Giáo phận Quy Nhơn

Nhà thờ Giáo xứ G̣ Thị

 

Nhà thờ Giáo xứ G̣ Thị
Giáo hạt G̣ Thị

 

Địa chỉ : Xuân Phương, Phước Sơn, Tuy Phước, B́nh Định ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Kính
Phó xứ     : Linh mục
Phó xứ     : Linh mục Phêrô Lê Nguyễn Hoàng Vũ (23/5/2013)

Tel

(056) 831-341

E-mail

 

Năm thành lập

 

Bổn mạng Đức Mẹ Hồn Xác lên trời

Số giáo dân

3062

Giờ lễ

Chúa nhật     :

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :   Gh G̣ Dài  -  Gh Xuân Phong  -  Gh Thượng Hoà  -  Gh Phước Thiện

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                Videos Sinh hoạt Gx G̣ Thị
* Lịch sử nhà thờ G̣ Thị và Ư nghĩa của công tŕnh nhà thờ G̣ Thị hiện nay

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo xứ G̣ Thị khai mạc Tháng Hoa (29/4/2017)
* Tĩnh tâm giáo chức giáo hạt G̣ Thị  (1/4/2017)
* Giáo Xứ G̣ Thị Tổ Chức Khai Mạc Tháng Mân Côi  (2/10/2015)
* H́nh ảnh Thánh lễ và nghi thức nhậm chức của Hội Đồng Giáo Xứ G̣ Thị (23/6/2013)
* H́nh ảnh Thánh lễ tạ ơn của hai tân linh mục Simon Nguyễn Thanh Tú và Phêrô Lê Nguyễn Hoàng Vũ (1/4/2013)
* Chủng Sinh Giáo Phận Qui Nhơn hành hương viếng mộ Thánh Kim Thông. GX G̣ Thị  (15/7/2010)
* Thánh Lễ Ban Bí Tích Thêm Sức Tại Giáo Xứ G̣ Thị  (15/8/2007)

 

Lược sử Giáo xứ G̣ Thị

I . VỊ TRÍ ĐỊA LƯ:

Theo bản đồ hành chánh hiện nay, giáo xứ G̣ Thị bao gồm xă Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh B́nh Định. Trung tâm sinh hoạt của giáo xứ là nhà thờ G̣ Thị, thôn Xuân Phương, xă Phước Sơn. Cách thành phố Qui Nhơn khoảng 22 km về phía Bắc. Đông giáp biển Đông (Đầm Thị Nại), Tây giáp giáo xứ Lục Lễ, Nam giáp giáo xứ Tân Dinh, Bắc giáp giáo xứ Nam B́nh.

II. ĐÔI D̉NG LỊCH SỬ:

Tháng 7 năm 1618, cha Buzomi, cha De Pina và cha Borri là các thừa sai Ḍng Tên đă đặt chân đến Nước Mặn và lập cư sở truyền giáo ở đó. Lúc bấy giờ, Nước Mặn là một thương cảng trù phú nằm trên bờ phía Tây Bắc đầm Thị Nại, cách nhà thờ G̣ Thị hiện nay khoảng 6 cây số về phía Tây Bắc, nay thuộc thôn An Hoà, xă Phước Quang, thuộc giáo xứ Nam B́nh. Qua thời gian, phù sa từ ḍng sông Côn đổ về đầm Thị Nại đă dần dần làm xuất hiện những g̣ đất mới như G̣ Vạn, G̣ Bồi, G̣ Thị, G̣ Dài... và dân chúng cũng dần dần đến sinh sống nơi những g̣ đất mới ấy, trong đó có các giáo hữu. Cụ thể, theo báo cáo năm 1747 do cha Guillaume Rivoal ghi phần truyền giáo của Hội Thừa Sai Paris th́ G̣ Thị đă có 60 giáo hữu, Kỳ Sơn 80. [1]

Đến năm 1850, theo báo cáo của Thánh Giám Mục Stêphanô Cuênot Thể, vùng đất thuộc giáo xứ G̣ Thị ngày nay có: G̣ Thị 750 tín hữu, G̣ Dài 442. Đây là 02 trong số 17 giáo điểm lúc bấy giờ thuộc hạt Tam Thuộc. [2]

Từ năm 1839, G̣ Thị đă có vinh dự được Đức cha Stêphanô Cuênot Thể chọn làm nơi đặt Toà Giám Mục và ngài đă thường xuyên ở đó cho đến năm 1861. Sở dĩ có sự chọn lựa này là v́ vùng đất G̣ Thị xa triều đ́nh Huế, các quan sở tại thực hiện lệnh cấm đạo có phần nhẹ nhàng hơn, giáo hữu đă đông lại tận tuỵ và trung thành. Thêm vào đó, vùng này địa h́nh thấp, ít đường đi, gần đầm Thị Nại và không xa cửa Kẻ Thử bao nhiêu, nhờ đó Đức cha có thể trốn lánh dễ dàng khi gặp nguy hiểm.

Toà Giám Mục, nơi Đức cha cư trú và làm việc chỉ là một ngôi nhà tranh như bao ngôi nhà khác trong xóm, chỉ khác là phía sau có cửa và đường trốn thoát, để khi có hiệu báo, Đức cha cứ theo đó lánh nạn. Có những lúc do hoàn cảnh quá khó khăn, giáo hữu G̣ Thị phải đưa Đức cha tạm lánh ở Gia Hựu, Mương Lở, Tân Hội, Xóm Nam. Có khi giữa đêm khuya phải đưa Đức cha trốn vào tu viện Mến Thánh Giá, hay ra đồng ruộng hoặc vào các đám lau sậy sát ven đầm.

Đức cha không ra mặt vào ban ngày. Cứ đêm đến các chức sở đưa ngài đi nơi này đến nơi nọ để gặp gỡ và dạy dỗ giáo hữu. Chính tại G̣ Thị, ngày 01/8/1841, Đức cha Stêphanô Cuênot Thể truyền chức Giám mục cho cha Dominique Lefèvbre làm Giám mục phó có quyền kế vị. Sau sự kiện quan trọng đó, đầu tháng 10/1841 ngài triệu tập công nghị G̣ Thị, để ban cho các linh mục một hiến chương đời sống cá nhân và những chỉ dẫn mục vụ quí giá.

Cũng tại G̣ Thị, vào ngày 04/10/1846 Đức cha Cuênot truyền chức Giám mục cho cha F. Pellerin làm Giám mục phó có quyền kế vị. Lúc nầy Đức cha Dominique Lefèvbre đă làm Giám mục Tây Đàng Trong.

Phải nh́n nhận rằng sở dĩ Đức cha có thể sống an toàn và làm việc hiệu quả giữa cơn cấm cách, phần lớn nhờ sự giúp đỡ tận t́nh của giáo hữu G̣ Thị, đặc biệt là ông trùm cả Anrê Nguyễn Kim Thông. Ông trùm cộng tác với Đức cha lo việc giáo phận cho đến năm 1854 th́ bị lưu đày vào Định Tường và chết ở đó ngày 15/7/1855. [3]

Sáu năm sau cái chết của ông Trùm Anrê, lệnh phân sáp của vua Tự Đức được thực hiện triệt để, các giáo hữu G̣ Thị bị phân tán trong các làng ngoại giáo và do đó Đức cha phải rời G̣ Thị đến ẩn lánh tại nhà bà Maria Mađalêna Huỳnh Thị Lưu ở Vĩnh Thạnh (G̣ Bồi), v́ bà này được xă tổng cho hoăn lệnh phân sáp. Sau mười ngày ẩn nấp, ngài đă bị bắt ngày 24 tháng 10 năm 1861, bị giải về nhà giam B́nh Định và cuối cùng đă chết rũ tù ngày 14 tháng 11 năm 1861.

Đức cha Stêphanô Cuênot Thể và ông trùm Anrê Nguyễn Kim Thông đă được Đức Giáo Hoàng Leô XIII nhận vào bậc Đáng Kính ngày 13 tháng 2 năm 1899. Đức Giáo Hoàng Piô X tôn lên hàng chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và đă được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Tại G̣ Thị, trong những cơn bách hại dưới triều Tự Đức, nhiều nữ tu, chức sở và giáo hữu cũng chịu nhiều khốn khổ: kẻ bị tù, người bị đày, kẻ khác bị giết, c̣n phần đông bị phân sáp vào các làng ngoại giáo. Đặc biệt cha Giuse Thủ (con của Trùm Cả Anrê), cha Phaolô Châu (cháu họ của Trùm Cả Anrê) và ông từ Phêrô Me, cả 3 người quê ở G̣ Thị đă được chính thức nh́n nhận là chết v́ đạo vào năm 1862 và từ năm 1909, hồ sơ xin phong thánh cho các vị đang được Ṭa Thánh cứu xét.

Sau khi Đức cha Stêphanô Cuênot Thể qua đời, G̣ Thị không c̣n là nơi cư trú thường xuyên của các Giám mục nữa. Đức cha Eugène Charbonnier Trí, người kế vị Đức cha Stêphanô Cuênot Thể, đă từ Pháp đến Sài G̣n và từ Sài G̣n cập bến Kim Bồng, Tam Quan, B́nh Định vào ngày 14 tháng 7 năm 1865 và đến ở tại Gia Hựu.

Sau hoà ước Nhâm Tuất năm 1862, đạo thánh Chúa được tự do, giáo hữu G̣ Thị được trở về quê quán làm ăn, gần 200 người đă chết hoặc mất tích trong thời kỳ cấm đạo. Từ năm 1878 đến năm 1884, dưới thời cha Panis Ngăi làm cha sở, giáo xứ G̣ Thị có thêm hai giáo họ mới là Phụng Sơn và An Hoà. Lúc bấy giờ tổng số giáo hữu lên đến gần 4.000 người trong 21 giáo điểm.[4] Nhưng chỉ ít lâu sau, giáo xứ G̣ Thị cũng như toàn giáo phận lại phải trải qua một cơn bách hại nặng nề khủng khiếp trong biến cố Văn Thân năm 1885. Quả thế, giữa tháng 7 năm 1885, với chủ trương “B́nh Tây Sát Tả”, phong trào Văn Thân khởi sự giết chóc và đốt phá các làng Công giáo. Trong số gần 2.000 giáo hữu G̣ Thị, có nhiều người đă trốn xuống Qui Nhơn từ vài ngày trước theo lệnh Đức cha F.X. Van Camelbeke Hân, nhưng có hơn 200 người không ngờ trước tai hoạ hoặc v́ ở xa không biết tin nên không đi, hầu hết đều bị tàn sát. Phải đợi đến tháng 7 năm 1887, cuộc bách hại đạo được chấm dứt. Các giáo hữu trở về quê sinh sống. Giáo xứ G̣ Thị lúc này chỉ c̣n 1.500 người, một số đă nhập tịch giáo phận Sài G̣n, một số khác định cư tại nhiều họ đạo thuộc tỉnh Phan Thiết.

Nhưng giáo xứ G̣ Thị lại phục hồi nhanh chóng. Những họ đạo cũ như G̣ Thị, G̣ Dài, Xuân Phong, Mỹ Cang, Vĩnh Thạnh đều tăng số giáo hữu hơn năm 1885. V́ số giáo hữu tăng, nên vào năm 1890 Xóm Nam cùng với Xóm Bắc, Vĩnh An, Vĩnh Minh, Vĩnh Thạnh được tách ra làm thành giáo xứ Xóm Nam, tức Nam B́nh ngày nay.

Bù vào đó, từ năm 1890 đến năm 1905, giáo xứ G̣ Thị lại có thêm nhiều giáo họ mới, như Lục Trung, Lục Lễ, Vinh Quang, Phước Thiện, Tân Giảng, Bảo An, Tân Thành, Lạc Điền và An Lợi với tổng số giáo hữu là 2989 người.[5] Tuy nhiên theo thống kê năm 1909 –1910 th́ G̣ Thị có 1.657 tín hữu trong 06 giáo họ.[6] Có lẽ thời điểm nầy một số giáo họ được cắt chia cho Nam B́nh, theo bản thống kê nầy Nam B́nh có 14 giáo họ. Thống kê năm 1917-1918 G̣ Thị có 2.407 tín hữu trong 11 giáo họ ; Nam B́nh có1.440 tín hữu trong 09 giáo họ. Từ năm 1905 đến năm 1945, nhiều nhà thờ và cơ sở tôn giáo đă lần lượt được xây mới hoặc xây lại kiên cố như để khẳng định t́nh thương quan pḥng bất biến của Thiên Chúa với sự tồn tại vững chắc của Giáo Hội trên vùng đất vừa mới trải qua nhiều thử thách đức tin này: Nhà thờ G̣ Thị (1922), trước đó vào năm 1864 - 1866 cha Bossard đă xây dựng nhà thờ G̣ Thị, [7] năm 1897 lúc cha Vivier làm cha sở có thánh lễ trọng thể làm phép nhà thờ mới G̣ Thị, nhà thờ trung tâm của cả vùng do cha xây dựng; [8] nhà thờ Phước Thiện (1940); nhà thờ G̣ Dài (1941); cơ sở nhà chung; nhà mồ côi. Nhà mồ côi G̣ Thị là một cơ sở từ thiện lâu đời có thể được xây dựng sau năm 1871 nhằm đáp ứng nhu cầu cho nhiều trẻ mồ côi trong vùng. [9] Cha Salomez đă làm giám đốc cơ sở nầy từ 1904 – 1906.

Song song với việc phát triển giáo xứ, các vị chủ chăn c̣n đặc biệt quan tâm đến đời sống tu tŕ và công tác giáo dục. Từ trước, tại G̣ Thị đă có một tu viện Mến Thánh Giá. Nhưng đến 1924, Đức cha Grangeon Mẫn đă canh tân Ḍng Mến Thánh Giá theo giáo luật 1917 và chọn tu viện này làm nhà mẹ và tập viện cho Ḍng Mến Thánh Giá canh tân trong toàn giáo phận. Việc huấn luyện đệ tử và tập sinh ban đầu được giao cho các nữ tu Ḍng Thánh Phaolô thành Chartres, nhưng bề trên chính thức của tập viện là cha Solvignon Lành, đang là cha xứ G̣ Thị. Ngài đă cho xây dựng những cơ sở đầu tiên để thu nhận đệ tử và tập sinh. Tu viện mới đă được làm phép trọng thể ngày 21 tháng 3 năm 1924.

Ngoài ra, ngày 13/5/1924 Đức cha Grangeon Mẫn đă ra thư chung buộc mỗi giáo xứ phải mở trường sơ học. Trong giáo xứ G̣ Thị, cha Solvignon Lành đă thiết lập 9 trường: G̣ Dài, Phước Thiện, Mỹ Cang, Lục Lễ, Tân Thành, Lạc Điền, Xóm Chuối, riêng tại G̣ Thị có một trường nam và một trường nữ.

Ngày 10/7/1929, do sự bất cẩn của chú giúp, một cơn hoả hoạn đă thiêu rụi toàn bộ nhà xứ. Tuy nhiên, nhờ tài tháo vát của cha xứ, một ngôi nhà xứ hai tầng đă được xây dựng khang trang vững chắc phía sau nhà thờ và vẫn c̣n tồn tại cho đến ngày nay. Vào năm 1933 một trận băo khủng khiếp đă làm sụp đổ nhà thờ G̣ Thị, Tập viện, trường nam và hầu hết các nhà thờ trong giáo xứ. Cha Solvignon Lành đă phải xây dựng lại tất cả. Năm 1939, thời Đức cha Tardieu Phú, các họ đạo cực Bắc là Quán Ngỗng, Kẻ Thử, Phương Phi, Xóm Chuối được tách khỏi G̣ Thị để tái lập lại giáo xứ Phương Phi, tiền thân giáo xứ Xóm Chuối (Ḥa B́nh).

Năm 1944, số giáo hữu giáo xứ G̣ Thị lên đến 3.595 người. V́ thế 4 họ đạo phía bắc là Tân Thành, Bảo An, An Lợi, Lạc Điền cùng với họ Vĩnh Thạnh của Nam B́nh được tách ra làm thành giáo xứ Lạc Điền.

Từ năm 1945 đến năm 1952, cha Tôma Nguyễn Văn Tới đă cho nới rộng cung thánh nhà thờ G̣ Thị, đóng bàn ghế, xây hang đá Đức Mẹ Lộ Đức, đài chân phước Anrê Nguyễn Kim Thông. Đồng thời ngài cũng xây nhà thờ Lục Lễ.

Từ năm 1956, dưới thời cha Martinô Nguyễn Trọng Huấn, công cuộc truyền giáo phát triển mạnh. Hàng trăm người đă xin ṭng giáo và chịu phép Rửa Tội. Nhiều nhà thờ mới được xây dựng tại các họ đạo mới như: Nhà thờ Hưng Nghĩa, nhà thờ Giang Nam, nhà nguyện Kỳ Sơn. Ngài cũng cho xây dựng kiên cố hai nhà thờ: Mỹ Cang và Thượng Hoà. Một số họ đạo khác cũng được thành lập mặc dù chưa có nhà thờ như các họ đạo Thọ Nghĩa, Lộc Trung, Giang Bắc, Luật Chánh. Ngoài ra ngài c̣n xây dựng trường tiểu học Nguyễn Kim Thông G̣ Thị, trường học và nhà xứ họ G̣ Dài, mở rộng và xây đắp con đường Thượng Hoà-G̣ Thị-G̣ Dài. Thêm vào đó, hội Legio Mariae đă được thành lập tại giáo xứ và phát triển nhanh chóng, trở thành Curia thuộc Comitium Qui Nhơn.

Vào ngày 31/01/1958, G̣ Thị được công nhận là giáo xứ bán chính thức. Ngày 06/02/1961 là giáo xứ chính thức theo đúng giáo luật.[10]

Đầu năm 1965, v́ hoàn cảnh chiến tranh, cha xứ và giáo hữu phải di tản xuống Qui Nhơn. Đến năm 1966, một số đă lần lượt trở về, nhưng cuộc sống vẫn chưa ổn định; một số khác vẫn ở lại Qui Nhơn hoặc đi lập nghiệp ở những nơi khác như Nha Trang, Cam Ranh, Long Khánh, Sài G̣n...

Măi đến năm 1973 Đức cha mới bổ nhiệm cha Phêrô Nguyễn Văn Nhuận về làm cha sở. Trong hoàn cảnh chiến tranh, cha sở và giáo dân quyết bám trụ cho đến tháng 3 năm 1975, lại một lần nữa cha sở và giáo dân phải di cư. Sau 30 tháng 4 năm 1975 bà con lại từ từ trở về quê.

Năm 1975, cha Phêrô Nguyễn Quang Báu được bổ nhiệm làm cha sở G̣ Thị. Lúc bấy giờ, giáo xứ có hơn 2.400 giáo hữu, gồm có các giáo họ tương đối đông giáo hữu và có nhà thờ như: G̣ Thị, G̣ Dài, Xuân Phong, Thượng Hoà, Phước Thiện, Mỹ Cang, Lục Lễ. Một số giáo họ khác không c̣n nhà thờ và chỉ có ít giáo hữu như Vinh Quang, Kỳ Sơn, Lục Nghĩa, Lộc Trung, Giang Nam, Giang Bắc và Luật Chánh. Riêng các họ Hưng Nghĩa và Thọ Nghĩa được sáp nhập vào Công Chánh.

Từ năm 1965, nhà mẹ và tập viện Ḍng Mến Thánh Giá đă di tản về Qui Nhơn, nên tu viện G̣ Thị chỉ c̣n là một cộng đoàn. Sau 1975 Trường tiểu học Nguyễn Kim Thông bên cạnh nhà thờ, chính quyền mượn làm trường cơ bản nông nghiệp, nay làm trường tiểu học thôn Xuân Phương.

Năm 1990, nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, cha Anrê Huỳnh Thanh Khương đă cho xây lại đài kỷ niệm Thánh nhân theo kiến trúc Á Đông, sau đó chỉnh trang khu g̣ mả thánh, nơi có mộ Thánh Anrê Kim Thông và nới rộng con đường dẫn đến mộ để tạo thuận lợi cho khách hành hương đến kính viếng.

Để giữ vững và tiếp nối truyền thống của một giáo xứ kỳ cựu với những trang sử đức tin được tô thắm bởi ḍng máu anh dũng của các vị tử đạo, những sinh hoạt tôn giáo của giáo xứ G̣ Thị càng ngày càng phát triển mạnh. Đặc biệt sau cuộc tuyên phong Hiển Thánh 117 Chứng nhân đức tin Việt Nam ngày 19/6/1988, địa danh G̣ Thị càng trở nên nổi tiếng và quen thuộc đối với nhiều người trong cũng như ngoài giáo phận Qui Nhơn. Nhiều tập thể hoặc cá nhân đă đến hành hương tại miền đất giàu truyền thống đức tin này, nơi Thánh Stêphanô Cuênot Thể đă sống và làm việc trong hầu hết cuộc đời truyền giáo của ngài, nơi Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông đă sinh trưởng và phục vụ mà hiện nay vẫn c̣n lưu giữ nhiều di tích như: vườn nhà cũ, g̣ mả thánh, quan tài, xương thánh, đài kỷ niệm và rất đông con cháu của ngài. Mọi người đến đây để được nghe kể lại và tận mắt chứng kiến những kỷ niệm đă tạo nên những chứng nhân anh hùng của Chúa Kitô.

Trước đà phát triển của giáo xứ, trước nhu cầu hành hương ngày một tăng và để đáp ứng nguyện vọng của bao người, Đức Cố Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các, vốn là con cháu Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, muốn xây lại ngôi nhà thờ G̣ Thị để đặc biệt dâng kính Thánh nhân với qui mô lớn hơn và vững chắc hơn. Công tŕnh xây dựng đă bắt đầu từ năm 1998 dưới thời cha Anrê Huỳnh Thanh Khương làm cha sở G̣ Thị và hoàn tất dưới thời cha xứ đương nhiệm Phêrô Nguyễn Văn Kính, đúng vào Năm Thánh 2000, cũng là năm kỷ niệm lần thứ 210 ngày sinh của Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông.

Được sinh ra và lớn lên cùng với những thăng trầm của lịch sử truyền giáo cũng như lịch sử xă hội, giáo xứ G̣ Thị đă đón nhận nhiều thế hệ linh mục được sai đến phục vụ mà hôm nay lịch sử c̣n ghi lại được tên tuổi của các linh mục chính xứ và phó xứ. Đây là những linh mục đă được Thiên Chúa sai đến để hướng dẫn và đồng hành với giáo xứ trên hành tŕnh đức tin, để cùng với mọi thành phần dân Chúa viết nên những trang sử đức tin .

G̣ Thị không chỉ biết đón nhận mà c̣n biết cống hiến. Quả thế, cho đến nay, giáo xứ G̣ Thị đă cống hiến cho Giáo hội 04 vị giám mục, 47 linh mục, hơn 60 tu sĩ nam nữ. Hiện nay với con số hơn 3.000 giáo dân, giáo xứ G̣ Thị đang cùng với toàn thể giáo phận Qui Nhơn và Giáo Hội trên khắp hoàn cầu tiến bước trong vui mừng và hy vọng.

III. CÁC LINH MỤC CHÁNH XỨ VÀ PHÓ XỨ

a. Các linh mục chánh xứ :

Hiện nay chưa t́m được tài liệu nào chính xác cho biết danh tánh các linh mục đă ở và làm việc tại G̣ Thị từ năm 1839 trở về trước. Ở đây chúng ta có thể bắt đầu từ Thánh Giám mục Stêphanô Thể đến ở G̣ Thị 1839 – 1861. Tiếp theo là các linh mục:

1. Cha Pascal Bossard đến G̣ Thị năm 1864, cha đă làm nhà thờ G̣ Thị.

2. Cha Pierre Jean Joseph Panis Ngăi đến G̣ Thị năm 1875 nhưng chỉ ở trong thời gian ngắn, về dạy ở tiểu chủng viện Làng Sông được một năm, cha trở lại làm cha sở G̣ Thị cho đến năm 1883.

3. Cha Martin Bạch (1884 – 1885)

4. Cha Vivier Huệ (1887 – 1898); cha Vivier xây lại nhà thờ G̣ Thị, làm phép năm 1897. Ngày 04/02/1898 cha Vivier qua đời tại G̣ Thị và được an táng trong nhà thờ G̣ Thị.

5. Khi cha Vivier qua đời, cha Mathey Thiện đang làm cha sở Xóm Nam ( Nam B́nh) được bổ nhiệm làm cha sở G̣ Thị đến năm 1904.

6. Cha Panis Ngăi (1905–1920) trở lại làm cha sở G̣ Thị.

7. Cha JB Solvignon Lành (1920 – 1934)

8. Cha Fx Vỹ (1934 – 1941)

9. Cha Phaolô Trương Công Chánh (1941 – 1944)

10. Cha Anrê Phan Ngọc Lễ (1944 – 1945)

11. Cha Toma Nguyễn Văn Tới (1945 – 1952)

12. Cha Phaolô Nguyễn Tấn Th́ (1952 –1955)

13. Cha Phêrô Nguyễn Sĩ Tư (tháng 7-9/1956)

14. Cha Martinô Nguyễn Trọng Huấn (1956 – 1973)

15. Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhuận (1973 – 1975)

16. Cha Phêrô Nguyễn Quang Báu (1975 – 1988)

17. Cha Anrê Huỳnh Thanh Khương (1988 – 2000)

18. Cha Phêrô Nguyễn Văn Kính (2000 - ... )

b. Các linh mục Phó xứ :

1. Cha Simon Nguyễn Chính (1891 – 1894)
2. Cha F.x. Hương (1894 – 1895)
3. Cha Gioakim Đến (1900-1902)
4. Cha Phêrô Lục (1906-1911)
5. Cha F.x. Sanh (1909 – 1917)
6. Cha Phêrô Cao (1912 – 1915)
7. Cha Giacôbê Lê Kim Dung (1915 – 1917)
8. Cha Phêrô Từ (1917 – 1919)
9. Cha Giuse Nguyễn Tư (1919 – 1920)
10. Cha Tánh (1922 – 1923)
11. Cha Lệ (1923 – 1927)
12. Cha Lassalmomie Tấn (1925 – 1926)
13. Cha Antôn Phạm Cảnh Chẩm (1926)
14. Cha Phêrô Nguyễn Viết Tín (1926 – 1927)
15. Cha Joseph Clause Hồng (1927)
16. Cha Gioan Bt. Nguyễn Đức Quảng (1927)
17. Cha Phaolô Nguyễn Xuân Bàn (1933 – 1935)
18. Cha Phaolô Cần (1939 – 1942) – quê Hà Dừa.
19. Cha Phaolô Trần Văn Thông (1941 – 1942)
20. Cha Bonaventura Nguyễn Văn An (1943)
21. Cha Phaolô Dẫn (1943)
22. Cha Phêrô Lê Đức Châu (1943 – 1944)
23. Cha Phaolô Huỳnh Tấn Ngoan (1944 – 1945)
24. Cha Phaolô Vơ Hữu Tư (1945)
25. Cha Louis Nguyễn Bảo (1944 – 1945)
26. Cha Toma Nguyễn Văn Tới (ở Lục Lễ) (1957)
27. Cha Gioakim Bùi Văn Ninh (1999 – 2001)
28. Cha Gioakim Nguyễn Ngọc Minh (2001 - 2003)
29. Cha Phêrô Lê Nho Phú (2003 - 2005 )
30. Cha Phêrô Nguyễn Đ́nh Hưng (2005- 2009)
31. Cha Giuse Nguyễn Đức Minh (2007 - 2012)
32. Cha Gioan Baotixita Nguyễn Kim Ngân (2010 - ...)
33. Cha Phêrô Lê Nguyễn Hoàng Vũ (2013 - ...)

IV. CÁC GIÁM MỤC VÀ LINH MỤC XUẤT THÂN TỪ GIÁO XỨ G̉ THỊ :

1. Đức cha Phaolô Huỳnh Đông Các
2. Đức cha Giuse Phan Văn Hoa
3. Đức cha Phêrô Nguyễn Soạn
4. Đức cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi
5. Cha Giuse Nguyễn Kim Thủ
6. Cha Phaolô Châu
7. Cha Biện
8. Cha Tôma Nguyễn Thiện
9. Cha J.B. Nguyễn Hộ
10.Cha Louis Huỳnh Chiếu
11.Cha Phêrô Nguyễn Sĩ Tư
12.Cha Giuse Nguyễn Sồ
13.Cha Phaolô Nguyễn Minh Đoan
14.Cha Gioakim Nguyễn Thanh Liêm
15.Cha Stêphanô Phan văn Bính
16.Cha Louis Nguyễn Bảo
17.Cha Phêrô Huỳnh Kim Lăng
18.Cha Placide Nguyễn Tấn Phát
19.Cha Giêrônimô Nguyễn Thanh Lăm
20.Cha Louis Huỳnh Nhẫn
21.Cha Antôn Hoàng Đắc Ánh
22.Cha Phêrô Vơ Vân Cẩm
23.Cha Gioan Baotixita Lê Quí Đức
24.Cha Phêrô Hoàng Kym
25.Cha Antôn Hoàng Tiến Nam
26.Cha Micae Nguyễn Tri Phương
27.Cha Phêrô Nguyễn Huy Pháp
28.Cha Anrê Huỳnh Thanh Khương
29.Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Kim Sơn
30.Cha Phêrô Nguyễn Kim Hồng
31.Cha Phêrô Lê Thanh Quang
32.Cha Giuse Nguyễn Công Thức
33.Cha Giuse Huỳnh văn Sỹ
34.Cha Gioakim Bùi Văn Ninh
35.Cha Gioan B. Nguyễn Kim Đệ
36.Cha Gioakim Trần Minh Dũng
37.Cha Gioakim Nguyễn Ngọc Minh
38.Cha Giuse Phạm Kim Quốc
39.Cha Anrê Huỳnh Tấn Nha
40.Cha Phaolô Nguyễn Văn Khiêm
41.Cha Phêrô Đỗ Quang Dũng
42.Cha Giuse Nguyễn Đức Minh
43.Cha Matthêu Nguyễn Ngọc Vũ
44.Cha Giuse Nguyễn Bá Thành
45.Cha Phêrô Nguyễn Minh Trường
46.Cha Gioan Baotixita Nguyễn Kim Ngân
47.Cha Simon Nguyễn Thanh Tú

V. CÁC GIÁO HỌ CỦA GIÁO XỨ ( cuối năm 2012)

 
 STT GIÁO HỌ ĐỊA CHỈ HIỆN TRẠNG GIA Đ̀NH GIÁO DÂN BỔN MẠNG
1 G̉ THỊ Xuân Phương, Phước Sơn, Tuy Phước mới 371 1430 Đức Mẹ Lên Trời
2 G̣ Dài Xuân Phương, Phước Sơn, Tuy Phước mới 187 770 Thánh Phêrô và Thánh Phaolô
3 Xuân Phong Xuân Phương, Phước Sơn, Tuy Phước mới 106 420 Thánh Tâm
Chúa Giêsu
4 Thượng Hoà Xuân Phương, Phước Sơn, Tuy Phước mới 52 199 Các Thánh
Tử Đạo VN
5 Phước Thiện Dương Thiện, Phước Sơn, Tuy Phước mới 27 110 Thánh Gioan
Tẩy Giả
6 Kỳ Sơn Kỳ Sơn, Phước Sơn,
Tuy Phước
chưa có 37 132 Đức Mẹ
Truyền Tin
7 Vinh Quang Vinh Quang, Phước Sơn,
 Tuy Phước
chưa có      
 
 

VI. CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA GIÁO XỨ G̉ THỊ

1. Họ G̣ Thị:

- Nhà thờ khánh thành ngày 12 tháng 7 năm 2000. Dài 47m, rộng 20m, cao 18m, tháp chuông cao 40m.

- Nhà xứ : xây từ 1930, được tu sửa lại từ thời cha Huấn, và mới sơn sửa lại, nới rộng thêm một số pḥng sinh hoạt.

- Trường Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, nhà nước đang mượn làm trường tiểu học.

- G̣ mả Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, nơi đây có hầm mộ của Ngài. Bà con xa gần đến hành hương.

- Đài Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông nằm trong khuôn viên nhà thờ, được xây từ năm 1989.

- Hang đá Đức Mẹ Lộ Đức đối diện với Đài Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông được hoàn thành cùng ngày với nhà thờ.

- Di tích Toà Giám mục Địa phận Đàng Trong: Nằm trong khuôn viên Nhà Chung. Đức Thánh Giám mục Stêphanô Thể đă “hầm trú” tại đây suốt 26 năm, ngài đă mở công đồng G̣ Thị năm 1841. Ngày nay một đài kỷ niệm được xây trên nền cũ của Toà Giám Mục Địa phận Đàng Trong. Đây là một di tích lịch sử đáng ghi nhớ.

- Nhà Chung : Ngày xưa là nhà mồ côi nam và nhà mồ côi nữ, nay do các nữ tu Ḍng Mến Thánh Giá G̣ Thị phụ trách.

- Tu viện Mến Thánh Giá G̣ Thị : Gồm một toà nhà 2 tầng, dài khoảng 80 mét và một nhà hưu dưỡng 2 tầng mới xây xong năm 2003. Đây là cái nôi của Ḍng Mến Thánh Giá Qui Nhơn.

2. Họ G̣ Dài:

- Nhà thờ mới xây lại, mái tôn, tường đá rửa, dài 24m, rộng 12m cả hè, tháp chuông cao 16m, chung quanh tường thành và sân nhà thờ được bê-tông hoá sạch sẽ.

- Nhà vuông 2 pḥng rộng răi thoáng mát.

- Hội trường gồm 3 pḥng dành cho các em học giáo lư.

3. Họ Xuân Phong:

- Nhà thờ đă được đại trùng tu và khánh thành vào mồng 3 tết năm 2003.

- Nhà vuông dài 8m, rộng 5m, vừa mới sửa lại làm nơi sinh hoạt của giáo họ.

- Hang đá Đức Mẹ Lộ Đức.

4. Họ Thượng Hoà:

Nhà thờ được xây từ thời cha Nguyễn Trọng Huấn, đă được đại trùng tu và khánh thành vào mùng 03 tết 2004.

5. Họ Phước Thiện:

Nhà thờ được xây từ thời cha Nguyễn Trọng Huấn. Nay đă được trùng tu khang trang và một nhà vuông rộng răi chung quanh có tường thành bao bọc.

6. Họ Kỳ Sơn và Vinh Quang

Chỉ c̣n lại nền nhà thờ.

Tham khảo :

[1] Adrien Launay, Histoire de la Mission de Cochinchine, Paris 2000, T.II, p. 189.
[2] Tên gọi vùng đất tam giác Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước được hưởng đặc quyền của triều đ́nh lúc bấy giờ.
[3] xem tiểu sử Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, trùm cả G̣ Thị
[4] Mgr Van Camelbeke, Rapport 1882.
[5] Mgr Grangeon, Rapport 1905 ; Mm. 10/1919, p.139
[6] Mm. No.69,11/1910, p.90
[7] Notic biographique de Bossard ; R.A.E. 1881
[8] Rapport 1897
[9] Rapport 1871
[10] Thông tin địa phận số 03/1958 và số 22/ 1961

Tác giả bài viết: BTTVH
Nguồn tin: Gpquinhon.org

 

........................................................

LỊCH SỬ NHÀ THỜ G̉ THỊ

VÀ Ư NGHĨA CỦA CÔNG TR̀NH NHÀ THỜ G̉ THỊ HIỆN NAY

Nguồn : http://toilanguoigothi.blogspot.com/

Nhà thờ G̣ Thị tọa lạc tại thôn Xuân Phương, xă Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh B́nh Định, cách Qui Nhơn 20 km về phía Bắc và G̣ Bồi 3 km về phía Nam.

Trước năm 1750, G̣ Thị có 60 giáo dân và có lẽ đă có một nhà nguyện nhỏ. Đến năm l 850, dưới thờ Đức Cha Stêphanô Cuénot Thể, số giáo hữu G̣ Thị lên đến 2050 người và có lẽ cũng đă có một nhà thờ thô sơ.

Đến năm 1922 dưới thời Cha Solvignon Lành, một nhà thờ khá kiên cố đă được xây dựng với qui mô khá lớn : dài 40m, rộng 18m kể cả hè, cao 10m, mái lợp ngói vảy, mặt tiền được cấu tạo như một bức tường cao giật cấp. Trong nhà thờ có 4 hàng cột tṛn, to và cao, đầu cột được chạm trổ công phu. Đặc biệt nhà thờ có một bộ cửa tiền bằng gỗ quí, được các nghệ nhân tài hoa chạm trổ xinh đẹp bằng những h́nh tượng tôn giáo và hoa văn mang đậm bản sắc dân tộc.

Nhưng trận băo lịch sử năm 1933 đă làm cho nhà thờ bị hư hại nặng. Năm 1934, Cha Solvignon Lành đă cho tu sửa lại, nhưng mặt tiền không c̣n cao và nhọn như trước. Năm 1949 Cha Tôma Nguyễn Văn Tới lại tu bổ, nới rộng cung thánh, đóng bàn ghế, xây lầu chuông, hang đá Đức Mẹ Lộ Đức và đài Chân Phước Anrê Nguyễn Kim Thông. Sau cùng, đến năm 1969 Cha Mactinô Nguyễn Trọng Huấn cho thay ngói vảy lợp ngói tây.

Với thời gian và sự tàn phá của chiến tranh, nhà thờ đă xuống cấp trầm trọng, không c̣n đủ an toàn cho sinh hoạt tôn giáo. V́ thế, Đức cố Giám mục Phaolô Huỳnh Đông Các đă có ư định xây dựng lại ngôi nhà thờ mới kiên cố hơn và rộng răi hơn, để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cho hơn 3500 giáo hữu và xứng đáng làm trung tâm hành hương của toàn giáo phận.

Với sự trợ giúp của nhiều ân nhân xa gần, trong nước cũng như ngoài nước, những người xuất thân từ G̣ Thị, những con cháu xa gần của thánh Anrê Nguyễn Kim Thông..., ngày 14 tháng 7 năm 1998 Đức cố Giám mục Phaolô đă về G̣ Thị cử hành nghi thức đặt viên đá đầu tiên với sự tham dự của đông đảo linh mục, tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân trong và ngoài giáo xứ. Ngày 24 tháng 2 năm 1999 công tŕnh xây dựng bắt đầu. Trải qua thời gian một năm rưỡi thi công, hôm nay nhà thờ kể như tạm xong để kịp khánh thành 3 ngày trước lễ kính thánh Anrê Nguyễn Kim Thông ngày l 5 tháng 7 năm 2000.

Ngôi nhà thờ mới được xây dựng với tổng diện tích 940m2, dài 47m, rộng 20m, cao 18m, được kết cấu bằng khung bê tông, tường gạch và mái tôn. Từ cổng chính bước vào, ta thấy một mặt tiền đồ sộ chiếm lĩnh một không gian rộng lớn với kiến trúc khá đơn giản, nhưng tạo được vẻ vững vàng chắc chắn. Ở chính giữa là khung cuốn giật cấp như muốn dẫn đưa cái nh́n của khách hành hương vào chính trung tâm là tượng thánh Anrê Nguyễn Kim Thông mà ngôi nhà thờ được dâng kính.

Bên cạnh mặt tiền nhà thờ là một tháp chuông h́nh bút vươn thẳng lên trời với độcao 37m mà người ta có thể nh́n thấy lấp lá nh dưới á nh mặt trời từ những địa điếm xa hàng mười cây số. Từ ngọn tháp sẽ vang lên những âm thanh trầm bổng của 3 quả chuông như mời gọi mọi người nâ ng tâm hồn lên cùng Thiên Chúa.

Qua chiếc sân lát gạch hoa, chúng ta bước vào gian tiền sảnh được nối liền với ḷng nhà thờ bằng một bộ cữa tiền chạm trổ tinh vi vốn là di sản văn hoá của các thế hệ trước để lại như điểm nối kết giữa quá khứ và hiện tại. Đứng tại khung cửa tiền này chúng ta có thể nh́n thấy toàn bộ phần chính trong nhà thờ mà điểm nổi bật là cung thá nh vởi những vạch lam cao vút như một lần nữa nhắc nhở chúng ta "hăy nâng tâm hồn lên". Nâng tâm hồn lên chúng ta sẽ gặp gỡ Chúa Kitô phục sinh đang ngự giữa vầng hào quang mà những tia sáng của Người như đập tan bóng tối thành những mảnh vỡ dưới chân.

Trên chóp đỉnh của bức tường cung thánh là khung kính màu với h́nh bồ câu hiện lên trên nền tam giác, như muốn nhắc nhở chúng ta về sự hiện diện của Chúa Thánh Thần trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cũng như giữa ḷng Giáo hội và thế giới.

Bàn thờ Đức Mẹ và thánh Giuse được thiết kế đơn sơ như những trang giấy được mở ra để ta viết tiếp vào đó lịch sử của dân Chúa hay như cá nh buồm lộng gió để ta ra khơi tiếp nối hành tŕnh đức tin của tiền nhân.

Nhưng điểm hội tụ của gian cung thánh chính là chiếc bàn thờ bằng đá hoa cương tượng trưng Đức Kitô là đá tảng mà trên đó giáo hội sẽ không ngừng qui tụ con cái ḿnh lại xung quanh để cử hành lễ tạ ơn, qua đó Đức Kitô nhờ bàn tay và môi miệng của các linh mục thừa tác sẽ hiện diện cách bí tích trong h́nh bánh h́nh rượu để dưỡng nuôi các tín hữu và sau đó sẽ ở lại với họ triền miên trong nhà tạm. Chính từ nhà tạm bé nhỏ sẽ chiếu toả những luồng ánh sáng để sưởi ấm bao tâm hồn tín hữu.

Để tăng thêm sức chứa của nhà thờ vào những dịp lễ lớn, ngoài sàn nhà thờ với 4 hàng ghế, c̣n có hành lang h́nh chữ U trên cao độ 4m, nâng sức chứa toàn bộ của nhà thờ lên đến 1000 chỗ ngồi. Dọc hai bên tường phía trong nhà thờ là hai hàng cột cổ được lấy lại từ ngôi nhà thờ cũ như để giữ lại những kỷ niệm ngày Xưa. Mười bốn chặng thánh giá hơi lúng túng trong những không gian khá nhỏ hẹp tạo cảm giác hơi chật chội, âu cũng muốn nói lên sự thiếu thoải mái khi bước vào con đường thập giá Chúa Kitô.

Ngôi nhà thờ G̣ Thị hôm nay được xây dựng để đặc biệt dâng kính thánh Anrê Nguyễn Kim Thông, người giáo hữu đă đóng góp những viên đá tuyệt vời cho việc xây dựng đền thờ Thiên Chúa là giáo hội địa phương và đă tô thắm nó bằ ng chính cuộc tử đạo anh hùng của ngài. Toàn bộ nhà thờ được coi như một tượng đài ghi lại bao nhiêu công nghiệp của "Người giúp việc nhà Chúa" để muôn đời ghi nhớ. Nhưng chúng ta vẫn không quên công nghiệp và sự hy sinh to lớn của Thánh Giám mục Stêphanô Cuénot Thể, Linh mục Giuse Nguyễn Kim Thủ, Linh mục Phaolô Châu, ông từ Phêrô Me và hàng trăm giáo hữu khác đă anh dũng chịu chết để giữ vững và tuyên xưng đức tin.

Cuối cùng, ngôi nhà thờ G̣ Thị cũng là biểu tượng cho niềm tin vững vàng của bao thế hệ giáo hữu G̣ Thị đă vượt qua tră m ngàn thử thách đau thương để bảo tồn và phát huy truyền thống hào hùng của các bậc tiền bối cho đến ngày nay và sẽ c̣n tiếp tục măi đến ngàn sau.

Theo ltsgothi

Nguồn : http://toilanguoigothi.blogspot.com/

 

Xem thêm : Hiện t́nh Giáo xứ G̣ Thị mới nhất
trong : "Hiện Trạng Giáo Phận Quy Nhơn 2014"

 

Chi tiết bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ G̣ Thị

 

           

Nguồn : DLY

 

 

H́nh ảnh Thánh lễ và nghi thức nhậm chức của Hội Đồng Giáo Xứ G̣ Thị (23/6/2013)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

[Trở về đầu trang ]