Tổng Giáo Phận Sài G̣n

Ṭa Tổng Giám Mục TGP Sài G̣n


Địa chỉ 180 Nguyễn Đ́nh Chiểu, Q. 3, Thành Phố Saig̣n  (Bản đồ)

Tel         : (8)-930-3828

(8)-910-0240

E-mail    : saigongiaophan@gmail.com

 

Web site : http://tgpsaigon.net/

 
   
Năm thành lập : 24/11/1960 Diện tích    : 2,094 km2
Số Giáo dân    : 651.046 (2008)  
Số Giáo hạt     : 15 Số Giáo xứ : 203
   

Tư liệu :  Lược sử TGP Sàig̣n
                H́nh ảnh TGP Sàig̣n
                Danh sách Giáo xứ  TGP Sàig̣n
                Danh sách Linh mục TGP Sàig̣n

-  Tin tức sinh hoạt

 

 

Lịch sử Tổng Giáo Phận Sàig̣n

GIÁO PHẬN:

       Tên :

  • Tây Đàng Trong : 1844 - 1924 (80 năm)
  • Sài G̣n : 1924 - 1976 (52 năm)
  • Tp. Hồ Chí Minh : 1976 - 2008 (32 năm)

         Tổng cộng 164 năm

TỔNG GIÁO PHẬN: từ năm : 1960 (48 năm)

GIÁM MỤC : 16 Giám mục :

  •  9 Giám mục Pháp : 1844 - 1955 (111 năm)
  •  7 Giám mục Việt Nam : 1955 - 2008 (53 năm)

 NHÀ THỜ CHÁNH TOÀ : 1880 (128 năm)

TOÀ GIÁM MỤC : 1900 (108 năm)

ĐẠI CHỦNG VIỆN : 1863 (145 năm)

LINH MỤC

   Số linh mục được đào tạo từ đầu:

  • Đến khi có Đại Chủng Viện : 1844 - 1863 (19 năm): 39
  • Đến khi có giáo phận Vĩnh Long : 1863 - 1938 (75 năm): 200
  • Đến khi tản cư : 1938 - 1948 (10 năm): 74
  • Đến khi thống nhất Đại Chủng Viện : 1948 - 1962 (14 năm): 131
  • Đến năm 1976 : 1962 - 1976 (14 năm): 411
  • Đến năm 2008 : 1976 - 2008 (32 năm): 231

Tổng số 1.086 linh mục (164 năm)

Số linh mục năm 2008 : 313 triều; 292 ḍng

TU SĨ

Số tu sĩ năm 2008 trong Tổng giáo phận :

  • 3.588 nữ thuộc 51(26+25) ḍng tu và 11 tu hội
  • 1.027 nam thuộc 17 (12+5) ḍng tu và 7 tu hội

Cộng đoàn tu 268 + (50) thuộc 54 ḍng tu trong giáo phận và 30 + 50 ngoài giáo phận

CHỦNG SINH

Số chủng sinh năm 2008 : 61

GIÁO DÂN

Số giáo dân năm 2008 : 651.046

 

Phụ trách: 

Tổng Giám Mục: Đức Hồng Y Gioan B. Phạm Minh Mẫn

Địa chỉ: 
180 Nguyễn Đ́nh Chiểu, Phường 6, Quận 3, TP.HCM
Email          :  tgmsaigon@vnn.vn

 

 


 

Lược Sử

Tổng Giáo Phận Saig̣n

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

 

A. Lược Sử Tổng Giáo Phận Saig̣n

Trước khi Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, lấy xứ Saig̣n làm huyện Tân B́nh và Đồng Nai làm huyện Phước Long năm 1968, đă có nhiều Kitô hữu sinh sống tại đây. Từ 1641-1645, nhiều Kitô hữu chạy trốn cuộc cấm đạo của chúa Nguyễn đến vùng Thủy Chân Lạp: Chợ Quán, Đông Phố (Gia Định), Lái Thiêu, Bến Gỗ để làm ăn sinh sống và quy tụ thành những cộng đoàn đầu tiên. Theo cha Juan Antonio Arnedo (1660-1715), các thừa sai ḍng Tên đă theo đám di dân vào vùng đất Saig̣n vào cuối thế kỷ XVII.

Ngày 9-9-1959, bằng Sắc chỉ Super Cathedram, Ṭa Thánh thành lập hai giáo phận ở Việt Nan: Đàng Trong và Đàng Ngoài. Giáo phận Đàng Trong (bắt đầu từ sông Gianh tới Nha Trang) do Đức cha P. Lamdert de la Motte làm đại diện tông ṭa. Vùng Chăm, Cambodia và Xiêm (Thái Lan) trực thuộc giáo phận Malacca. Ngày 13-1-1665, Ṭa Thánh sáp nhập xứ Chăm và Cambodia vào giáo phận truyền giáo Đàng Trong. Vùng đất Saig̣n đă có các gia đ́nh Công giáo chạy trốn cuộc bách hại và làm ăn buôn bán tại Cù Lao Phố, khu Chợ Quán, Gia Định.

Khoảng năm 1700, cha Emmanuel Quintao (S.J.) hoạt động ở Cù Lao Phố (Biên Ḥa) và Chợ Quán, năm 1723, ngài trao vùng Chợ Quán cho cha Francois José Garcia, ḍng Phanxicô, coi sóc. Cha José dựng nhà thờ tại Chợ Quán năm 1727, nơi đây có khoảng 300 giáo dân; đến năm 1730, cha dựng thêm nhà thờ Chợ Lớn. Cha José ghi nhận ngày hôn chân Chúa năm 1739, đă có 2,000 giáo dân (chỉ tính người bỏ tiền). Năm đó Saig̣n Hạ có 1,500 giáo dân, Chợ Lớn 1,000. Năm 1743, nhân sự giáo phận Đàng Trong gồm 12 linh mục ḍng Tên, 9 linh mục ḍng Phanxicô, 6 thừa sai Paris, 2 linh mục thuộc Thánh Bộ và một số linh mục Việt Nam.

Cuộc cấm đạo của Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) đă làm nhiều giáo dân dọc theo những vùng miền Trung xuôi về Nam. Sau khi Vơ Vương băng hà, Định Vương lên nối ngôi, cuộc cấm đạo không c̣n gắt gao như trước nữa, nên các sinh hoạt của giáo dân được phục hồi và có phần ổn định. Đức cha Guillaume Piguel (MEP) (1764-1771) thường xuyên lui tới các vùng Chợ Quán, Đồng Nai để ban bí tích Thêm Sức.

Trong thời gian từ năm 1771-1801, quân Tây Sơn thắng thế trong cuộc chiến tranh giành chủ quyền với chúa Nguyễn. Năm 1773, quân Tây Sơn đánh chiếm Nam Hà Quốc, Huệ Vương cùng với con cháu phải chạy xuống miền nam. Năm 1776, cha con Huệ Vương bị bắt và bị sát hại tại Long Xuyên, chỉ c̣n người cháu nội là Nguyễn Ánh nối nghiệp, quân - lương hầu như cạn kiệt. Nguyễn Ánh t́m gặp Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) và được Đức cha tận t́nh giúp đỡ. Đức cha đă nhận đưa hoàng tử Cảnh sang Pháp cầu viện.

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long. Trong thời gian này, giáo dân tại một số vùng miền Nam được yên ổn giữ đạo. Nhà thờ Chợ Quán được xây dựng năm 1793. Năm 1790, Nguyễn Ánh cũng cất cho Đức cha Bá Đa Lộc một ṭa nhà yên tĩnh gần rạch Thị Nghè, gọi là dinh Tân Xá. Đây là nơi học tập của hoàng tử Cảnh và cũng là nơi Đức cha dùng làm ṭa giám mục. Năm 1799, khi Đức cha Bá Đa Lộc qua đời, giáo phận Đàng Trong do Đức cha Jean Labartette Gioang cai quản từ 1793-1823. Ngài được tự do đi lại thăm viếng các họ đạo.

Năm 1820, hoàng tử Đảm lên ngôi, lấy hiệu Minh Mạng. Nhà vua rất ghét đạo Thiên Chúa nên đă tập trung các giáo sĩ, thừa sai nước ngoài về Huế, cố ư giam lỏng không cho các ngài giảng đạo. Nhờ sự bảo trợ của Tả Quân Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định, giáo dân miền Nam bớt bị bách hại hơn, nhưng khi Lê Văn Duyệt mất (1832), vua Minh Mạng băi chức tổng trấn, trấn Gia Định được chia thành 6 tỉnh gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh: Gia Định, Biên Ḥa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Vua Minh Mạng quyết liệt ra sắc dụ cấm đạo, ông hành tội Lê Văn Duyệt, khiến cho người con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi nổi dậy chống triều đ́nh Huế. Một ít người Công giáo đă tham gia cuộc nổi dậy khiến cho nhà vua và triều đ́nh Huế càng có cớ bách hại đạo. Trong cuộc dẹp loạn, cha J. Marchand Du bị xử lăng tŕ ở Huế, cha Phước bị xử bá đao tại Saig̣n chung với một số tín hữu và tất cả được chôn chung trong một hố sâu gọi là Mả Ngụy. Đức cha Jean Louis Taberd (1827-1840) phải rời Lái Thiêu sang Thái Lan (Xiêm), nhiều nhà thờ bị triệt hạ, nhiều giáo sĩ và giáo dân bị bắt, nhà thờ Chợ Quán bị phá thành b́nh địa năm 1834, bổn đạo tản về các miền G̣ Vấp, An Nhơn, Xóm Chiếu hoặc những vùng ở miền Đông như Đất Đỏ, Tân Triều, Lái Thiêu. Lúc đó, Đức cha Entienne Théodore Cuénot Thể ẩn mặt ở G̣ Thị (Quy Nhơn) để cai quản giáo phận Đàng Trong.

Ngày 2-3-1844, Đức Thánh Cha Gregorius XVI chia giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Tây Đàng Trong (Saig̣n). Tây Đàng Trong gồm lục tỉnh Nam Kỳ cho đến hết xứ Cambodia, do Đức cha Dominique Lefèbvre Ngăi coi sóc. Ṭa giám mục Tây Đàng Trong có lúc đặt tại Lái Thiêu.

Ngày 30-8-1850, với Sắc chỉ Quoties Benedicente, Ṭa Thánh cắt một phần đất thuộc giáo phận Tây Đàng Trong lập giáo phận Nam Vang (Cambodia). Phần đất c̣n lại vẫn mang tên Giáo phận Tây Đàng Trong, do Đức cha Lefèbvre coi sóc. Giáo phận chia làm 12 hạt: Đất Đỏ, Tân Triều, Lái Thiêu, Thủ Đức, Thị Nghè, Chợ Lớn, Thủ Ngữ, Xoài Mít, Cái Nhum, Cái Mơm, Băi San và Đầm Nước. Chủng viện được lập tại Thị Nghè trong vùng đầm lầy, rừng dừa nước; ḍng Mến Thánh Giá được lập tại Cái Nhum và Cái Mơn, do các nữ tu từ Đất Đỏ, Tân Triều quy tụ lại sau những cơn bách hại.

Vào năm 1860, tàu Pháp đă hoạt động thường xuyên ở các cửa: Cần Giờ, Vũng Tàu và Ḥn Khói (Cam Ranh) có ư xâm chiếm nước ta. Vua Tự Đức cử Nguyễn Tri Phương làm nguyên soái trấn giữ Saig̣n. Cuộc chiến giữa Pháp và Việt đă khiến nhiều xứ đạo bị tàn phá, nhiều tín hữu bị bắt giam và giết hại như ở ngục Biên Ḥa, Phước Lễ, Long Điền, Đất Đỏ, Long Kiên (1861-1862).

Sau khi Pháp chiếm đươc thành Saig̣n (2-1859), các thừa sai Pháp bắt đầu xây dựng lại các cơ sở ở giáo phận Tây Đàng Trong như: nhà thờ Xóm Chiếu và lập chủng viện tại đây năm 1861, dinh Tân Xá được Đức cha Lefèbvre Ngăi dùng làm Ṭa giám mục tạm thời. Tại Saig̣n, nhiều họ đạo mới được thành lập như Chợ Quán, Cầu Kho, Chợ Lớn, Cầu Bông (Gia Định), Chí Ḥa, An Nhơn, G̣ Vấp, Hóc Môn, Bà Điểm, Tân Hưng; ḍng La San và Phaolô thành Chartres được mời sang Việt Nam để lo việc giáo dục xă hội.

Ngày 7-10-1877, Đức cha I.F.J. Colombert Mỹ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Đức Bà Saig̣n và hoàn thành ngày 11-4-1880. Đức Gioan XXIII ban Sắc chỉ Spectabile Monumentum nâng nhà thờ Đức Bà lên hàng Vương Cung Thánh Đường. Năm 1907, mở rộng ranh giới giáo phận Tây Đàng Trong đến tỉnh B́nh Thuận (Phan Thiết) và Di Linh, Đà Lạt (trước đây vùng này thuộc giáo phận Đông Đàng Trong), do Đức cha L. Emile Mossard Măo coi sóc (1899-1920). Thời gian này, di dân từ các nơi đổ về các vùng đất đỏ trong các đồn điền cao su của người Pháp, Đức cha đă thành lập nhiều xứ đạo mới tại các nơi này.

Ngày 3-12-1924, giáo phận tông ṭa Tây Đàng Trong được đổi tên thành giáo phận tông ṭa Saig̣n, tên gọi theo địa bàn hành chính nơi đặt ṭa giám mục, Đức cha Isidore Marie Dumortier Đượm (MEP) coi sóc.

Ngày 8-1-1938, với Sắc chỉ In Remotas Orbisregiones, Ṭa Thánh tách một phần đất thuộc giáo phận Saig̣n để thành lập giáo phận Vĩnh Long gồm tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc và một phần của tỉnh Cần Thơ (trước đây thuộc Saig̣n). Khi phân chia, giáo phận Saig̣n có: 80 linh mục triều, 27 thừa sai, 12 linh mục ḍng, 82,375 giáo dân chia làm 13 hạt, 58 giáo xứ và 152 họ lẻ. Đức cha Jean Casaigne Sanh cai quản giáo phận trong t́nh h́nh bất ổn với cuộc đại chiến thế giới lần II (1939-1945), cuộc chiếm đóng của quân đội Nhật va cuộc đảo chính của Việt Minh. Ngài đă phải chịu nhiều gian nan, vất vả. Ngài đă tiếp đón gần 1 triệu người di cư từ miền Bắc vào (1954), trong đó có rất nhiều giáo dân. Chính điều này đă làm cho Saig̣n trở thành trung tâm của Công Giáo Việt Nam. Đến năm 1955, Đức cha xin từ chức để trở về sống với anh em phong tại trại cùi Di Linh. Ṭa Thánh trao giáo phận Saig̣n cho Đức cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền cai quản. Đức cha Hiền đă tiếp đón và giúp di dân định cư tại các miền Hố Nai, Biên Ḥa..., ngài cũng xây dựng nhiều cơ sở như: viện Đại Học Đà Lạt, Giáo Hoàng Học Viện Piô X, biệt thự Thánh Tâm. Ngài cũng đă tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu Toàn Quốc tại Saig̣n năm 1959, với sự chủ tọa của Đặc Sứ Ṭa Thánh là Hồng Y Agagianian.

Ngày 24-11-1960, qua Tông hiến Venerabilium Nostrorum, Đức Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam với 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Saig̣n. Giáo phận Saig̣n được nâng lên hàng tổng giáo phận chính ṭa Saig̣n. Giáo tỉnh Saig̣n gồm: Saig̣n, Vĩnh Long, Cần Thơ, Đà Lạt, Mỹ Tho, Long Xuyên. Đức cha Phaolô Nguyễn Văn B́nh làm tổng giáo mục Saig̣n, ngài nhận giáo phận ngày 2-4-1961 và Đức cha Hiền được thuyên chuyển về làm giám mục chính ṭa giáo phận Đà Lạt.

Năm 1963, giáo phận Saig̣n có gần 567,455 giáo dân với 583 linh mục triều, 25 linh mục ḍng, 503 nam tu, 1,936 nữ tu trong 263 giáo xứ (họ chính) và 284 giáo họ (họ lẻ). Về giáo dục, có: 56 trường trung học với 30,748 học sinh và 338 trường tiểu học với 91,870 học sinh, 28 bệnh viện với 4,874 giường bệnh, nổi tiếng là bệnh viện Saint Paul và bệnh viện Thánh Tâm Hố Nai, cùng với hơn 100 cơ sở bác ái khác như trại phong, viện dưỡng lăo, cô nhi viện, trại câm điếc, quán cơm b́nh dân... Năm 1965, Ṭa Thánh tách từ giáo phận Saig̣n lập hai giáo phận Phú Cường và Xuân Lộc. Đến năm 1975, tách từ giáo phận Nha Trang, Ṭa Thánh lập thêm giáo phận Phan Thiết thuộc giáo tỉnh Saig̣n.

Năm 1974, giáo phận Saig̣n gồm 516,000 giáo dân, 416 linh mục triều, 125 linh mục ḍng, 2,450 tu sĩ nam nữ. Vào năm 1975, một số linh mục và tín hữu đă ra nước ngoài định cư, nhưng giáo phận vẫn tiếp tục phát triển.

Cũng trong thời gian này, Ngày 24-4-1975, Ṭa Thánh bổ nhiệm Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, giám mục Nha Trang, làm Tổng Giám Mục phó giáo phận Saig̣n. Ngày 15-8-1975, Đức cha Thuận bị chính quyền đưa từ Saig̣n về Nha Trang và quản thúc tại Cây Vông, sau đó đưa đi biệt giam tại nhiều trại giam khác nhau và cuối cùng, vào ngày 23/11/1988, được thả ra khỏi trại giam nhưng bị quản thúc tại Giang Xá, Hà Nội. Năm 1989, ngài được phép qua Roma chữa bệnh, nhưng sau đó ngài lại bị chính quyền Việt Nam không cho phép ngài trở về Việt Nam nữa. Ngày 9-4-1994, Đức cha Thuận được bổ nhiệm làm Phó Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh và ngày 24-6-1998, được bổ nhiệm làm Chủ Tịch Hội Đồng Ṭa Thánh về Công Lư và Ḥa B́nh. Ngày 21-2-2001, Đức Gioan Phaolô II cất nhắc ngài lên Hồng Y. Ngày 16-9-2002, Đức Hồng Y Thuận qua đời tại Roma.

Ngày 2-2-1978, Đức cha Aloisiô Phạm Văn Nẫm được tấn phong làm giám mục phụ tá giáo phận Saig̣n. Năm 1999, ngài nghỉ hưu và qua đời ngày 30-6-2001 tại Saig̣n.

Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn B́nh là người rất ôn ḥa, ngài đă sáng suốt dẫn dắt cộng đoàn dân Chúa bước đi trong một giai đoạn đầy phức tạp của xă hội. Ngài đặc biệt lưu tâm đến những người nghèo khổ, bất hạnh. Năm 1965, Đức Tổng đă giúp thành lập làng cùi Thanh B́nh ở bán đảo Thủ Thiêm. Tháng 8-1993, Đức Tổng ngă bệnh nặng, Ṭa Thánh cử Đức cha Nicola Huỳnh Văn Nghi, giám mục giáo phận Phan Thiết, làm giám quản giáo phận Saig̣n. Sau khi hồi phục một phần sức khỏe, Đức Tổng Phaolô đă bàn giao mọi việc điều hành giáo phận cho Đức cha Nicola, nhưng vẫn giữ quyền tổng giám mục. Ngày 1-7-1995, Đức Tổng Phaolô từ trần, Đức cha Nicola vẫn tiếp tục giữ chức giám quản tổng giáo phận, tuy nhiên v́ ngài không được chính quyền chấp thuận, nên ngài vẫn ở Ṭa giám mục Phan Thiết và âm thầm liên lạc làm việc với tổng giáo phận Saig̣n. Ngày 10-3-1998, Ṭa Thánh đặt Đức cha Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, giám mục phó giáo phận Mỹ Tho, làm Tổng giám mục tổng giáo phận Saig̣n và ngài về nhận ṭa ngày 2-4-1998. Ngày 28-9-2003, ĐTC Gioan Phaolô II đă đặt ngài làm Hồng Y và ngày 21-10-2003 ngài nhận mũ đỏ Hồng Y tại Rôma.

Ngày 14-7-2001, ĐTC bổ nhiệm linh mục Giuse Vũ Duy Thống làm giám mục phụ tá giáo phận Saig̣n.

B. Địa Lư và Dân Số

Ranh giới: Giáo phận Saig̣n bao gồm 24 quận, huyện thuộc thành phố Saig̣n: quận 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, G̣ Vấp, Tân B́nh, Phú Nhuận, Thủ Đức, B́nh Tân, Tân Phú, và B́nh Thạnh; các huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, B́nh Chánh, Hóc Môn, và Củ Chi, với diện tích chừng 2,094 km2.

Địa bàn thành phố có hàng trăm sông ng̣i, kênh rạch, nhưng hầu hết là những sông nhỏ, lớn nhất là sông Saig̣n với chiều dài là 106km.

Tính đến 31-12-2003, tổng số dân địa phương ở Thành Phố Saig̣n là 5,708,100 người, đa số là công nhân viên chức trong các xí nghiệp, nhà máy, công ty.

C. Một số điểm đặc sắc của giáo phận Saig̣n

1. Tôn giáo:

- Vương Cung Thánh Đường Đức Bà Saig̣n: Ngày 7-10-1877, Giám mục I.F.J. Colombert Mỹ đă cử hành nghi thức đặt viên đá đầu tiên cho công tŕnh xây dựng Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, do kiến trúc sư M. Bournard thiết kế và thi công. Sau gần 3 năm, Vương Cung Thánh Đường Đức Bà được hoàn thành. Ngôi thánh đường nguy nga, tráng lệ dài 91m, rộng 35.5m, ṿm mái cao 21m, hai tháp chuông cao 36.6m. Năm 1895, xây thêm hai tháp nhọn cao 21m, bên trong hai tháp là bộ chuông vĩ đại gồm 6 quả với tổng trọng lượng là 28,850kg. Năm 1959, Ṭa Thánh quyết định nâng ngôi nhà thờ này lên thành Vương Cung Thánh Đường. Ngày 9-12-1959, Đức cha Simon Ḥa Nguyễn Văn Hiền đă cử hành nghi thức xức dầu thánh hiến Vương Cung Thánh Đường.

Hơn 100 năm qua, Vương Cung Thánh Đường Đức Bà không chỉ là nhà thờ chính ṭa của giáo phận mà c̣n là nơi hành hương nổi tiếng cho các du khách thập phương trong cũng như ngoài nước.

Ngoài ra c̣n có một số nhà thờ cổ khác như: Phanxicô Xaviê c̣n gọi là nhà thờ Cha Tam (1900), Gia Định (1887), Chợ Đũi (1900), Chợ Quán (1896), Jeanne d'Arc (1928), Thánh Giuse ở Hạnh Thông Tây (1920), Thánh Tâm ở Tân Định (1900).

- Di tích lịch sử Công Giáo: Ngoài nhà thờ Chính Ṭa, giáo phận Saig̣n c̣n có ṭa giám mục hiện nay, được Đức cha L.E. Mossard Măo xây dựng và ở đây từ năm 1911. Bên cạnh là căn nhà cổ do chính quyền Pháp cấp cho Đức cha Lefèbvre làm nơi cư trú. Từ năm 1864-1900, một số Đức cha D. Lefèbvre (Ngăi), J.C. Miche (Mịch), I.F.J. Colombert (Mỹ), J.M. Dépierre (Đễ) dùng làm ṭa giám mục. Căn nhà sau này đă được đưa về sát bên ṭa giám mục để dùng làm nguyện đường. Nhà này có nhiều điểm kiến trúc cổ đặc sắc của dân Việt. Ngoài ra, c̣n phải kể đến công tŕnh kiến trúc đồ sộ là tu viện ḍng Thánh Phaolô, tọa lạc tại 4 Tôn Đức Thắng, Q. 1, do chính Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) vẽ kiểu và xây dựng từ tháng 9-1862 đến 18-7-1864.

2. Di tích lịch sử:

Di tích lịch sử nổi tiếng là lăng Tả Lê Văn Duyệt (Lăng Ông) với lễ giỗ được tổ chức vào các ngày 29, 30 tháng 7 và mồng 1 tháng 8 hàng năm. Đây là ngày hội lớn của đất Gia Định xưa và dân Nam Bộ ngày nay. Di tích khác khá nổi tiếng là đền thờ Trần Hưng Đạo ở 36 Vơ Thị Sáu, Q. 1, lễ giỗ hàng năm vào ngày 20-8 âm lịch.

Thành Phố Saig̣n c̣n có những ngôi chùa nổi tiếng như: chùa Giác Lâm ở 118 Lạc Long Quân, Q. Tân B́nh. Đây là một trong những ngôi chùa cổ được xây dựng vào năm 1744 và được trùng tu nhiều lần; chùa Giác Viên ở Q. 11, nằm trong khuôn viên khu du lịch Đầm Sen (1798); chùa Vĩnh Nghiêm (1948) ở 339 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q. 3; chùa Xá Lợi (1956); chùa Linh Sơn.

3. Danh lam thắng cảnh:

Thảo Cầm Viên, Bến Cảng Nhà Rồng và Hội Trường Thống Nhất (Dinh Độc Lập) ở thành phố Saig̣n; 18 Thông Vườn Trầu ở Hóc Môn; khu rừng sác ngập mặn ở huyện Cần Giờ.

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

Nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/vnchurch.htm

 


 

 

 

[Trở về đầu trang ]