồi tức khắc và đại lễ đă khởi sự trang nghiêm (7).

Ngày 22 tháng 10 năm 1895, giám mục Gendreau Đông, chiếu theo sắc chỉ Toà Thánh, đă trao quyền cai quản giáo phận Hưng Hoá bao gồm các tỉnh Lào Kay, Yên Báy, Phú Thọ tức Sơn Tây cho vị tân giám mục Raymond Lộc. C̣n Đức cha Alexandre Marcou Thành ở lại làm giám mục phó Hà Nội, nhưng thực sự từ đầu năm 1896, ngài bắt đầu những tuần kinh lư trong các tỉnh miền nam thủ đô, hầu như ngài đă ở trong lănh thổ tân giáo phận Phát Diệm. Suốt trong một năm trời, ngài xuôi ngược măi tận trong các vùng hẻo lánh: Lạc Thổ, La Hán, Phong Ư, Cửa Hàn, Bái Thượng trong địa hạt Thanh Hoá, rồi sau cùng trong thời gian dừng chân tại chính tỉnh lỵ, nơi đây ngài có ư định xây đắp để biến thành Toà Giám Mục tương lai. Nhưng rồi thấy trong dân số tỉnh lỵ Thanh Hoá ít người công giáo, mà lại ở cách xa nhau, ngoài ra ngài đổi chương tŕnh định tâm rời ra Điền Hộ, cách xa Phát Diệm chừng 7 cây số, nơi đây vị tiền nhiệm giáo phận Hà Nội đă tậu được 400 mẫu ruộng tại Mông Ân, 100 mẫu ở Tam Thành (Tam Tổng), và chỗ khác mấy nông trại như Hữu Lễ, Thiên Tôn (Thanh Hoá), Hoàng Đồng, Tam Châu (Ninh B́nh) để làm vốn cho giáo phận tương lai. Nhưng cả dự án Điền Hộ làm Toà Giám mục cũng không thành tựu

Cuối năm 1896, giám mục A. Marcou Thành tới Phát Diệm, thấy phong cảnh thánh đường nguy nga, dân chúng đông đúc và sùng đạo, ngài liền ngỏ ư với cha Trần Lục về dự án đang đi t́m một cơ sở để làm Toà Giám mục và làm trung tâm mục vụ tôn giáo sau này. Cha Trần Lục nghe thế nhận đó là một hồng phúc lớn lao cho tương lai xứ sở, không những đă ưng thuận mà c̣n hứa tận lực cộng tác. Mặc dầu chỉ c̣n sống thêm 3 năm nữa (cha tạ thế ngày 6-7-1899) nhưng cha đă cố gắng hoàn tất chương tŕnh xây đắp mọi cơ sở thiết yếu, như chúng ta đă thấy trên đây.

Ngày 2-4-1901, Đức Leô XIII ra sắc chỉ phân chia giáo phận Hà Nội, một lần nữa thành lập giáo phận mới, đặt tên là giáo phận Bắc Việt Duyên Hải (Tonkin Maritime quen gọi là địa phận Thanh và năm 1924 đổi là Phát Diệm). Ngày 30-7-1901, giám mục Gendreau Đông triệu tập Hội đồng giáo phận tại nhà chung Kẻ Sở, gồm hết mọi thành phần: linh mục Thừa sai, Việt Nam, sinh viên Đại chủng viện, các thầy giảng, tu viện Mến Thánh Giá và giáo dân, công bố “Sắc chỉ Toà Thánh” về việc thiết lập địa phận mới và đặt những điều kiện phân chia nhân sự, tài sản và thành lập “lời giao hảo” trong 10 năm về việc dâng lễ, cầu nguyện giữa hai địa phận, mỗi khi có linh mục hay thành phần Nhà Đức Chúa Trời, tu viện Mến Thánh Giá qua đời.

Ngày 8-2-1902, ngày lịch sử do hai địa phận Hà Nội và Phát Diệm thoả thuận để công bố những điều kiện phân chia bắt đầu có hiệu lực, Từ Hà Nội, giám mục Gendreau Đông, trong bức thư luân lưu đề ngày 08-02-1902, với tư cách giám mục giáo phận Mẹ, tuyên bố sự kiện phân chia (8). Cùng một ngày, từ Phát Diệm, giám mục A. Marcou Thành, trong bức thư luân lưu cũng đề ngày 8-2-1902, với tư cách giám mục giáo phận Con, tuyên bố lễ nhận địa phận (9).

T́nh h́nh hai giáo phận Hà Nội – Phát Diệm lúc đó gồm: 133 linh mục Việt Nam, 214.970 giáo dân rải rác trong 65 xứ đạo (10). Đă phân chia cho Phát Diệm (11): 24 linh mục thừa sai Pháp, 48 linh mục Việt Nam, 18 sinh viên Đại chủng viện, 112 thầy giảng, 145 học sinh Tiểu chủng viện, 3 nhà ḍng thuộc tu viện Mến Thánh Giá (12) và 27 xứ đạo (13) (15 trong tỉnh Ninh B́nh, 7 trong tỉnh Thanh Hoá và 5 thuộc Châu Lào) với số 85.000 giáo dân.

Tại Phát Diệm, nghi lễ nhận giáo phận được tổ chức long trọng ngày 8-2-1902 tại Tiểu chủng viện Phúc Nhạc. Tất cả cộng đoàn linh mục Việt-Pháp, chủng sinh, thầy giảng, nữ tu và các thân hào nhân sĩ, chức dịch các xứ đạo thuộc hai tỉnh Ninh B́nh, Thanh Hoá đều tề tựu về đây, để làm lễ khai mạc tân giáo phận, nhận Đức cha Alexandre Marcou Thành làm giám mục, hiệu toà Lysiadê, sáng lập tiên khởi giáo phận Phát Diệm, nhận nhau là huynh đệ, là thành phần trong địa phận mới và nghe tuyên bố danh sách một số linh mục dược bổ nhiệm trong các chức vụ then chốt. Một điều nên chú ư là ngay từ đầu, trong mấy họ đạo lớn nhất của địa phận, giám mục A. Marcou Thành chủ tâm bổ nhiệm các linh mục Việt Nam: linh mục Hưởng, chính xứ Phát Diệm, linh mục Chấn, chính xứ Phúc Nhạc, linh mục Luân, chính xứ tỉnh lỵ Ninh B́nh và giữa cộng đoàn linh mục Việt Pháp với nhau, giám mục A. Marcou Thành là giám mục đầu tiên quyết tâm cổ vũ và bảo toàn tinh thần b́nh đẳng tối đa. Do đó, người ta mới hiểu những bước tiến mau chóng trong một giáo phận mới thành lập giữa một lănh thổ tân bồi c̣n nghèo túng và hồi đó c̣n nhiều khó khăn đủ mọi phương diện. Cũng trong danh sách bổ nhiệm, chúng tôi c̣n t́m ra tên “Cố Pilon Long”, thuộc hội Thừa sai Balê, được bổ nhiệm quản lư địa phận, chính ngài đă đốc công xây cất nhà thờ Ninh B́nh, Đại chủng viện, bệnh viện Phú Vinh và Toà Giám mục Phát Diệm.

Chúng tôi vừa nói đến những bước tiến mau chóng là v́ Phát Diệm được thành lập năm 1901, nhưng 16 năm sau, tức tháng 8 năm 1917, Toà Thánh đă thấy nhu cầu cần phải bổ nhiệm thêm cha Louis de Cooman (Đức cha Hành) làm giám mục phó, trợ giúp giám mục Alexandre Marcou Thành trong việc khuyếch trương địa phận và 31 năm sau, tức năm 1932, đến lượt giáo phận Phát Diệm chia đôi để thành lập giáo phận Thanh Hoá (14). Sau đó, năm 1933, Phát Diệm được vinh dự là giáo phận đầu tiên trao lại cho vị giám mục tiên khởi Việt Nam, Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Ṭng quản nhiệm. Ngày 7-12-1939, giám mục A. Marcou Thành tạ thế, nhưng ngài đă trông thấy những thành quả tốt đẹp, thấy những mồ hôi, nước mắt của ngài, khác nào ḍng nước trong sáng mát mẻ, đă thấm nhuần xuống sâu trong ḷng đất Phát Diệm, để từ đó mọc lên cả một sự nghiệp sán lạn ngày nay. Cũng do đó, người ta mới hiểu là tuy giám mục A. Marcou Thành mệnh một tại Thanh Hoá, nhưng nghe tin ngài khuất đi, toàn thể giáo phận Phát Diệm, linh mục cũng như giáo dân, đă ngậm ngùi thương khóc và đă xin được di hài của vị cố giám mục kính mến, đem về an táng trong chính giữa ngôi thánh đường Đức Mẹ Mân Côi, tức là giữa nhà thờ Chính Toà của họ.

Một vài chi tiết về t́nh thế Phát Diệm lúc ban đầu.

Thư viện Hội Truyền giáo Balê, năm 1931, c̣n giữ một bản báo cáo của Đức cha A. Marcou Thành gửi về Bộ Truyền giáo hồi đó liên hệ đến một vài vấn đề Phát Diệm mới thành lập:

Phát Diệm, có tên là Bắc Việt Duyên Hải (Tonkin Maritime) đă được tách rời ra khỏi Hà Nội (Tây Bắc Việt: Tonkin Occidental) ngày 2-4-1901. Và đă được h́nh thành công khai ngày 8-2-1902, nghĩa là từ ngày công bố “Sắc Chỉ” của Đức giáo hoàng Leô XIII, đề ngày 2-4-1901.

Diện tích tân giáo phận, theo hai bản tường tŕnh của Toà Giám Mục Phát Diệm năm 1925 và 1930, diện tích của Phát Diệm được ước đoán là 30.000 cây số vuông. Về sau theo tài liệu chính thức Sở Địa Dư Bắc Việt, diện tích giáo phận đă rút xuống c̣n 22.000 cây số vuông, gồm 3 miền riêng biệt:

Toàn tỉnh Ninh B́nh tức 1.616 cây số vuông và một phần nhỏ thuộc tỉnh Hà Nam (tức 7 xă): tất cả là1.700 cây số vuông.

Toàn tỉnh Thanh Hoá, thuộc Trung Phần, là một tỉnh lớn, ước lượng10.000 cây số vuông

Một phần của miền Bắc Ai Lao (tỉnh Hua Phanh) mà tỉnh lỵ là Sâm Nứa, cũng chừng 10.000 cây số vuông

Cũng trong bản tường tŕnh, Đức cha A. Marcou Thành c̣n làm một bản thống kê về những tiến triển của Phát Diệm, trong thời gian 30 năm từ khi thành lập giáo phận từ 1902 tới 1931 như sau:

Giáo phận Phát Diệm

1902

1931

Số giáo dân

80.000

140.000

Giám mục

1

2

Linh mục Thừa Sai

7

35

Linh mục Việt Nam

53

137

Các thầy giảng

138

227

Nữ tu ngoại quốc

8

23

Nữ tu Việt Nam

78

184

Chủng viện

1

3

Học sinh chủng viện

211

343

Trường thầy giảng

0

2

Học sinh thầy giảng

0

84

Nhà thờ và họ đạo

325

420

Quản giáo (giáo lư viên)

339

756

Số dân được dạy giáo lư

6.626

24.670

Trường sơ đẳng

0

80

Số học sinh

0

4.993

Xưng tội

137.000

548.086

Chịu lễ

221.000

2.321.455

Rửa tội trẻ em bên lương


 

253.315

Số người lớn trở lại đạo


 

22.555

Bản tường tŕnh trên đây (số 3) nói lên sự phát triển số giáo dân trong giáo phận trong ṿng 30 năm (1902-1931) cũng giống như sự phát triển giáo dân cũng trong ṿng 30-40 năm gần đây. Ngày 30-6-1954, theo làn sóng di cư rầm rộ vào Nam hồi đó, giáo phận nhà đă có chừng 60.000 giáo dân bỏ nhà ra đi, nhưng rồi Chúa quan pḥng đă bù đắp lại: số thống kê giáo phận đă ghi chép từ con số 60.000 giáo dân c̣n lại ngoài Bắc năm 1954, th́ năm 2000, nghĩa là sau 46 năm, đă lên tới 134.000 là một tiến bộ rất đáng kể. Nếu người ta nhận định rằng: từ 1954, số linh mục lưu lại ngoài Bắc chỉ c̣n trên dưới 32 vị, một số đă cao niên và đau ốm; cả một cộng đoàn 120 linh mục, thầy giảng, chủng sinh và hầu hết các nữ tu đă vào Nam. Nhưng Chúa Thánh Linh đă làm việc thay cho tất cả, bằng cách bảo toàn niềm tin sâu sắc của một số ít linh mục, một số ít nữ tu c̣n lại và thúc đẩy rất mạnh phong trào giáo dân tham gia truyền giáo. Số giáo dân truyền giáo (các giáo lư viên) trong giáo phận đă lên tới 600-700 nhân viên, họ ư thức vai tṛ giáo dân nam nữ sau Công đồng Vat. II và kiên tŕ tham gia một cách hăng say vượt mức vào công cuộc giữ vững đức tin và mở rộng biên cương Nước Chúa. Giai đoạn giáo sử của Giáo Hội miền Bắc nói chung, và giai đoạn lịch sử Phát Diệm nói riêng, trong mấy chục năm trước đây đă viết lên những trang sử hết sức hào hùng, xương máu, đau khổ và không thể giải thích cách nào khác, nếu không chấp nhận rằng đă có Tay Chúa quan pḥng, đă có Đức Mẹ Mân Côi, đă có các Thánh Tử Đạo Việt Nam nguyên quán tại đây hay đă sinh sống tại Phát Diệm, ra tay bảo vệ và nâng đỡ!

1) Lúc đó đă có 11 linh mục Việt Nam đầu tiên người Việt, tất cả đều do Đức giám mục Lambert de la Motte truyền chức: 4 vị chịu chức tại Juthia (Thái Lan) năm 1668 và 7 vị tại Việt Nam năm 1669. Xem Lm. Luca Huy, L’Annam martire, Roma, 1954, tr. 13-14.

2) Lt. Col. Bonifaci, Les débuts du Christianisme en Annam, tr. 92-93. Từ ngày Thiên Chúa Giáo được rao giảng tại Việt Nam cho đến nay (Đàng Ngoài từ 1627, Đàng Trong từ 1615), tất cả có 31 cuộc bách hại:

- Thế kỷ XVII: 9 lần, từ lần thứ nhất năm 1620 đến lần cuối cùng năm 1696.

- Thế kỷ XVIII: 8 lần, từ lần thứ nhất năm 1719 đến lần cuối cùng năm 1798

- Thế kỷ XIX: 14 lần, từ lần thứ nhất năm 1833 (Minh Mạng) đến lần cuối cùng năm 1862 (Tự Đức).

3) Alexandre de Rhodes, Tunquinensis Historiae, libri duo, tr. 2

4) “J’ai commencé à parler du projet de “phân địa phận” dans le sens que je vous ai indiqué . L’accueil a paru favorable”.

5) “Le 15 septembre, je cecevais une lettre du Conseil de Paris me transmettant une réponse du Cardinal Préfet de la Propagande prescrivant la conclusion de l’affaire de la division. Paris ne disait qu’une lettre das le sens était aussi adressée à Votre Grandeur. Dés le lendemain je vous écrivais à peu près ceci: pour ce qui me concerne, je suis tout disposé à suivre les intentions de la S. Congrégation et je serais reconnaissant à Votre Grandeur de me faire connaitre quelles sont les conditions et desiderata pour la conclusion de cette affaire. Et j’ajoutais: comme les lettre de Paris-Rome prescrivent de terminer cette affaire dans le plus bref délai, nous pourrions nous rencontrer à Kẻ Sở, où j’arriverai vers le 10 octobre ”.

6) DECRETUM (Indicazione d’ArchivioR. 129, Prot. No. 4-3093).

7) Lm. Mai Đức Thạc, Tiểu sử Đức Cha Thành, tr 19-21

8) Xem “Thư chung địa phận Thanh”, HongKong, 1920, quyển II, tr. 6

9) Thư Chung,, tr. 7 và 9

10)Thư chung, tr. 6

11)Lm. Mai Đức Thạc, Tiểu sử Đức Cha Thành, tr 19-21

12)Các nhà: Bạch Bát, Phúc Nhạc và Thành Đức (Cách Tâm)

13)Trong tỉnh Ninh B́nh:Phát Diệm, Cách Tâm, Hảo Nho, Đồng Chưa, Hướng Đạo, Hiếu Thuận, Bạch Bát, Khoan Dụ, Tôn Đạo, Phúc Nhạc, Thiện Dưỡng, Sào Lâm tức Làng Rào, Dưỡng Điềm, Yên Vân, Lăng Vân.

Trong tỉnh Thanh Hoá:Cửa Bạng (Ba Làng), Mỹ Điện (Đa Phan), Kẻ Bền (Biển Lĩnh), Kẻ Dừa (Đa Kiều), Nhân Lộ (Phố Ráng), Thanh Hoá, Điền Hộ (Ṭng Chính)

Trong Châu Lào: Yên Khương, Hồi Xuân, Na Môn, Mường Khiết, Na Ràm.

14)Trong tập Compte Rendu của Hội Truyền giáo Balê (1933, trang 195-196), giám mục A. Marcou Thành đă viết như sau: “Toà thánh vừa chia Phát Diệm thành hai để lập giáo phận Thanh Hoá. Do đó Phát Diệm chỉ c̣n giữ 1/14 đất đai, nhưng trái lại c̣n bảo toàn 2/3 dân số công giáo. Thực ra, diện tích chỉ c̣n riêng tỉnh Ninh B́nh, nghĩa là 1.600 cây số vuông, nhưng c̣n chừng 100.000 giáo dân (chính xác là 99.236 theo thống kê sau cùng) trên một dân số toàn tỉnh có 500.000 nhân danh

C̣n giáo phận Thanh Hoá chạy dài trên một diện tích 20.000 cây số vuông, nguyên tỉnh Thanh Hoá đă 10.000 cây số vuông, phần dư lại là diện tích Sầm Nứa thuộc Lào quốc. Số đầu người trong địa phận mới là một triệu rưỡi, trong đó chỉ có 45.000 Thiên Chúa Giáo.

Ở đây, nguyên trong huyện Kim Sơn chỉ rộng 110 cây số vuông, trong ấy gồm cả xứ Phát Diệm, mà đă có 53.000 giáo dân và 30.000 lương dân. Nghĩa là nói trong một lănh thổ nhỏ bé như thế số người công giáo c̣n đông hơn cả tổng số dân cư tỉnh Sâm Nứa.

Giáo phận Phát Diệm, nay tách ra khỏi Thanh Hoá và Sâm Nứa vẫn c̣n 100.000 giáo dân phân chia trong 40 xứ đạo, mỗi xứ cách nhau nhiều nhất là 10 cây số. Riêng ở vùng Kím Sơn, 14 xứ liên tiếp nhau để phục vụ số 53.000 tín hữu và mỗi xứ cách nhau không đầy 3 cây số. Ngoài ra, tính trong tổng số nhân loại mới chỉ có 1/5 là công giáo, tỷ lệ này đă đạt tới trong giáo phận Phát Diệm. Và nếu người ta biết rằng đa số dân công giáo ở đây là những người giữ đạo thực sự, một số người khác phải kể là giáo dân nhiệt thành, là một sự kiện không phải thông thường trong các giáo phận trên thế giới; th́ lúc đó người ta mới hiểu lư do v́ sao tất cả những vị thừa sai, có vị đă vất vả phục vụ ở đây hơn 40 năm trời đều coi việc Toà thánh trao lại cho Hàng Giám mục Việt Nam một giáo phận như thế là một việc hợp t́nh hợp lư, và mới hiểu sự kiện tất cả họ bằng ḷng vâng lời Toà thánh sang nhập địa phận mới là v́ họ tin tưởng rằng sự vâng lời vui vẻ đó sẽ c̣n đem lại nhiều thắng lợi khác về tôn giáo cho cả hai địa phận Phát Diệm và Thanh Hoá”.

TGM Phát Diệm


Nguồn : Website GP Phát Diệm

 

Xem thêm : Lược Sử Giáo Phận Phát Diệm (Vietnamese Missionaries in Asia )

 


H́nh ảnh Sinh Hoạt Giáo Phận Phát Diệm

< sẽ bổ sung>

Chi tiết - h́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com