|
Từ Trung tâm Thánh Mẫu Trà Kiệu
tới Trung tâm Thánh Mẫu Gành Ráng Qui Nhơn
VietCatholic News (21 Feb
2009 16:02)
QUI NHƠN - Trước đây, Linh địa Trà Kiệu
là Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo Phận Qui Nhơn. V́ thế khi bế mạc Năm
Thánh Mẫu 1958, Giáo phận Qui Nhơn đă quyết định tổ chức Đại Hội
Thánh Mẫu toàn giáo phận tại Trà Kiệu trong 3 ngày, kể từ ngày 31-1
đến ngày 2-2-1959. Đây cũng là kỳ Đại Hội lần thứ nhất, khai mạc cho
những kỳ Đại Hội tiếp theo, mà Giáo phận đă qui định là 3 năm một
lần..Ngày ấy có hàng vạn giáo dân từ khắp giáo phận ( Phú Yên, B́nh
Định, Quảng Ngải,và Quang Nam Đà Nẵng ) về dự Đại Hội.
Người ta ai cũng nhắc nhớ câu thơ truyền
tụng ngày Đại Hội Thánh Mẫu Trà Kiệu cho khỏi quên:
“ Nhớ mồng 2, nhớ tháng 2
Hội Đền Trà Kiệu ai ai cũng về"
Nhưng đến năm 1962, năm dự trù tổ chức
Đại Hội TMTK lần thứ hai th́ Giáo phận không thể tổ chức được, v́
ĐGM Giáo phận phải chuẩn bị đi dự Công Đồng Vaticanô II ( thánh 10
năm 1962), đồng thời chuẩn bị phân chia Giáo phận. Đến ngày
18-1-1963, ĐGH Gioan 23 đă chính thức kư sắc lệnh thiêt lập Giáo
Phận Đà Nẵng, với phần đất Quảng Nam, Đà Nẵng được tách ra từ Giáo
phận mẹ Qui Nhơn.
Kể từ đó, Linh địaTrà Kiệu không c̣n là
Trung Tâm Thánh Mẫu của Giáo phận Qui nhơn nữa, mà ĐGM tiên khởi
Giáo phận Đà Nẵng. Phêrô Maria Phạm ngọc Chi lại chọn làm Trung Tâm
Thánh Mẫu của Giáo phận Đà Nẵng.
Nhưng huyền nhiệm thay, theo như Linh
mục Gioan Vơ Đ́nh Đệ, Quan lư TGM Qui Nhơn, cũng chính là “Công
tŕnh sư” của Trung Tâm Thánh Mẫu Gành Ráng hiện nay đă viết như sau:
“Ngày 11 tháng 02 năm 1963, ngày lễ
Đức Mẹ Lộ Đưc, sau ngày Trà Kiệu không c̣n thuộc Giáo phận Qui nhơn
nữa th́ Cha Giuse Maria Phạm Châu Diên đă khởi công xây dựng hang đá
Đức Mẹ Gành Ráng mà hiện nây trở thành Trung Tâm Thánh Mẫu của Giáo
phận Qui nhơn. Cha Diên đă ghi lại công việc xây dựng nầy trong hồi
kư của Cha:
“Khi c̣n ngồi trên ghế chủng viện,
đọc truyện thánh Grignion de Montfort, thấy Ngài thiết lập trung tâm
kính Đức Mẹ trên một trái đồi, xung quanh trồng 150 cây thông làm
chuỗi Môi khôi sống. Giáo hữu tham gia hăng hái, mỗi lát cuốc là một
kinh kính mừng. Tôi liền ước ao, có ngày nào, làm cho Đức Mẹ một cái
ǵ giống như vậy. Ngặt một nỗi khu vực Bùi Chu quá bằng phẳng, không
có lấy một mô đất cao. Cái tư tưởng kỳ dị ấy cứ theo đuổi tôi. Năm
1952, nghỉ mát tại Hạ Long, tôi ước ao di một ḥn đảo về Bùi Chu làm
núi Đức Mẹ.
Ai dè Chúa quan pḥng lại đưa tôi đến
hoạt động ở miền Trung đầy sơn thanh thủy tú (1957-1964). Năm 1958
là năm Thánh Mẫu thế giới, kỷ niệm bách chu niên Đức Mẹ hiển hiện
nơi Lộ Đức. Lúc đó tôi đang ở Quy Nhơn, ước vọng năm xưa sôi sục và
đ̣i được thi hành.
Tôi lưu ư tới núi Xuân Vân, gọi là
Ghềnh Ráng. Quả thế, chân núi là cái gành đá so le có hang động rất
đẹp. Về mùa Xuân, một đôi khi, mây thấp đậu lại ngọn núi, trông thật
thơ mộng. V́ thế, tiền nhân gọi nó là Xuân Vân. Vụng Quy Nhơn h́nh
vành móng ngựa, sau lưng là núi Bà Hoả, cực Bắc là ḥn Yến, cực Nam
là Xuân Vân. Như thế, biết vị trí nầy đẹp chừng nào ! Giá cất một
đền thờ, thực là lư tưởng. Nhưng nhà thờ Công giáo, dù to dù nhỏ,
cũng phải gắn liền với một cộng đoàn giáo hữu để có người hôm sớm
phụng thờ.
Việc đầu tiên phải làm là lập một
giáo họ tại đây. Thôn Xuân Vân, lèo tèo ba bốn chục nóc nhà tranh
rải rác dưới chân núi, ăn ra tới lợi biển. Cư dân phần nhiều là
người nghèo nàn chất phác, lên rừng kiếm củi, xuống biển ṃ cua, ra
thành làm việc. Cả thôn chỉ có một gia đ́nh công giáo gồm một mẹ một
con.
Sau khi nghiên cứu t́nh h́nh, tôi bàn
với ông xă trưởng Phước Tấn, lập trường sơ học miễn phí. Cô giáo Lê
Vân có tư cách, có học thức đă gây được uy tín cho nhà trường. Trẻ
em thất học kéo đến rất đông. Về văn hoá như vậy là tạm ổn.
Về mặt xă hội, dân chúng quá nghèo.
Tôi vận động hội Bác Ái Vinh Sơn đến hoạt động. Nhân dịp tết năm ấy,
ba người đàn ông đứng tuổi đến thăm tôi và xin theo Đạo cùng với cả
gia đ́nh. May thay, một thanh niên Công giáo, anh Nguyễn Ngọc Long,
mới về thuê nhà ở trong thôn. Tôi liền mượn nhà anh làm pḥng họp và
giao cho anh dạy giáo lư cho chừng ba chục người lớn. Trẻ nhỏ, cô
giáo Lê Vân phụ trách.
Sáng Chúa nhật, mồng hai tết 1958, có
cuộc rước tượng Đức Mẹ từ đầu thôn về nhà anh Long, được dùng làm
nhà nguyện lâm thời và cử hành thánh lễ. Từ đó, tôi ra làm lễ các
ngày Chúa nhật.
Đêm mồng hai, rạng ngày mồng ba tết,
một bà già mơ thấy bà tiên nữ mặc áo trắng thắt lưng xanh bảo sớm
mai sẽ cho gia đ́nh một mẻ lưới. Bà liền đánh thức con trai mà bảo.
Quả nhiên, sáng hôm sau, nhiều người mang lưới ra kéo ruốc, thứ tép
trắng, ven bờ biển trước nhà, nhưng không ai được ǵ, trừ có vợ
chồng anh Nhảy, con bà, được hai mẻ ruốc, đong được 32 rổ đầy. Từ
khi gia đ́nh nầy ṭng giáo, người chồng luôn đau yếu. Làm rừng không
được, có người gièm pha, đă toan đâm nản. Nay được ơn nầy th́ cả nhà
vui vẻ vững tin. Sau này, anh Nhảy được rửa tội, đặt tên thánh là
Phêrô và làm biện họ giáo.
Thấy nhà nguyện lâm thời chật chội,
họ họp nhau đến xin tôi cất nhà thờ. Lên rừng Vân Canh, họ chặt cây,
cắt tranh chở về một đống. Trên một khu đất cao ráo đẹp đẽ, quay ra
biển, họ hí hoáy cất một ngôi nhà 4m X 10m. Sau đó, chúng tôi rửa
tội lớp đầu tiên được 30 người.
Như trên đă nói, mục đích chính của
tôi là xây cất một ngôi đền cho Đức Mẹ trên núi Xuân Vân. Chúng tôi
khởi công ngày lễ Lộ Đức 11-02-1963, trên triền núi hướng về thành
phố ở phía Bắc, nh́n ra biển cả về phía Đông. Động thờ được xây dựa
vào khóm đá, cao chừng 05 mét trên mặt băi, có đường ṿng đi lên.
Trong động bày tượng Đức Mẹ bồng Chúa Hài Nhi vô cùng từ ái. Trước
hang đá có bàn thờ khả dĩ làm lễ ngoài trời. Thực hiện công tác nầy
là một số người thiện chí và làm việc không công.”
Sau khi hang đá được hoàn thành, Cha
tiếp tục làm nhà thờ bên cạnh hang đá:
“Đồ án nhà thờ do Ty Kiến thiết B́nh
Định vẽ, dài 16m, rộng 6m với tiền đường 8m x 4m, mặt tiền cao 22m.
Vị trí nhà thờ nằm trên triền núi dốc, chúng tôi phải xây một bức
tường đá dày 01 mét, cao 07 mét, với hai cánh ôm vào sườn núi, rồi
đổ cát cho đầy để làm nền nhà. Bên ngoài tường đá, chúng tôi xây một
tường gạch để làm một cái hầm có thể dùng làm pḥng cho cha ở. Các
vật liệu phải gánh qua cầu bắc qua con lạch chảy trước nhà thờ. Công
tác khai thiên phá thạch khổ sở lắm, gần một năm mới xong.
Nhà thờ, tường xây gạch đặc, kèo xà
gỗ quư, ngói đỏ cỡ to. Cửa sổ làm lối mở hé, pḥng khi gió băo. Mặt
tiền đổ sân bêtông, bên trên có auvent lượn chữ M. Thánh giá vươn
cao 22 mét khỏi mặt đất. Một cầu thang men tường dẫn lên cửa pḥng
áo, lên tiền đ́nh và lên hang đá một lượt.
Bức tường cung thánh là một bích hoạ
tŕnh bày cảnh thiên đàng giao hoà với cảnh núi Xuân Vân, chính giữa
là toà tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu ngự trị. Hai toà cạnh, bên hữu là
toà Đức Mẹ vô nhiễm, bảo trợ nhà thờ. Bên tả là toà Thánh cả Giuse,
do gia đ́nh anh chị Mười dâng cúng để tạ ơn sinh được con trai như
ḷng mong ước.
Lễ Mông Triệu, 15-08-1964, tổ chức
khánh thành với một cuộc rước kiệu long trọng quanh núi, do Đức Cha
Hoàng Văn Đoàn chủ toạ và đông đảo đồng bào tham dự”.
Công tŕnh nhà thờ núi và hang đá Đức
Mẹ đă hoàn thành. Ngày 22-08-1964, Cha Diên lên máy bay về Sài G̣n
để uống thuốc v́ suy nhược như ngài tâm sự: “ V́ từ lâu, tôi lại mắc
chứng suy nhược toàn diện. Đó chính là lư do tôi dời bỏ Quy Nhơn.
Đức Cha và các bạn hữu đưa chân tôi ra phi cảng. Giáo hữu Ghềnh Ráng
đă đợi sẵn, chạy tới xúm xít xung quanh và chào tiễn tôi trong nước
mắt. Ḷng tôi cũng cảm thấy bùi ngùi. Tôi đến với Quy Nhơn ḷng đầy
nhiệt huyết, và đă thực hiện được một vài ước vọng của tôi. Nay từ
giă Quy Nhơn, tôi giữ măi một kỷ niệm đối với người với cảnh, mang
bầu nhiệt huyết đi theo ḿnh để làm những phận vụ Chúa quan pḥng sẽ
trao”.
Sau khi Cha Diên về Sài G̣n dưỡng bệnh
và ở lại Sài G̣n làm việc, nhà thờ núi và hang đá Đức Mẹ là nơi cử
hành phụng vụ ngày Chúa nhật và các buổi đọc kinh chung hằng ngày
của giáo hữu Ghềnh Ráng và các giáo hữu di cư từ các giáo xứ trong
vùng chiến tranh về tạm cư taị đây.
Số giáo hữu trong vùng chiến tranh về
tạm cư tại Ghềnh Ráng ngày càng đông, nhà thờ núi không đủ chổ sinh
hoạt. Năm 1965, trên khuôn viên nhà thờ giáo xứ Ghềnh Ráng hôm nay,
Cha Giuse Nguyễn Sồ dựng một nhà tiền chế khá rộng (41m x 8m =
328m2), vách xây táp lô, lợp tôn, vừa làm nhà thờ vừa làm pḥng sinh
hoạt cho Cha Sở. Từ thời điểm nầy, việc kinh lễ hằng ngày của cộng
đoàn dân Chúa được cử hành tại nhà thờ mới. Nhà thờ núi chỉ có thánh
lễ ngày Chúa nhật. Nhịp sinh hoạt như thế được kéo dài một thời gian,
sau đó, tại nhà thờ núi chỉ có thánh lễ hằng năm vào dịp lễ bổn mạng,
lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hằng ngày, vẫn có giáo hữu đến kính
viếng Đức Mẹ tại hang đá.
Sau ngày 30/04/1975, Nhà thờ núi được
trưng dụng, có thời gian làm khu giải trí với tên gọi nhà hàng
Phương Mai. Nhà hàng nầy hoạt động được một thời gian, sau đó bỏ
hoang phế. Trong khi nhà thờ bị trưng dụng và hoang phế, Đức Mẹ tại
hang đá vẫn luôn được giáo dân trong vùng thường xuyên kính viếng và
được Đức Mẹ ban nhiều ơn phước.
Ngày 04-03-2004, bằng công văn số 423/
UB-XD của Chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân tỉnh B́nh Định, giao lại cho Ṭa
Giám Mục Quy Nhơn khu vực nhà thờ và hang đá nầy với tổng diện tích
1.602 m².
Ngày 04/ 05/ 2004, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh
B́nh Định đă cấp cho Toà Giám Mục giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số T668927, với 1.602 m².
- Ngày 11/ 08/ 2004, bằng công văn số
2044/ UB – NC, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh cho phép Toà Giám Mục xây dựng
mới nhà thờ và hang đá.
- Ngày 15 / 06 / 2005, Sở Xây Dựng B́nh
Định đă cấp cho Toà Giám Mục giấy phép xây dựng số 45 / GPXD.
- Ngày 25 / 07/ 2005, Toà Giám Mục đă
khởi công xây dựng.
Sau 40 năm với mưa nắng, gió biển và
thời gian hoang phế, nhà thờ đă ọp ẹp, mất an toàn, trong và ngoài
nhà thờ đă rêu phong, do vậy, nhà thờ đă được san bằng để xây dựng
nhà thờ mới. Hang đá Đức Mẹ được giữ nguyên, chỉ trang trí thêm ánh
sáng và gia cố chân đế. Toàn thể thiết kế công tŕnh được kết hợp
hoà phối với cảnh trí thiên nhiên.
Vị trí khu đất đồi núi với độ dốc 33%,
tường cao bao quanh, cổng vào ngay trên đỉnh dốc Mộng Cầm, đối diện
với mộ thi sĩ Hàn Mặc Tử. Từ cổng vào có lối đi cấp bậc thang và lối
đi không có cấp dẫn vào nhà thờ và đến hang đá. Công tŕnh mới được
chia làm ba phần:
1. Phần sân từ cổng vào, có hàng cau, có
những dây trầu, có những cụm đá ong như để gợi nên chút không gian
Việt. Trong không gian Việt nầy có phù điêu Chúa Giêsu Thánh Thể,
biểu hiệu trung tâm Thánh Thể của Giáo phận; có tượng Á Thánh Anrê
Phú Yên, Thánh Anrê Kim Thông, Thánh Giám mục Têphanô Thể, những
chứng nhân Tin Mừng tiêu biểu của Hội Thánh Việt Nam cách chung, và
cách riêng của Giáo phận Quy Nhơn.
2. Phần giữa là nhà thờ, nhà thờ mới
được định vị ở vị trí mới, mặt tiền tháp nhà thờ mới hướng về phương
Bắc, liền sát với vách cung thánh nhà thờ cũ. Nhà thờ mới được thiết
kế theo ư tưởng ‘con tàu Nôê’, h́nh bầu dục, trên phần tháp phía Nam
dưới chân Thánh giá, có h́nh chim bồ câu ngậm cành lá. Phần dưới nhà
thờ là các pḥng ở. Tượng Thánh Giuse ngự trị trên một tảng đá ngay
đầu lối đi phía Đông nhà thờ. Chặng đàng Thánh giá đặt ngoài trời,
được khởi đi từ đầu phần sân phía Tây nhà thờ, có ḍng suối nhỏ phát
xuất từ chặng thứ nhất gợi nhớ ḍng suối ơn cứu chuộc của Chúa tuôn
chảy. Ḍng suối chảy đến chặng thứ tám, rơi xuống thác, chảy vào
chân đồi hang đá Đức Mẹ, từ chân đồi nầy “ t́nh mẹ như nước trong
nguồn chảy ra”, nước chảy xuống hồ trước hang đá và được tiếp tục
bơm lên thành chu kỳ khép kín. Bốn chặng cuối cùng của chặng đàng
Thánh giá ở trước mặt tháp nhà thờ, phù điêu Chúa Giêsu phục sinh
bằng đá cẩm thạch màu cũng được định vị ở đó.
3. Hang đá Đức Mẹ và sân trước hang đá.
Song song phía Tây tháp nhà thờ là hang đá. Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
bồng Chúa Giêsu mang chiếc dép bị đứt quai đang ngự trị tại hang đá.
H́nh ảnh Chúa Giêsu thơ nhi mang dép đứt quai đang được Mẹ ẳm bồng
làm cho ta thêm an tâm và tin tưởng vào Mẹ. Đôi mắt dịu hiền của Mẹ
đang dơi nh́n từng người con của Mẹ, những lúc chúng ta sơ sẩy ‘đứt
quai dép’, Mẹ ra tay nâng đỡ, ẳm bồng, âu yếm vỗ về chúng ta như thế.
Sân trước hang đá bao gồm hồ nước, bàn
thờ dâng lễ với phù điêu cảnh Tiệc ly, và toàn bộ phần móng nhà thờ
cũ đă được tháo dỡ, cát đá bên trong được chuyển đi để làm pḥng
sinh hoạt. Vị trí nhà thờ cũ nằm gọn trong sân gạch đỏ trước tháp
nhà thờ mới. Trên bức tường pḥng sinh hoạt có phù điêu bài giảng
trên núi. Chung quanh sân được tường kín bao bọc có tiểu cảnh tiệc
cưới Cana, tiểu cảnh tường than khóc, tất cả khung cảnh tạo nên bầu
khí cầu nguyện ấm cúng.
Sau những tháng ngày nổ lực thi công
dưới sự hướng dẫn và phù tŕ của Mẹ Hằng Cứu Giúp, toàn thể công
tŕnh được hoàn thành.
Lúc 8 giờ 30 ngày 02/02/2007, lễ khánh
thành và làm phép nhà thờ được Đức Giám Mục Giáo phận chủ sự cùng
với 59 Linh mục đồng tế, số đông tu sĩ và giáo dân cùng hiệp dâng
thánh lễ trong niềm vui cám tạ. Trước khi làm phép nhà thờ và cử
hành thánh lễ, Cha Tổng Đại Diện công bố quyết định của Đức Giám Mục
Phêrô Nguyễn Soạn thành lập nơi đây làm Trung Tâm Thánh Thể và Thánh
Mẫu của Giáo phận Quy Nhơn.
Ngày nay Gành Ráng đă trở thành Trung
Tâm Thánh Thể và Trung Tâm Thánh Mẫu của giáo phận Qui nhơn, là nơi
mà nhiều đoàn hành hương trên con đường đến Thánh địa Trà Kiệu, La
Vang đều ghé lại kính viếng.
(Viết theo tư liệu của Lm Gioan Vơ Đ́nh
Đệ, TGM Qui Nhơn)
Phạm cảnh Đáng
<Nguồn : VietCatholic >
Xem thêm : <
Trung tâm Thánh Thể và Thánh Mẫu Ghềnh Ráng > (Lm. Gioan Vơ Đ́nh
Đệ )
Nguồn :
Website GP
Quy Nhơn |
|