Tổng Giáo phận Sài G̣n

Nhà thờ Giáo xứ Tân Ḥa

 

Nhà thờ Giáo xứ Tân Ḥa
Giáo hạt Phú Nhuận

 

 

 

Địa chỉ : 525/92 Huỳnh Văn Bánh, P.14 Quận Phú Nhuận  ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Giuse Hoàng Kim Toan (7/2012)

Tel

  3845 3134  -  3991 2265

E-mail

 

Website

http://www.tanhoa.conggiao.net/

Năm thành lập

 

Lễ Bổn Mạng

Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

Số giáo dân

 

Giờ lễ

Chúa nhật     :   5:00   -   6:30   -   8:00   -   17:30   -   18:30

Ngày thường :  5:00   -   17:30

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứH́nh ảnh Giáo xứ

-  Tin tức sinh hoạt

* Thánh lễ ban phép Thêm Sức tại giáo xứ Tân Ḥa (10/7/2010)
* Gx. Tân Ḥa: Cung Hiến Thánh Mẫu Điện - kỷ niệm 50 năm Thành lập Giáo xứ  -  H́nh ảnh  (13/6/2010)
* Thánh lễ tạ ơn các tân linh mục giáo xứ Tân Ḥa, Sài g̣n (27/11/2009)

 

Lược sử Giáo xứ Tân Ḥa

I. Con Người Và Vùng Đất Kiến Thiết.

Phú Nhuận vào những năm 1955 - 1975, đơn vị hành chánh là Xă Phú Nhuận thuộc quận Tân B́nh, Tỉnh Gia Định. Xă Phú Nhuận có 8 ấp: Đông Nhất, Đông Nh́, Đông Ba, tây Nhất, Tây Nh́, Tây Ba, Trung Nhất và Trung Nh́. Tân Hoà thuộc Ấp Tây Ba, xă Phú Nhuận, Quận Tân B́nh.

Theo thống kê 1970:

Diện tích Xă Phú Nhuận là 4,9 Km2, dân dố 163.033 người.
Diện tích xă Phú Thọ Hoà là 6,5 km2, dân số 61.879 người.
Diện Tích Xă Tân Phú là 4, 7km2, dân số 23.709 người.
Diện Tích xă Tân Sơn Hoà 7,3km2, dân số 101.710 người.
Diện tích Xă Tân Sơn Nh́ 17,0 km2, dân số 52.014 người.
Diện tích Xă Vĩnh Lộc 56,7km2, dân số 10.238 người.

Nh́n bảng này chúng ta thấy diện tích Xă Phú Nhuận khá nhỏ nhưng mật độ dân số lại đông nhất trong những năm 1970.

Năm 1930 Pháp trưng dụng Tân Sơn Nhất làm sân bay quân sự, 1933 sân bay Tân Sơn Nhất mở đường bay Sài G̣n - Paris. Con đường nối liền giữa sân bay và trung tâm SàiG̣n là con đường (Mac Mahon) được mở rộng ra, gía đất hai ven đường lên cao và những người giàu có mua lại những miếng đất này làm nhà nghỉ cuối tuần. Dân cư lúc bấy giờ c̣n thưa.

Từ Cầu Trương Minh Giảng đến Lăng Cha Cả vào những năm 1940, c̣n là con đường nhỏ hẹp, mang tên là Eryaud des Vergnes, đất đỏ, dân cư thưa thớt, và cũng là những xóm lao động nghèo, họ làm các nghề vặt ở Ḷ Đúc hay làm công trong các công xưởng. Thỉnh thoảng có vài căn biệt thự của những người giàu có làm nơi nghỉ cuối tuần hoặc cư ngụ sau những giờ làm việc ở công sở. Năm 1945, con đường này đổi tên là đường Trương Minh Kư, cháu của Trương Minh Giảng, cộng tác đắc lực với Pháp. Đường này nằm cạnh những hố đổ rác của Thành Phố, chỉ mới được tráng nhựa, phóng dài đến Tân Sơn Nhất vào những năm 1950, do nhu cầu mở rộng sân bay cho các đường bay dân sự, hỗ trợ cho đường Công Lư tránh quá tải. Con đường này đi ngang qua Phường 13, 14 Quận Phú Nhuận là địa bàn của Giáo Xứ Tân Hoà.

Giáo Xứ Tân Hoà nằm trên con đường Nguyễn Huỳnh Đức, nay là đường Huỳnh Văn Bánh, trước kia là đường Chùa Phật. Sở dĩ tên gọi con đường đầu tiên là đường Chùa Phật là v́ con đường này có rất nhiều Chùa hiện diện. Quả là, đất lành chim đậu, nơi vùng đất giàu thiên nhiên và phong phú đời sống nội tâm, môi trường thiên nhiên đă làm cho con đường này có một tên gọi của tâm linh: Chùa Phật. Theo Phan kế Bính, cuối thế kỷ 19, Phú Nhuận có trên 70 ngôi Chùa, xưa nhất là Chùa Phú Long, ngôi Chùa này nằm trên con đường Nguyễn Huỳnh Đức, c̣n gọi là Chùa Làng, nơi những đồng bào nghèo đến cầu nguyện sau những ngày lam lũ. Ngôi Chùa Làng được xây dựng do quỹ Làng Phú Nhuận xuất ra, khởi công từ giữa thế kỷ 19, cùng lúc với Đ́nh Làng Phú Nhuận. Khởi đầu bằng ván, lợp lá do Ông Gia trụ tŕ, tu theo phái Lâm Tế Chánh Tông, có Tổ Đ́nh là Giác Lâm Tự ở Phú Thọ. Chùa Làng có sắc tự của vua phong (không rơ đời nào), có chuông đồng đúc từ thời Tây Sơn.

Con đường Chùa Phật, người Pháp đọc là Chu Phát, đi ngang qua các Chùa: Chùa Phú Thạnh, c̣n gọi là Chùa Cây Sai (V́ có cây Sai cổ thụ, gốc 3 nhánh, hơn hai người ôm). Đây là Đ́nh Làng đầu tiên của Phú Nhuận, v́ nằm trong vùng trũng bên kênh Nhiêu Lộc, nên Đ́nh được dời từ năm 1852 đến địa điểm hiện nay là Phường 10.

Mộ của Phan Tấn Huỳnh (Phường 12) xây năm 1825, nguyên là Tổng Trấn Phiên An, sau về già tuẫn tiết. Mộ mặt phẳng ṿng rào khoảng 20 m2, tuy nhỏ nhưng mang những nét kiến trúc đương thời, với tường rào dày và thấp, có cột trụ hoa sen búp, văn bia lớn, cổng bán nguyệt.

Nhà Thờ Tân Hoà xưa kia c̣n gọi là Nhà Thờ Kiến Thiết (1960), v́ Nhà Thờ toạ lạc trong khu vực cư xá Kiến Thiết, cư xá này được xây dựng từ năm 1960, gồm hai khu: Khu Ngói Đỏ, và Khu Ngói Trắng. Khu Ngói Trắng được xây dựng vào năm 1957, Khu ngói Đỏ xây dựng năm 1960. Hai khu này do Ông Chánh Trương của Giáo Xứ Tân Hoà, đảm nhận xây cất: Ông Micae Vũ văn Hoạt, lúc bấy giờ ông Hoạt làm trong sở địa chính Sài g̣n. Nhà Thờ Kiến Thiết nằm ngay phía cuối của Khu Ngói Trắng, lúc bấy giờ c̣n là śnh lầy, cỏ mọc xanh um tùm. Số giáo dân khi mới thành lập vài chục nóc gia, chưa đầy 100 người. Sau này, nhờ h́nh thành cư xá Khu Ngói Đỏ nên số giáo dân có gia tăng khoảng 400 người. Điện Thánh Mẫu Tân Hoà.

Ngôi Thánh đường đầu tiên được xây dựng năm 1966, từ ngôi nhà nguyện nhỏ nguyên thuỷ. Thánh đường xây dựng lần nhất lợp tôn mái khung sắt, nền thấp, thường ngập lụt sau mỗi trận mưa. Chung quanh nhà thờ có 3 diện tích ao hồ, mỗi ao hồ khoảng 150 m2. Có các lớp mẫu giáo xây dựng trên mặt ao hồ, sau năm 1975 những lớp học này được tháo dỡ, hoặc không c̣n sử dụng được. Trong khi xây dựng lần 2, lấp 2 ao hồ để một dựng núi Đức Mẹ, một biến thành vườn cây thiên nhiên cho hợp với kiến trúc mới.

Tháng 11 năm 1995, xây dựng Thánh Mẫu Điện dâng kính Mẹ Maria, trong đó có giữ lại những nguyên tích có giá trị của Ngôi Thánh Đường cũ, sẽ nói sau những di tích này.

Nếu có dịp ghé thăm Tân Hoà, trên bục giảng bằng đá đặt trên gian Cung Thánh Nhà Thờ, có khắc lại những ḍng chữ này trên mặt bục giảng và bên hông phía trong:

Trên bề mặt:

Thành lập Họ Kiến Thiết: 25 - 12 - 1957. Do Đức Cha Simon Hoà Hiền Kư sắc thành lập Giáo Xứ Tân Hoà: 22 - 8 - 1960.

Cha Chánh Xứ tiên Khởi: Giuse Đỗ Trọng Kim (1960 - 1973).

Xây dựng Thánh Đường lần 1: 03 - 12 - 1966.

Ngày Chầu thứ Năm hằng tuần lần 1: Mùng 6 Tết Đinh Tỵ.

Bên hông phía trong:

II. Điện Thánh Mẫu Tân Hoà.

Công tŕnh của t́nh thương và ḷng biết ơn. Xin dâng lên Chúa và Mẹ Maria trong năm thánh 2000. được phép bề trên Giáo phận: 24 - 11 -1994. lấy ư kiến giáo dân tiết kiệm xây dựng: 1 - 1 - 1995.

Lễ đặt viên đá đầu tiên, do Đức Cha G.B. Phạm Minh Mẫn, Giáo Phận Mỹ Tho, ngày 19 - 11 - 1995.

Khởi công xây dựng, dịp kỷ niệm Chầu Ḿnh Thánh Chúa (hằng tuần vào thứ Năm) lần thứ 1000. Ngày 24 - 11 - 1995.

Lễ đặt Thánh cốt, do Đức Ông G.B. Trần Văn Hiến Minh chủ sự, ngày 26 - 1 - 1997.

Bàn thánh Được Thánh Hiến, lần chầu thứ 1161, Noel 1998.

Xức dầu thánh hiến 1 - 5 - 2000, do Đức Tổng Giám Mục, G.B. Phạm Minh Mẫn.

Đây là bản tóm lược về Thánh Mẫu Điện Tân Hoà h́nh thành và phát triển. Nôi dung của việc hội nhập văn hoá sẽ được tŕnh bày ở phần kế tiếp.

III. Tân Hoà Là Của Mẹ

Vào những ngày đầu năm, Miền nam Việt Nam lúc bấy giờ c̣n nhiều tang tóc của chiến tranh, một khát mong duy nhất của dân tộc là thấy ngày hoà b́nh trên quê hương. Thánh tượng Nữ Vương Hoà B́nh[3] được Đạo Binh Xanh quốc Tế rước tới Việt nam ngày 31 - 1 - 1974 và lưu tại Việt Nam ba ngày. Trong Ban Tổ Chức đón tiếp Đức Mẹ Thánh du tại Việt nam có Linh mục Đa Minh Bùi Minh Sơn theo Thánh Tượng Mẹ đi nhiều nơi trong miền đất Nam Việt Nam. Theo lời kể lại của Linh Mục Đa Minh Bùi Minh Sơn:

“ Vào buổi tối hôm Thánh tượng Đức Mẹ ở phi trường Huế, một tối trời mưa lâm thâm những cơn mưa không dứt của miền đất Huế. Bầu trời tối đen, lâu lâu những điểm sáng của vài trái hoả châu rực sáng rồi tắt ngúm. Cảnh tượng của bầu trời gợi nhớ những h́nh ảnh của những ngày tang tóc, đau thương trên quê hương Đất Việt, không lúc nào hơn những tâm t́nh khát vọng hoà b́nh của con dân Việt lại loé sáng như ánh hoả châu hơn thế. Thánh tượng Đức mẹ được cung nghinh đến nghinh đài, nghinh đài được làm giống như đồn luỹ, nghĩa là cũng với những bao cát chống đạn được xếp thành, Đức Mẹ được đặt trên những bao cát ấy, chung quanh chỉ dám thắp một vài cây nến[4], Đức Tổng Giám Mục Huế khó khăn lắm mới leo lên được để đứng dưới chân Thánh tượng để dâng lên lời cầu nguyện của ḿnh thay cho Giáo phận Huế, ngài mở đầu:

“Mẹ Ơi! Huế là của Mẹ đó!”

Nghe lời mở đầu ấy tôi rùng ḿnh sởn gai ốc, nhớ đến đoàn dân Chúa tại Tân Hoà nơi tôi đang phụ trách, có biết bao nhiêu chàng trai trẻ đang làm mồi cho lửa đạn, tôi cũng thầm nguyện dâng con cái của ḿnh cho Đức mẹ và tự nhủ:

“Mẹ ơi, Tân Hoà là của Mẹ đó!”.

Sự trào dâng niềm dâng kính này mạnh mẽ hơn khi bài giảng của Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền trong Thánh Lễ tại Thánh Địa La Vang:

“Mẹ đă đến với chúng con, Mẹ đă đến với quê hương trầm thống này. Quê hương này đă có tết Mậu Thân ngập tràn lửa máu, réo rắt tiếng bom đạn. Có Tết Mậu Thân, có những vụ hạ sát tập thể, chôn vùi tập thể biết bao người vô tội, lương có, giáo có.

Quê hương này c̣n có mùa hè đỏ lửa, con người tang tóc trong chiến tranh. Có vô số nhân mạng chết tất tưởi, oan khuất. Cũng quê hương này, hỡi Mẹ Fatima mầu nhiệm vô biên, đă có đại lộ kinh hoàng, nơi hàng đoàn người lánh nạn gục chết trong lùm cây, bụi cỏ, trong ống cống, trên đường xe lửa chạy ngang. Tất cả là nạn nhân của chiến tranh, và những cái chết không nguôi được đó, làm cho tất cả những ai c̣n sống c̣n thở cũng mong đến hoà b́nh.

Hỡi Mẹ hiền lành! mẹ hăy đoái thương đến Miền Trung nghèo khổ c̣n đang điêu đứng v́ chiến tranh, đă chịu đựng quá nhiều thiên tai gíang xuống. Xin Mẹ hăy thương dân tộc Việt nam bất hạnh, để Việt nam được sống trong hoà b́nh, để Việt nam này sớm kết thúc chiến tranh. Mẹ fatima, v́ Mẹ là Nữ Vương Hoà B́nh và cũng v́ Mẹ là bậc từ mẫu; là người Mẹ - Mẹ hơn ai hết - Mẹ thấu hiểu những nỗi ḷng của người mẹ Việt Nam, trải qua mấy chục năm chỉ những dâng trào ḍng lệ. Những người mẹ Việt nam đă khóc thương cho những đứa con đứt ruột của ḿnh, của những đứa con đă chết v́ chiến tranh, những đứa con tàn phế v́ chiến tranh và những đứa con bị bắt đi biệt tích. Chiến tranh đă cướp đi của bao bà mẹ Việt Nam những tài sản tinh thần quư báu nhất trên đời. Chiến tranh đă làm cho bao nhiêu người mẹ Việt nam mắt mờ đi v́ than khóc ngày đêm, gan ruột héo hon đi v́ thương, v́ nhớ, v́ hận, v́ sầu.

Mẹ fatima, xin Mẹ bằng quyền phép, bằng địa vị cao quư Nữ Vương Hoà B́nh, hăy biến những giọt nước mắt xót xa tủi hận kia thành những giọt nước mắt của mừng mừng tủi tủi. Xin Mẹ hăy cho những bà mẹ Việt nam môi nở nụ cười, xin đem về cho họ những đứa con bấy lâu xa vắng. Xin cho họ được ôm ấp con trong ḷng, được vuốt ve khuôn mặt mái tóc của những đứa con yêu, tưởng không bao giờ gặp lại được. Xin Mẹ hăy đem lại trong mái ấm nơi gia đ́nh họ những tiếng cười hoan lạc hạnh ngộ, đoàn viên và vĩnh viễn không c̣n những tiếng thở dài ảo năo. Xin Mẹ hăy đem tới hoà b́nh, v́ chỉ khi không c̣n chém giết th́ bất hạnh mới tiêu tan và hạnh phúc mong chờ mới tới được”.

“Tân Hoà là của Mẹ đó”, những gia đ́nh đang bị xâu xé, những gia đ́nh đang hạnh phúc, những gia đ́nh đang khổ đau. Tân Hoà là của Mẹ đó, những trẻ thơ, những gia đ́nh đang núp dưới cánh áo Mẹ, xin dâng Mẹ tất cả những người con thân thương của Mẹ. Một lần nữa và ghi măi trong lịch sử Tân hoà là của Mẹ, bằng lời hát tŕu mến: “Đă bao năm rồi Tân Hoà là của Mẹ đây, Tân Hoà yêu thương tŕu mến, Tân Hoà t́nh Mẹ thiết tha, Tân Hoà đẹp lắm Mẹ ơi”.

IV. Phú Nhuận, Tên Biểu Hiện Người.

“Phú Nhuận là một mỹ danh (tên có ư nghĩa tốt đẹp) đặt cho đơn vị hành chánh xă thôn từ khi mới khai lập. có lẽ hai chữ Phú Nhuận trích từ câu: “Phú Nhuận ốc, đức nhuận thân”, câu này có thể tạm hiểu là: Giàu có làm đẹp nhà cửa, đức độ làm đẹp bản thân. Nguyên văn là ở chương 6 sách Đại Học thích nghĩa chữ “thành ư”: Tăng Tử viết: “thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ - Phú Nhuận ốc, đức nhuận thân, tâm quảng, thể bàn. cố quân tử tất thành kỳ ư”. Tạm dịch nghĩa: “Ông Tăng Tử nói: ở chỗ mười mắt trông vào, mười tay chỉ đến, th́ ḿnh chẳng giữ cho nghiêm cẩn sao?- Người giàu có th́ trưng bày dọn nhà cửa đẹp đẽ; người có đạo đức th́ thân thể sáng láng nghiêm trang đàng hoàng, tâm chi quảng đại th́ cốt cách trung dung, đó là cảnh bên trong lộ ra ngoài. Cho nên người quân tử ắt làm cho ư ḿnh thành thật” (xin cám ơn nhà ngữ học Vũ Văn Kính đă tầm chương thích nghĩa cho đoạn trích này- NĐĐ).

Khi Nguyễn Hữu Cảnh đến lập phủ huyện, dân số đă có “dư tứ vạn hộ”, đất đai đă có trên ngàn dặm. Riêng Phú Nhuận mới có độ vài dặm đất với mấy chục người thôi, v́ nơi Phú Nhuận không phải là nơi có ruộng đất ph́ nhiêu như ở G̣ vấp và cũng không phải là nơi có chợ búa như ở Sài G̣n, Bến Nghé hay Đồn Dinh. Cho nên, chúng ta có thể phỏng đoán không sai lầm là: Ngay từ thời ấy, dân ở đây tương đối nghèo tuy có nhiều danh lam thắng cảnh. đất ở đây thuận lợi cho sự cư trú cao ráo thoải mái, cho việc lập điền vui thú tuổi già hay cho cả những ngôi mộ khang trang để an nghỉ giấc ngàn thu, chứ đây không phải là đất để người dân có thể làm giàu về nông nghiệp, thương nghiệp hay công nghiệp ǵ khác. Ngay từ xưa, người dân ở đây thường phải đi làm công ở nơi lân cận để sinh sống. Phải chăng v́ hoàn cảnh đặc biệt đó mà người dân ở đây đă biết hài hoà giữa giá trị vật chất với giá trị tinh thần, giữa phú với đức, nên có chung một hoài băo là: “Phú Nhuận ốc, đức nhuận thân” và lấy tên Phú Nhuận đặt cho quê hương nhỏ bé và thân thiết của ḿnh.”[1]

Phú Nhuận có lẽ đă xuất hiện từ sớm, theo giáo sư Nguyễn Đ́nh Đầu th́ vào khoảng năm 1698.

Tân Hoà được h́nh thành từ những năm 1957, trên mảnh đất thuộc Phú Nhuận, lúc bấy giờ là một họ nhỏ, trực thuộc Giáo Xứ Bùi Phát, về danh xưng ban đầu là Họ Đức Bà, Tân Hoà là do Đức Cha Simon Hoà Hiền kư sắc lệnh thành lập Giáo Xứ Tân Hoà, ngày 22 - 8 - 1960, đặt cha Giuse Đỗ Trọng Kim làm cha chánh xứ tiên khởi.

Tân Hoà là địa danh miền đất của một giáo xứ mới thành h́nh. Về ư nghĩa của từ ngữ thật rơ ràng, đó là “miền đất an hoà mới” và Chữ “Hoà” cũng là ghi dấu đứa con tinh thần mà Đức Cha Simon Hoà Hiền khai sinh. Tại sao lại là miền đất an hoà mới? Đó là dựa trên ư nghĩa của từ Phú Nhuận, Tân Hoà như một địa chỉ nhỏ trong vùng đất Phú Nhuận, Tân Hoà cũng hưởng những công đức của người đi trước, được sinh ra là được hưởng những phúc lộc của miền đất Mẹ. Tân Hoà c̣n có một ư nghĩa thực tế, sau những ngày di cư vào Nam 1954, những người con trên miền đất này có một chỗ cư trú an hoà mới. Rất gần với tâm thức khát khao người Việt: “an cư lạc nghiệp”, miền đất Tân Hoà này từ thưở đầu đă dâng kính cho Mẹ Maria, theo bút tích sớm nhất c̣n lưu tại Giáo xứ: Nhà thờ Tân Hoà, được dâng kính cho Đức Bà và gọi là nhà thờ Đức Bà Tân Hoà vào những năm 1960, do cha Giuse Đỗ trọng Kim coi sóc, bổn mạng của Giáo xứ là Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cho nên đôi khi bút tích cũng để lại trên sổ hôn phối là Nhà Thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, mừng vào ngày Trái Tim Đức Mẹ sau lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu.

Tiếp tục với ân nghĩa của những người đi trước, những người con Tân Hoà ước nguyện giữ măi những ǵ truyền thống của đất mẹ Phú Nhuận.

Lm Giuse Hoàng Kim Toan

..............................

ĐÔI NÉT VỀ H̀NH THÀNH GIÁO XỨ VÀ THÁNH MẪU ĐIỆN:



1. Ngày đầu thành lập

Năm 1958, sau khi mừng lễ bổn mạng đầu tiên của cha Giuse Đỗ Trọng Kim tại họ Kiến Thiết (Lúc đó Kiến Thiết là một họ lẻ của GX Bùi Phát), bà con xin cha cho mở Tuần Thánh bằng cách dựng “lêu “ cho Chúa về ngự trên phân đất mà họ đang khai phá (Vị trí đặt “lều” là sân bóng).

Ba căn nhà lá mái tranh vách đất đựoc dựng lên vội vàng với cây Thánh giá tren nóc. Thế là “Nhà thờ Kiến thiết” h́nh thành trong sự vui mừng cuả mọi người. Và cũng từ lúc đó trở đi “Ngôi nhà thờ” đă trở thành địa chỉ thiêng thánh, “một cơi đi về” ấm áp, thân thương. Cứ đều đặn mỗi Chúa nhật, cha Giuse lại từ Bùi Phát, được các “ông biện” hộ tống, băng qua đường rầy xe lửa về dâng lễ cho bà con.

Xem ra “dân di cư” càng ngày càng “bén mùi” nơi vùng đất śnh lầy và đầy cỏ dại này (Lúc đó chưa có rau muống), nên kéo về lập nghiệp ngày càng đông, trong đó có nhiều người công giáo được bà con họ hàng “mách nước. Năm 1959, hai trong số ba gian nha thờ được cải tạo xây dựng bằng gạch cho thêm phần “khang trang”, đáp ứng nhu cầu phát triển của giáo xứ…

Nhận thấy giáo dân tăng lên về số lượng cũng như ḷng sốt mến, nhất là ḷng ao ước có mot vị chù chăn, Đúc cha Simon Ḥa Hiền đă “ca-đô” cho giáo họ một món quà đặc biệt trước khi được bài sai đi nhận nhiệm sở mới ở Đà Lạt: Ngày 22/8/1960 ngài đă ưu ái ban sắc lệnh nâng giáo họ Kiến Thiết từ họ đạo lẻ lên hàng Gíao xứ, đồng thời đặt tên cho xứ là “Giáo xứ Tân Ḥa” trực thuộc hạt Chí Ḥa, chọn “Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ Maria” làm Bổng mạng giáo xứ, chính thức đặt cha Giuse Đỗ Trọng Kim làm linh mục chính xứ tiên khởi.

Cha Giuse coi xứ cho đến năm 1973 th́ qua đời. Có thể nói cuộc đời linh mục của ngài đă được “đăt cược” vào tay Đức Mẹ, hầu như trên tay ngài lúc nào cũng có cỗ tràng hạt. Ngài đă cống hiến trọn vẹn cho giáo xứ từ ngày về Tân Ḥa. Ngài đă để lại cho giáo xứ một gia tài đồ sộ bao gồm hai khu đất thánh là giáo xứ và nghĩa trang Lazarô B́nh Hưng Ḥa. Nhưng có thễ nói ngài đă hiến tặng cho giáo xứ một gia tài quư hơn mọi thứ gia tài trên trần gian này đó là sự tín thác vào Đức Maria. Qua đó Ngài đă vượt qua được biết bao nhiêu sóng gió, vững tay chèo con thuyền No-e đến bến bờ an b́nh, hạnh phúc: Tân Ḥa hiền ḥa, đ̣an kết yêu thương dưới ánh mắt âu yếm của Mẹ Hiền. Để rồi từ nền tảng vững chắc mà ngài đă dày công xây đắp, người con yêu quư của ngài là LM Đa Minh Bùi Minh Sơn lại tiếp tục sứ mạng “Tân Ḥa là Của Mẹ”.

(Đám tang ngài “lớn chưa từng thấy”: có xe Tứ mă, có 40 xe hơi dàn hàng cùng với giáo dân thành một hàng dài rồng rắn cả cây số. Giáo dân yếu quư ngài quá đỗi).

Thời gian cha Giuse c̣n tại vị, ngài được tăng cường thêm một cha phó là cha Đa Minh Bùi Minh Sơn từ Bùi Phát qua. Đây là một món quà đặc biệt nữa mà Chúa ban tặng cho Tân Ḥa: Mot linh mục trẻ, một hiện tượng “Gioan Kim Khẩu”. Vâng có người đă ví cha Đa Minh là “thợ giảng” v́ sự “lợi khẩu” của cha. Giáo xứ có thêm cha phó như buồm căng gió, phăng phăng lướt tới. Hai cha con quyết định xây lại nhà thơ. Và, như chúng ta biết, ngày 3/12/1966 ngôi nhà thờ đă được xây dựng kiên cố, cưu mang biết bao nhiêu “tâm t́nh” của những người con Tân Ḥa.

Thời điểm này giáo xứ đă được tổ chức bài bản, có Hội Ḍng Ba, Kinh mân Côi, Legiô, Giúp Lễ, Phạt Tạ, Nghĩa Binh Thánh Thể, Dâng Hoa, Ca Đoàn, Giúp Lễ.

Đang lúc cha xứ đang hăng say với công việc phát triển xứ Đạo th́ th́nh ĺnh vào năm 1973 khoảng trung tuần tháng 9 dương lịch ngài đă bị một cơn đau khủng khiếp ở vùng bụng, cha Phó Bùi minh Sơn đă tức tốc cho mời bác sĩ về chăm sóc ngài, nhưng cuối cùng cơn đau cũng không thuyên giảm, cha phó phải cấp tốc chuyển ngài đi bệnh viện Grall, có Thày Đỗ ngọc Thụ đi theo để săn sóc ngài. Ngài đă tắt thở vào lúc 14 giờ ngày 3 tháng 11 năm 1973 đúng vào ngày kính Thánh Martin de Porrès.

Cha Phó Đaminh Bùi minh Sơn là nghĩa tử của ngài nên cha đă dùng hết khả năng của ḿnh để tổ chức đám tang cho “Cha Bố”. Khi vừa đem xác ngài về đến nhà xứ th́ các phóng viên của Đài truyền h́nh Sàig̣n đă có mặt và ghi ngay những h́nh ảnh về ngài. Sau đó ngài đă lên kế hoặch tổ chức tang lễ cho người được thật long trọng. Lễ an táng do Đức cha Nguyễn văn B́nh chủ tế với nhiều linh mục đồng tế, rất nhiều tu sĩ giáo dân của nhiều giáo xứ bạn trở về Tân Ḥa để dự lễ cầu nguyện và tiễn đưa ngài đến nghĩa địa Linh mục Chí Ḥa lần cuối cùng. Quan tài của ngài được chuyển bằng xe “tứ mă”, những người tiễn đưa được nhiều loại xe tháp tùng và có cả một đoàn “convoi” GMC theo sau kéo dài tới cả mấy cây số.

Để nhớ ơn công lao của ngài đă kiến tạo giáo xứ Tân Ḥa từ thuở ban đầu, tất cả đều là từ không mà có, từ tinh thần đạo đức hy sinh, thánh thiện gương mẫu, chịu đựng. . . mà ngài đă chôn sâu vào từng tâm hồn mỗi người mỗi gia đ́nh, từ những tâm hồn khô khan cứng cỏi đă được đổi mới, các gia đ́nh trong giáo xứ thi nhau đọc kinh tối trong gia đ́nh, tinh thần đoàn kết giữa giáo dân, giáo họ đều được mọi người hoan nghênh, Những người không cùng tôn giáo cũng rất kính trọng ngài nhất là những gia đ́nh nghèo khó. Gương sáng của ngài để lại được ví như Cha xứ Curé d’Ars ! Cho đến giờ phút này nếu nhắc lại đến Cha già Cố Giuse Đỗ trọng Kim th́ những ai đă sống trong cùng thời gian mà ngài coi sóc xứ đạo Tân Ḥa này th́ mới nói lên được những gương sáng của ngài để lại là “Tràng hạt Mân Côi”.

Ngày tháng qua đi, cha phó Đaminh Bùi minh Sơn thay ngài coi sóc giáo xứ.

2. H́nh thành Đồi Đức Mẹ:

Trong thời kỳ đó mọi người phải đón những khó khăn của đất nước, cảnh nhà xứ cũng tiêu điều, hụt hững. . . những cây dừa cũng buồn theo cảnh vật và ḷng người, cây nào cũng dáng vẻ tiêu điều ủ rũ như thiếu nước! Căn nhà của Cha Già cửa kín then cài, mầu mái đỏ Nam Bộ cũng đang xuống mầu theo thời gian v́ mảnh đất Tân Ḥa nằm ngay vào chỗ trũng, gặp nước thủy triều dâng là lênh láng, nhà Cha Già cũng đă nhiều lần bị chạy nước nhất là thời gian sau này v́ khu vực này dân số tăng từng ngày, cống rănh không có, Kênh Đen mỗi ngày mỗi nâng cao, cha xứ đă mỗi ngày mỗi t́m cách đối phó với con nước, căn nhà của Cha Già bị lún sâu làm mồi cho con nước thủy triều, mối mọt lũng loạn, nhưng ngài vẫn cố duy tŕ kỷ niệm ấy của “Cha Bố”.

Sau một thời gian dài sau này mỗi ngày một xe xà bần, vài xe rồi nhiều xe. . . từ từ trước nhà Cha Già đă cao hẳn lên, rồi cao lên, cao lên dần.. . cao cho đến lúc bà con phải giựt ḿnh v́ căn nhà của Cha Già đă bị che khuất lúc nào chẳng ai để ư. Mảnh đất trước nhà Cha Già đă cao hẳn lên, cỏ đă phủ mầu xanh, chen vào một ít cây cảnh, cuối cùng th́ đồi cao ấy đă vượt hẳn tầm mắt lưng chừng căn nhà của Cha Già và cuối cùng mọi người cũng nhận ra ngay là ngọn đồi sẽ dành cho Đức Mẹ tiếp nối ước mong của “Cha Bố”. Cho đến khi ngọn đồi đă cao đến độ vừa ư, cha xứ đă cho cải táng ngôi mộ của Cha Già Giuse Đỗ trọng Kim từ đất thánh Linh Mục Chí Ḥa và đem về đặt dưới chân đồi, bên trên là căn nhà thu nhỏ của vị linh mục hướng về cung thánh Tân Ḥa, gần đó một cây dừa đă vươn cao, gầy guộc khẳng khiu rủ những tàu lá bạc mầu xuống căn nhà thu nhỏ của vị linh mục Già khả ái như muốn nhớ về những kỷ niệm từ thuở ban đầu, lúc mà ngài đă thổi luồng tư tưởng của ngài vào những cây dừa vô hồn để khiến chúng thành những người lính, những cột mốc ǵn giữ bờ cơi Tân Hoà để Tân Hoà có được một mảnh đất tuyệt đẹp như ngày hơm nay.

“Thánh Tượng Nữ Vương Ḥa B́nh” đă được Đạo Binh Xanh quốc tế rước tới Việt Nam ngày 31.01.1974 để cầu xin cho Việt Nam được mau hoà b́nh. Thánh tượng bằng đá cẩm thạch được chở bằng xe tải từ Ninh B́nh về giáo xứ Tân Ḥa bằng đường bộ dài cả ngàn cây số để rồi sẽ được đặt lên ngọn núi nhân tạo thay thế tượng cũ. Công tŕnh đưa tượng Đức Mẹ lên đúng vị trí đă định là vô cùng khó khăn, v́ chiều cao và sức nặng ! nên Cha xứ đă phải dùng đến “xe cần cẩu” mà xe cần cẩu di chuyển vào tới sân nhà thờ cũng gặp muôn vàn khó khăn cản trở v́ con đường nhỏ và dây điện chằng chịt ! Nhưng cuối cùng th́ mọi điều cũng đă được hoàn thành tốt đẹp như ư cha xứ.

Cho đến lần giỗ thứ 20 (1973 – 1993) của cha Ǵa Giuse Đỗ trọng Kim ngọn đồi Đức Mẹ Tân Ḥa đă xanh tươi, cây cối um tùm, hoa chen lá, lá chen hoa, sắc mầu tươi thắm phơi ḿnh trên thảm cỏ xanh, tượng Đức Mẹ đă được đặt trên nơi cao nhất. . . phía sau tượng Mẹ là một cây phượng vĩ đă vươn cao và trổ hoa đỏ chói những lúc hè về, càng làm tăng vẻ đẹp cho tượng Mẹ. Ngoài ra quanh đồi c̣n có dương, có liễu, có đại. . . thi nhau vươn ḿnh trong ánh nắng ban mai.

Đă nhiều năm qua rồi, liễu đả nhủ, dương đă biết reo mỗi khi có làn gió thổi tới. . văng vẳng đâu đây vẫn là tiếng hát của con cái Tân Ḥa: Tân Ḥa là của Mẹ đó. . . Tân Ḥa t́nh Mẹ thiết tha. . . Tân Ḥa đẹp lắm Mẹ ơi. . .

Đă nhiều năm rồi biết bao tâm hồn đă từng đến nơi này, đứng dưới chân đồi và nh́n lên tượng Mẹ để cầu khẩn, để van nài, để thỏ thẻ. . . để ăn năn, để xin lỗi, để thề hứa. . . cho đến khi nào đôi mắt nḥa lệ, trong ḷng thấy lâng lâng nhẹ nhơm mới chịu chia tay Mẹ ra về, mang nặng chĩu trong ḷng một niềm tin và hy vọng nơi Mẹ mà chỉ có Mẹ mới thấu hiểu được ḷng con cái ḿnh !

Đă nhiều năm rồi có biết bao nhiêu đôi tân hôn từng đứng dưới chân đồi Mẹ để chụp ảnh làm kỷ niệm và xin dâng lên Mẹ cả cuộc đời mới, xin Mẹ đi cùng trong suốt cuộc đời vợ chồng, v́ họ tin chắc có Mẹ ở bên cạnh th́ cuộc đời mới của họ sẽ được b́nh an hạnh phúc và rồi sự chung thuỷ sẽ thật vững chắc và đeo đuổi họ suốt đời.

3. Giai thoại về miền Đất:

Có một giai thọai về sự ra đời khu đất xây dựng nhà thờ lúc đó như sau: Một lương dân lượm được môt bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không biết từ đâu bay tới khu đất, họ biết bức ảnh người có đạo “thờ” nên đă trao lại cho bà con giáo dân. Ai nấy đều nghĩ đây là dấu hiệu Chúa Mẹ muốn giáo xứ sẽ dựng ngôi nhà thờ tại đây.

(Nhiều nguời xác nhận các nhà thờ xây dựng lên sau này đều tọa lạc tại khu đất này.)

Thời gian đầu cuộc sống di cư khó khăn, khu đất c̣n hoang sơ, cư dân thưa thớt, đa số “chủ sở hữu” các lô đất thuộc về giáo dân Bùi Phát. Sau này, lúc Tân Ḥa đă ổn định, bà con xứ Bùi Phát vẫn hay nói đùa một cách thân thương rằng Bùi Phát là anh Tân Ḥa cũng không sai!

Cũng trong thời gian này xảy ra biến cố cháy nhà ở khu vực chợ Năng-Xy. Chính quyền lúc đó đă quyết định chuyển những gia đ́nh bị hỏa họan về đây với chương tŕnh khá quy mô đó là biến “khu đất rau muống” này thành những dăy nhà theo quy họach dân cư bài bản, khu đất được quản lư khá chặt chẽ. Nhưng sau khi Tổng Thống Diệm bi lật đổ, t́nh h́nh chiếm đất “hỗn quân hỗn quan” trở nên “không thể kiểm sóat”

Riêng xứ đạo cũng xoay chuyển theo thời thế. Từ những cư dân thưa thớt, lẻ loi, phải thường xuyên lâm vào cảnh “không chủ chiên”, hằng tuần phải sang Tân Sa Châu hay Bùi Phát đón cha về làm lễ, dần dần họ cũng đă “phấn đấu” có nhà nguyện, nhà xứ và cuối cùng cha già cố Giuse Đỗ Trọng Kim đă được “bài sai” chính thức coi xứ Tân Ḥa.

Điện Thánh Mẫu, mô h́nh nhà cao cửa rộng.

Điện Thánh mẫu được xây dựng (mô h́nh 1995) trong một quan điểm của văn hoá Việt, đó là quan điểm:

Nhà cao cửa rộng: Theo nhận xét của những nhà nghiên cứu từ phương Tây đến Việt Nam, thấy rằng có: “Nhiều nhà cao cẳng, sàn nhà bằng ván”

“Nhà sàn chính là kiểu nhà phổ biến ở Việt Nam từ thời Đông Sơn, nó thích hợp cho miền sông nước lẫn miền núi. Nó không chỉ có tác dụng đối phó với môi trường sông núi ngập lụt quanh năm, mà c̣n tác dụng đối phó với thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền cao và ngập lụt định kỳ ở miền thấp, khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao, hạn chế và ngăn cản côn trùng, thú dữ (ruồi muỗi, sâu bọ, rắn rết, cá sấu, hổ báo,…). Vào thế kỷ XVII nhiều ngôi Đ́nh như đ́nh Đ́nh Bảng (Hà bắc), Đ́nh Chu Quyến (Hà Tây)… vẫn làm theo lối nhà sàn.”

Nhà cao của Việt Nam gồm hai yêu cầu: sàn và nền cao hơn mặt đất, mái cao so với sàn nền. Sàn nền cao để chống ngập lụt ẩm ướt, côn trùng và c̣n một đặc điểm nữa là quen với phong thái kiểu nhà Việt Nam trong cách suy nghĩ. Nhà cao nhưng không cao hẳn nhằm tôn vẻ đẹp của ngôi nhà giữa thiên nhiên bởi v́ khác với Tây Phương là thường có những ngôi nhà cao tầng, nhà của Việt Nam thường thích hợp là lối nhà trệt. Nhà Trệt tuy thấp nhưng đủ cao rộng để có không gian mở ra với thiên nhiên, bốn bề thoáng đăng và hoà với cây xanh để cảm thấy rằng không bị tù túng trong bốn bức tường. Thói quen này thường ăn sâu trong tâm thức người Việt, mặc dù đất chật người đông, người ta vẫn cố gắng mở ra nhiều cửa sổ nếu có thể để sẵn sàng hoà ḿnh vào với thiên nhiên.

Từ triết lư sống đến tâm lư ở, chúng ta cũng có thể đi chiều hướng ngược lại từ tâm lư ở đến triết lư sống là ưa thích sự hài hoà. Từ đó, Luật Phong Thuỷ của Trung Hoa có ảnh hưởng đến tâm lư ở của người Việt Nam. Luật phong Thuỷ được phát biểu là t́m sự hài hoà giữa con người với thiên nhiên, hay nói cách khác t́m quy luật thiên nhiên để hài hoà cho cuộc sống con người.

Mái cao so với nền có tác dụng đón gió tránh nắng nóng và chiều cao của mái nhằm bảo đảm thoát nước nhanh khi mùa mưa đến. Ngoài ra theo tiêu chuẩn của người Việt nữa là nhà cao cừa rộng. Cửa không yêu cầu cao, nhưng đ̣i yêu cầu rộng.

Cửa rộng có công dụng với thiên nhiên là đón gió tránh mùa nóng, thấp cửa để tránh băo và tránh mưa. Cửa rộng biểu lộ tinh thần hiếu khách của người Việt. Tinh thần này ảnh hưởng nhiều trong ngôn ngữ, cách xưng hô Ông, bà, chú bác, anh, chị, em.., mọi người đều có mối liên hệ ruột thịt, huyết thống. Ảnh hưởng tinh thần hiếu khách cũng thấy ở trong cách sống: “Bán láng giềng xa, mua láng giềng gần”, “gà cùng một mẹ”, “Nhịn miệng đăi khách”.

Nhà cao cửa rộng là cách diễn tả của tâm hồn Việt, trọng tinh thần cao thượng, biểu lộ tinh thần hiếu khách. Từ cách sống đến diễn tả trong cách ở là một chiều dài của thời gian được lưu truyền bởi những người đi trước và nối tiếp làm cho cuộc sống thêm phong phú. Như vậy, tính cách của ngôi nhà hiện đại thích ứng với môi trường mới nhưng vẫn có nét của thời gian xưa mang những đặc thù và tinh tuư.

Mô h́nh Thánh Mẫu Điện theo kiến trúc Đ́nh.

Thánh Mẫu Điện lấy kích thước của Ngôi Đ́nh Việt Nam làm tiêu chuẩn. Theo kích thước Ngôi Đ́nh Việt Nam là h́nh vuông, biểu tượng Đất mang đặc tính Âm. Chiều dài của mỗi cạnh xây dựng là 37 m, quay mặt theo hướng Đông Nam, đủ ấm áp trong mọi mùa, nhận ánh sáng không đối diện nhưng đầy ánh sáng tránh ẩm thấp, tránh nắng nóng mùa hè, núp gió mùa Đông. Chếch sang hướng Nam núi Đức Mẹ Ngự B́nh. Phía Tây để tránh nắng chiều có ao Đức Bà làm trong mát khí chiều.

Riêng cấu trúc Thánh Điện, thay v́ nhà cao cẳng được xây dựng thành tầng hầm để xe hơn 1000 m2, chiều cao tầng hầm 2m 6, tránh ẩm thấp và sử dụng được mặt bằng để xe trong tầng hầm.

Cấu trúc cửa vào Thánh Điện theo lối tam toà, cửa giữa và hai bên mái ṿm cung theo cung ṿm Roma, nửa ṿng tṛn. Mái ṿm cửa tam toà kiến trúc theo mái cong, đầu góc mỗi mái mang h́nh bồ câu, tượng trưng hướng về tương lai với ḷng khát mong hoà b́nh.

Theo kiến trúc Việt, ngôi Đ́nh Việt Nam, theo tư duy ước lệ, biểu lộ tư duy số lẻ, vào trong sân đ́nh là cổng tam quan, từ sân đ́nh bước lên Đ́nh là bậc tam cấp, vào trong Đ́nh bước qua cửa tam toà. Theo ước lệ ấy Điện Thánh Mẫu được xây dựng, bước vào trong sân Điện là cổng tam quan, bước vào trong Thánh Điện, bước lên tam cấp gồm 15 bậc theo hệ số 3 x 5, qua cửa tam quan vào trong chính Điện. Cửa chính vào trong Thánh Mẫu Điện dành riêng cho những người khoẻ mạnh, c̣n có hai lối vào trong Thánh Điện tiện ích cho người đau bệnh có thể đi lên bằng xe lăn, hoặc theo độ dốc dài, có thể bước lên bớt mệt nhọc. Hai lối đi biểu lộ tinh thần bác ái của tinh thần Kitô giáo, ḷng bác ái đó mở ra với mọi người và cũng biểu lộ tinh thần quảng đại của người Việt, trân trọng các cụ cao tuổi (Kính lăo đắc thọ) cũng như những người đau bệnh (thương người như thể thương thân), mọi người đều có chỗ của minh trong ngôi Đ́nh, cũng như trong Thánh Điện.

Mái của những ngôi Đ́nh lớn hoặc theo cung đ́nh Huế, như Điện Thái Hoà, mái được chia làm ba tầng chồng mí lên nhau theo thứ tự từ cao xuống thấp, gọi là mái “chồng diêm” hoặc là “trùng thiềm”. Giữa hai tầng mái trên là dải cổ diêm chạy quanh ba mặt của Ngôi Điện. Dải cổ diêm được phân thành từng ô hộc để trang trí h́nh vẽ. Tại Thánh mẫu Điện, nơi đây đặt 14 chặng đàng Thánh Giá, không theo lối ṿng như những Nhà Thờ khác thường đặt nhưng theo lối đặt chia theo hai cánh, thứ tự các chặng từ gian cung thánh xuống và xếp đặt từ chặng 1 đến 7 và từ 8 đến 14.

Bộ mái được phân chia ba tầng mái, theo cách cấu trúc cổ, như thế để tránh nh́n thấy sự nặng nề của bộ mái mà c̣n tạo ra cảm giác thanh thoát, càng lên cao càng đổ rỗng để hoà vào với cơi trời mênh mông. Mái được đổ bêtông cốt sắt nhưng phủ lợp phía trên bằng ngói, các lớp ngói làm bộ mái vừa nhẹ nhàng vừa biểu lộ ḷng cung kính của đất thấp đối với trời cao.

Nội thất của Điện Thánh Mẫu rộng thênh thang, 34 m mỗi chiều, mái cao tạo sự thanh thoát, chiều ngang rộng biểu lộ ḷng vô biên mở ra với tạo vật và với con người.

Chính Điện, gian cung thánh, bước lên tam cấp gồm 5 bậc, diện tích 15m x 6m. Bàn Thờ bằng đá đặt giữa chính Điện. Nếu cung điện của vua là chiếc ngai, th́ trong Thánh Mẫu Điện, trọng tâm là Bàn Thờ, biểu lộ Đức Giêsu Kitô hiện diện, chính Ngài là Tư Tế, là Của Lễ: “Con tự hiến thánh con, để họ cũng được hiến thánh”. Nếu trong Điện Thái Hoà, phía trên ngai là treo bửu tán bằng pháp lam ngũ sắc trang trí h́nh chín con rồng, chung quanh c̣n rủ các riềm bằng gỗ chạm trổ cửu long sơn son thếp vàng, th́ trong ngôi Thánh Mẫu Điện, là đặt Thánh Giá có treo Đức Giêsu chịu đóng đinh giữa tâm điểm của mặt Trống Đồng làm bằng đá, biểu hiện Đức Kitô là trọng tâm của Đức Tin Kitô giáo cũng là trọng tâm của nền văn hoá Việt. Cả hai chiều kích văn hoá biểu đạt đức tin và đức tin biểu lộ trong văn hoá đều có trọng tâm là Đức Kitô Giêsu chịu đóng đinh. Đây là lối diễn tả đặc trưng của ngôi Điện Thánh Mẫu, và cũng là nội dung sống đức tin giữa ḷng dân tộc mà Cha Chánh Xứ Dom. Bùi Minh Sơn muốn biểu lộ và thiết tha sống.

Vật liệu trang trí: Đá và gỗ lim.

Công tŕnh đá có từ rất lâu đời trong các nền văn minh cổ, thời đại đồ đồng, các kiến trúc đầu tiên đă ra đời để dâng kính thần linh. Các kiến trúc này được xây dựng bằng đá (thường bằng những thanh đá hoặc những tảng đá lớn) gồm các loại h́nh: cột đá, pḥng đá, lan can đá.

Cột đá được dựng lên dùng để kỷ niệm những người đă khuất có tên gọi là Menhia, tin vào sự sống trường tồn mà tuổi của đá làm biểu hiện.

Pḥng đá, ban đầu thường nhỏ, chiều ngang không quá 2m, chiều cao không quá 1, 5 m, thường được dựng lên trên mộ cổ, cũng đi từ ư niệm linh hồn bất tử để tưởng nhớ người quá văng. Từ thưở xa xưa, con người đă dùng đá để biểu lộ sự bất tử, và có rất nhiều di tích c̣n lại cho ngày hôm nay. Có thể thấy trong kiến trúc cổ những công tŕnh đá vĩ đại như các kim tự tháp tại Ai Cập đánh dấu nền văn minh sông Nil và lưỡng hà địa.

Về mỹ thuật trên đá đă có từ xa xưa khoảng 40.000 năm TCN đă có những tác phẫm hội hoạ, điêu khắc, chạm trổ trên đá. Các tác phẩm trên đá có rất nhiều sứ điệp của người xưa mà ngày nay vẫn c̣n chưa khám phá ra hết ư nghĩa của nó.

Trong văn hoá Việt người ta nhận thấy, công tŕnh đá có mặt rất xa xưa trong các nhà mồ và rất nhiều nơi, như nhà mồ Tây nguyên, lăng tẩm, các vật dụng nhỏ như đồ dùng sinh hoạt.

Đưa mỹ thuật đá ứng dụng trong nội thất Điện Thánh Mẫu dùng đá làm nền, dùng đá làm những tấm b́nh phong điều hoà gió, chắn mưa, dùng đá chạm trổ như trống đồng, bàn thờ, bục giảng, chân bệ hoa nến, các hoa văn chân cột, dùng đá điêu khắc, chạm trổ tượng thờ như tượng Đức Mẹ chạm trổ từ phôi đá 5m chiều dài 2m chiều ngang.

Các công tŕnh tác phẩm nghệ thuật đá do anh Hoàn, người gốc quê Ninh B́nh, là thành viên của Hội Điêu khắc Việt Nam, thực hiện. Công tŕnh đá gồm có nhiều khoản mục, thực hiện trong một thời gian dài gần 10 năm, sẽ tŕnh bày trong mục khác từng chi tiết.

Công tŕnh gỗ do anh Vũ Văn Tạ, anh Vũ văn Vạn, thuộc Họ Trị Sở, Giáo xứ Hoà Lạc, Giáo phận Phát Diệm thực hiện. Do tính chất nghề mộc, chạm trổ trên gỗ gia truyền, cụ Phó Muôn là người đă tham gia vào công tŕnh Nhà Thờ gỗ Phát Diêm, lưu truyền sang đời con cháu là cụ Vũ Văn Cần tham gia vào bảo tŕ công tŕnh gỗ nhà Thờ Phát Diệm, đến đời anh Tạ và anh Vạn th́ trùng tu Nhà thờ Phát Diệm từ năm 1999 đến 2001, mọi hoa văn trang trí trên cột và trên hoạ tiết cửa đều đă nằm sẵn trong trí nhớ và đem vào thực hiện trên gỗ. Những hoạ tiết hoa văn đi theo lối truyền thống gồm ngũ quả: Nho, miến, Phật thủ, Hồng, Cúc. Bộ tứ quư hoặc tứ đại cảnh: bao gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông, ứng với Mai, Trúc, Cúc, Thông.

Những nét chạm trổ trên cột và trên cửa đều rất công phu và tỷ mỷ được thực hiện trên gỗ Lim, là loại gỗ rất quư.

Bộ ghế tràng kỷ do anh B́nh cũng quê gốc Ninh B́nh thực hiện, những chiếc ghế được chạm trổ theo tứ đại cảnh trong 4 ô khung trên mặt tựa của ghế. Đây cũng là một công tŕnh lớn và công phu, chuyển từ Ninh B́nh vào bằng xe tải.

Nh́n chung trong các công tŕnh đá và gỗ đều thực hiện cách công phu và tỷ mỉ, có sức bền với thời gian.

Bốn nguyên tắc cơ bản trong nghệ thuật h́nh khối.

Nghệ thuật h́nh khối bao gồm hội hoạ và điêu khắc. Nghệ thuật điêu khắc chạm trổ mang tính biểu tượng ước lệ, nhằm đạt nội dung hơn h́nh thức, điều cốt yếu chứ không nét phụ trợ, khác với lối tả thực của phương Tây. Nghệ thuật h́nh khối có 4 nguyên tắc chính:

Thượng hạ tương phù:
H́nh thức biểu lộ có trên có dưới, có tiến có lùi, có tầng thấp và cao, có gốc có ngọn, diễn tả có đầu có đuôi. Theo cách này, các nét chạm trổ trên cột trong nội thất Thánh Mẫu Điện, được thực hiện dưới chân cột chạm h́nh núi, từ đất núi mọc lên các loài cây, hoa lá, trái theo chiều dọc theo kích thước cột.

Tả hữu tương ứng:
Trái phải đều có tương ứng với nhau, tránh nhất bên trọng nhất bên khinh, có chiều qua và lại, có tương giao, có thân hữu, có nối kết, tất cả những nét đó biểu lộ tính hài hoà. Trên cửa chính hai cánh vào Thánh Mẫu Điện, người thợ chạm khắc, cánh trái và cánh phải như nhau.

Ph́ sâu tương chế:
Là nguyên tắc dầy mỏng đi với nhau, rộng và hẹp tương xứng, sâu nông hài hoà. Cho nên có thể thấy trên điều khắc giữa bề nổi và bề ch́m thường đan xen với nhau trên những hoạ tiết, chiều rộng và hẹp của hoạ tiết hài hoà. Trong dân gian người ta thường nói: “ở rộng người cười, ở hẹp người chê”, một vừa hai phải, đó là châm ngôn của người biết chừng mực.

Nội ngoại tương quan:
H́nh thức và nội dung đi với nhau, nội tâm và hoạt động diễn tả hài hoà, cảnh vật hoà hợp, thiên nhiên bốn mùa nối tiếp. Ví dụ trên hoạ tiết của bức Phượng Hổ tao ngộ diễn tả nội dung dân gian:

Con Phượng Hoàng bay trên cao nói với Hổ:
Giang sơn thảo mộc nhà ta cả”.

Con Hổ dưới đất nói với con Phượng Hoàng trên cao:
Trời cho ướt cánh khôn bay có ngày

Về ư diễn tả của bức điêu khắc là sống cần có nhau, đừng vội bay cao mà tự tôn khinh khi những kẻ c̣n dưới thấp, dù có cao nhưng cũng chẳng qua khỏi mắt Trời. Kẻ ở thấp cũng đừng mặc cảm, dẫu sao vẫn có Trời soi xét. Hài hoà mà sống đó mới là triết lư sống của người khôn ngoan.

Tính biểu trưng của nghệ thuật h́nh khối:
Phép “Hai góc nh́n”:

Nh́n từ trên xuống và nh́n ngang qua, lối diễn tả đặc trưng nhằm đặc tả nhấn mạnh, để làm nổi bật trọng tâm của đề tài với sự đầy đủ và trọn vẹn của nó, không kể đến tính hợp lư.

Ví dụ, Chim Việt trên trống đồng Đông Sơn, bay trên cao vừa thấy cả thân toàn vẹn từ đầu đến chân theo chiều ngang, vừa thấy hai cánh thăng bằng như từ trên nh́n xuống.

Hoặc như bức chạm gỗ đánh cờ ở Đ́nh Ngọc Canh: Thấy theo chiều ngang hai người chơi cờ và người xem không khuất một ai, nh́n từ trên xuống thấy rơ tư thế ngồi của từng người. Theo nguyên tắc này thợ chạm trổ đă thực hiện trên những hoạ tiết điêu khắc của tác phẩm Phượng Hoàng và Hổ tao ngộ:

Nh́n kỹ hoạ tiết sẽ thấy đôi cánh của con Phượng Hoàng, cũng như con Hổ phía dưới theo góc nh́n ngang, hướng nh́n từ trên xuống, theo góc nh́n của Phượng Hoàng, thấy rơ cả hai tai, bốn chân của con Hổ. Lối tả này bộc lộ rơ quan điểm của lối điêu khắc truyền thống, khi hỏi tại sao làm như thế, những người thợ chỉ biết trả lời, cha ông họ vẫn làm như vậy mà họ là những người tiếp nhận từ truyền thống ấy. Không phải là vấn đề làm theo truyền thống từ lư thuyết nhưng họ khởi đi từ thực hành theo lối truyền thống và khi đem lư thuyết vào và thấy trúng như cách họ được hấp thụ từ nền văn hoá. Có nhiều điều ngạc nhiên nữa khi thấy những người thợ điêu khắc gia truyền thực hiện những ǵ họ đang làm.

Lối nh́n xuyên vật thể: Trên trống Đồng Đông Sơn, h́nh nhà bên ngoài lại tả rơ những người trong nhà, người giă gạo, người th́ vui chơi. Đúng ra theo cách nh́n b́nh thường làm sao có thể nh́n thấy người trong nhà đang làm ǵ v́ nhà nào chẳng có vách ngăn không cho thấy người bên trong. Lối tả này không nhắm tả thực nhưng nhằm làm cho ngôi nhà thêm sinh động bởi có con người trong đó đang sinh hoạt.

Lối nh́n phóng to thu nhỏ: nhằm đặc tả những phần quan trọng của tác phẩm, trong bức tranh “đám cưới chuột”, tác giả muốn miêu tả quyền hành của con mèo, nên phóng đại con mèo lên nhiều lần, trong khi đó nếu so sánh với con ngựa chú chuột đang cưỡi, con mèo lớn hơn con ngựa gấp nhiều lần. Phần phóng to cho biết vị trí và trọng tâm của tác phẩm đó.

Trên ṿm cửa chính, tác phẩm điêu khắc cho thấy cây Huệ được phóng to nhiều lần mọc ngay chính giữa, núi được thu nhỏ, cây huệ lớn hơn núi nh́n sơ qua sẽ không biết là bông ǵ, nh́n rơ hơn là bông huệ hoá. Muốn đặc tả điều ǵ qua lối diễn tả đó, chắc ai cũng đóan được phần nào, Hoa Huệ gắn liền với những đức tính của Thánh Giuse và phẩm hạnh của Đức Mẹ. Là cửa ngơ vào thiên đàng cho những người đi đàng nhân đức.

Phép mô h́nh hoá:

Thường diễn tả theo bộ Tứ linh, ngũ hành, bát vật…Những cách diễn tả này đi liền với quan niệm chữ phúc và đức, lành và dữ, thiện và ác…

Phép liên tưởng: Mỗi con vật trong tứ linh biểu lộ một ước muốn của con người, qua h́nh ảnh của một sự vật làm liên tưởng đến ước mơ khác. Con dơi gần với chữ phúc, người ta mượn h́nh ảnh của con dơi để diễn tả chữ phúc. Trên mâm ngũ quả người ta dùng năm thứ quả đồng âm mà khác nghĩa như: Cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung. Phép liên tưởng dùng rất nhiều trong các dấu chỉ và bất cứ ai cũng dùng tới để thay lời ḿnh nói.

Hoa Văn Trống Đồng.

Trống Đồng là báu vật của tâm hồn Việt được đưa lên ngay chính giữa Thánh Mẫu Điện, chạm khắc trên mặt đá đường kính 10 m.

Trên mặt Trống Đồng đặc biệt nhất là các nét hoa văn vừa dùng để trang trí vừa là biểu lộ một nền văn hoá truyền thống. Trống Đồng làm nên không để đánh nhưng là biểu tượng lễ thiêng cầu mùa của nền văn hoá lúa nước. Môtip trang trí Trống Đồng gồm có: Hoạ tiết h́nh học, h́nh tượng và tượng.

Hoạ tiết H́nh Học là những đường tṛn, đường thẳng, đường dích dắc, đường xiên, chấm, đường lượn sóng. những hoạ tiết h́nh học là những nét trang trí thấy nhiều trong các nền văn hoá, tuỳ theo sự lựa chọn của mỗi dân tộc thích dùng như thế nào.

Trên mặt Trống Đồng truyền thống, người ta thấy phổ biến nhất là hoạ tiết đường tṛn nối tiếp nhau từng cặp bằng đường tiếp tuyến chéo. Hai ṿng tṛn nối tiếp nhau theo cách đó giống h́nh chữ S, nằm ngang hoặc nằm ngửa. các cặp chữ S nằm sấp ngửa, nối tiếp giáp ṿng tṛn. Các hoạ tiết h́nh học này thấy trên mặt Trống Đồng Ngọc Lũ, Trống Hoàng hạ.

Những ṿng tṛn cổ xưa ghi lại từ những quan sát trong thiên nhiên: một trái cây rơi hay một chiếc lá rơi giữa mặt hồ tạo thành sóng ṿng tṛn đồng tâm, một xoáy tṛn của thân gỗ cắt ngang, một mặt trời hằng ngày chiếu sáng…Nghệ nhân là những người đưa những h́nh ảnh ấy vào hoạ tiết để diễn tả một cảm xúc, một h́nh tượng văn hoá.

H́nh Tam giác: Được nối tiếp nhau trên mặt Trống tạo thành dải băng răng cưa. H́nh tam giác một nổi một ch́m đảo ngược đan kẽ nối tiếp nhau giáp ṿng tṛn. Tính nổi ch́m biểu hiện đặc tính Âm – Dương, kết hợp hài hoà. Có người cho rằng h́nh tam giác biểu hiện cho h́nh núi, tính cách hướng thượng của tầm vóc con người.

Băng rẻ quạt chủ yếu là nằm trong khoảng trống giữa hai cánh sao ở trung tâm mặt Trống. Băng rẻ quạt h́nh thành từ chữ V, có khi thấy một h́nh chấm hay quả tim ở góc nhọn chữ V, và v́ thế người ta cũng liên tưởng đến h́nh ảnh của bộ lông con Công đang xoè ra rực rỡ. Những trái tim được phóng lớn trên mặt Trống Tân Hoà được biểu trưng cho muôn tấm ḷng hướng về Đức Kitô, là trung tâm của mọi nền văn hoá và là Trung tâm của lịch sử cứu độ.

Đoạn thẳng song song: Hoạ tiết h́nh học bằng những đoạn thẳng song song tạo nên một ấn tượng nhẹ nhàng thanh thoát nằm ngay đường viền của mặt Trống. Những đoạn thẳng song song nói lên nhiều ư nghĩa của đời sống cộng đồng, cùng hướng về, cùng đồng hành, cùng được quy tụ bởi một trọng tâm…

Gié lúa, gân lá: là một sự kết hợp bởi một đoạn thẳng và hai hàng vạch ngắn song song, chạy xiên th́ tạo thành gân lá, thay những vạch đó bằng những hạt bầu dục th́ ra gié lúa. Gân lá và gié lúa đan xen nhau biểu hiện một mùa màng bội thu, diễn tả hạnh phúc của đời sống khi được đầy phúc lộc của Trời. Đó cũng là biểu hiện ngày lễ hội tạ ơn Trời sau mùa gặt hái. Trên hoa văn trang trí của mặt Trống Tân Hoà th́ biểu hiện hiến lễ tạ ơn Thiên Chúa.

Các H́nh Tượng:

Ngôi sao: Giới khoa học gọi là mặt trời nhằm lư giải về tín ngưỡng thờ thần mặt trời. H́nh tượng ngôi sao nằm ở trung tâm mặt trống, gồm ba phần, tâm, tia, và khoảng cách giữa các tia. Tâm trống h́nh tṛn, từ tâm trống toả ra các tia, theo các loại trống I, III, IV Héger th́ chủ yếu là 12 cánh.

Tuỳ theo cách gọi ngôi sao hay mặt trời mà người ta giải mă các h́nh tượng trên mặt Trống Đồng. Có rất nhiều bộ giải mă Trống Đồng khác nhau nhưng có điểm chung là liên quan đến tín ngưỡng. Có nhiều mẫu mặt trống, Ngôi sao đúc ch́m như mẫu trống Làng vạc I, II và trống Việt Khê. Ngôi sao là một mô tưp âm và chính những chữ V đúc nổi tạo nên dáng ngôi sao, người ta lư giải Trống đúc không phải để đánh mà là một biểu trưng.

Cũng theo cách tương tự, không phải mọi Trống làm nên để đánh mà là một biểu trưng, mặt Trống Đồng tạc bằng đá tại Thánh Mẫu Điện làm để biểu trưng một niềm tin trong nền văn hoá dân tộc.

Đặt chữ JHS vào trung tâm của mặt Trống Đồng, nhằm lư giải không chỉ mặt trống nhưng c̣n là toàn thể công tŕnh kiến trúc. Phía trước bề nổi của Trống Đồng là Thập Giá Tử Nạn của Chúa Giêsu. Là câu trả lời và cùng đích chung cuộc cho mọi nền văn hoá. Như trên đă giới thiệu một nền văn hoá ra khỏi mồ bắt nguồn từ cuộc Tử Nạn và Sống Lại của Chúa Giêsu.

Những cánh sao bao gồm 12 cánh, con số 12 này chỉ nhiều điều: Số chi tộc dân Do Thái được tuyền chọn, Số các Tông Đồ… Là một dân tế tự được mời gọi hiến thánh cho Thiên Chúa, bắt nguồn từ con số 12 để làm cho cả hoàn vũ này trở thành dân Tư Tế, dân được thánh hiến cho Thiên Chúa. Là tiếp nối sứ vụ của các Thánh Tông Đồ làm chứng và rao truyền việc Chúa chịu chết và sống lại cho tới khi Chúa lại đến trong mọi nền văn hoá, đặc biệt trong nền văn hoá Đất Việt nơi cộng đoàn Giáo xứ Tân Hoà được mời gọi làm chứng.

Hoa Bốn Cánh: là h́nh tượng người ta gọi là hoa Chanh, hoa Thị. Trên thực tế không dễ dàng phân biệt được như thế. Bởi v́, bốn cánh tṛn gọi là hoa Chanh, bốn cánh bầu th́ gọi là hoa Thị. Có khi liên kết lại th́ thành h́nh tượng đồng tiền, liên hoàn cắt nhau thành h́nh thấu kính. Loại hoa văn đồng tiền như thế đă phát hiện nhiều vào thời Nhà Trần. Các hoa văn này muốn nói lên sức sống dồi dào của đất cưu mang.

Hoa sen: Hoa sen là h́nh hoa có gương sen, có khi được biểu lộ rơ nét bằng các chấm trong ṿng tṛn như h́nh gương có hạt sen chung quanh có có cánh hoa hoặc h́nh cung tṛn như dạng cánh hoa thông thường. có khi chỉ có h́nh gương sen, giữa là h́nh tṛn nhỏ chung quanh có h́nh cánh sen hay cũng có thể hiểu là h́nh các hạt sen biến dạng. H́nh tượng chung tương đối giống những đầu ngói ống sen gặp trong các kiến trúc thời Lư. Trong triều Lư Phật Giáo gần như là quốc giáo, V́ theo cách hiểu “Đạo của vua là Đạo của dân”, Phật Giáo phát triển mạnh, h́nh tượng hoa sen cũng xuất hiện nhiều trên các nét hoa văn trang trí.

Trống Đồng tại Thánh Mẫu Điện, thay cánh hoa sen bằng những cành bông Huệ, cũng cùng một ư nghĩa nhưng quen thuộc với người Công Giáo, biểu hiện đặc tính trong sạch như cánh hoa sen, “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

H́nh Đồng Tiền: đó là h́nh tṛn ở giữa có lỗ vuông, thường trang trí riêng rẽ. H́nh đồng tiền dính vào mỏ chim bay trên trống Thôn Mống (loại I Héger). Gần với hoa Chanh, liên hoàn, loại hoa văn này thấy nhiều trên trống đồng II Héger, như đă thấy tâm không là h́nh vuông th́ không phải là hoa văn đồng tiền.

H́nh chim Việt: hai dạng đang bay và đậu.

H́nh chim đang bay có khác nhau về mỏ và cánh. loại mỏ quắm và ngắn như mỏ ẹet (Trống Đồng Ngọc Lũ I, Hoàng Hạ) hoặc mỏ nhọn như mỏ Bồ Câu hay Gà (Trống Châu Nga loại II Héger). H́nh cánh chim có 3 dạng cơ bản:

Xoè cánh ngang thành đường thẳng, vát váo thành hai đường xiên, kéo dài gặp nhau th́ thành h́nh tam giác (Đông Sơn loại I, và Hoàng Hạ).

Dạng cánh chim gồm hai phần rơ ràng xoè ngang và xụp xiên xuống như cánh chim thật. Dạng này phổ biến và là dạng chim mỏ dài cánh hai đoạn, đuôi dài, chân dài mà người ta nhận dạng này xác đáng là dạng c̣ bay.

Dạng thứ ba hoàn toàn nh́n chim bay theo chiều nghiêng. Đó là chim mỏ ngắn trên trống loại II và IV Héger.

H́nh chim đứng: Khác nhau ở tư thế và mỏ. Có hai loại cổ dài và cổ ngắn. Theo chiều nh́n nghiêng, cánh xếp vào thân nên không thể hiện thành nét, thân h́nh quả trứng, chân chỉ là hai đoạn thẳng sơ sài không vẽ bàn chân.các con chim mỏ nhọn thường cúi xuống dưới đất.

Nho và lúa miến tượng trưng cho Hy lễ của nhân loại dâng lên Thiên Chúa, Nho Miến là thành quả của công lao con người dưới thế, với nỗ lực vun trồng làm cho trần thế này tràn ngập ân cứu độ của Thiên Chúa. Đây là những hoa văn trang trí thêm vào để diễn tả niềm cảm mến tri ân.

Tượng: Trên các trống Đồng người ta thấy tượng không nhiều lắm, thường thấy nhất là tượng cóc, có lẽ là ảnh hưởng Phật Giáo, và dân gian gọi con cóc là: “Cậu ông Trời”. Tượng cóc, có loại 1 con hoặc hai con cơng nhau, thường th́ có 4 con, hoạ hiếm cũng có khi thấy 3 con. Ngoài tượng cóc c̣n thấy tượng voi, xuất hiện trong văn hoá Đông Sơn trên chuôi dao găm Làng Vạc, trên Trống Đồng Đông Sơn th́ không có, chỉ đến trống loại II Héger th́ mới thấy.

Thay thế tượng trên Trống Đồng bằng tượng chịu nạn của Chúa Giêsu treo từ bên ngoài trước tâm Trống là một nét mới giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ Duy Nhất cho mọi nền văn hoá.

Giải mă bố cục mặt trống người ta thấy: Ba miền khác nhau; Vùng bầu trời ở chính giữa, vùng đất con người sinh sống và vùng đất thiên nhiên bao quanh con người.

Đặt Mặt Trời vào tâm Trống là điểm quy tụ và sinh nguyên mọi loài. Chung quanh của mặt trời những ṿng tṛn đồng tâm, diễn tả lễ hội của thiên nhiên ưu đăi, con người hạnh phúc, ngoài cùng đàn chim Việt đang bay hoặc đang đứng, nói đến một thời gian của đường dài lữ hành. Người Việt tin rằng chết không phải là hết nhưng là nối một linh thiêng khác vào đời.

Đặt Đức Kitô vào tâm ṿng tṛn là mở lối cho lịch sử của nhân loại một hướng đi rơ rệt. Như đă thấy, từ nơi Người tạo nên những sóng ṿng tṛn đồng quy, và cũng từ những ṿng tṛn đồng quy hướng về Người, như khởi điểm và là đích điểm của lịch sử thời gian và siêu thời gian.

Chú giải Câu Đối và Hoành Phi.

Trước khi bước vào Thánh Mẫu Điện, trên hai hàng cột ta có thể thấy hai hàng chữ:

Tiến đường tế vọng từ thân tượng.
Phủ thủ kiền tư thánh tâm nhân
.”
Dịch nghĩa:
Vào Thánh Đường chiêm ngưỡng Mẹ nhân từ.
Cúi đầu lặng suy trái tim Mẹ từ bi
”.

Thánh Đường đặc biệt dâng kính Mẹ Maria, nên dùng những lời tốt đẹp nhất để diễn tả ḷng của những người con tri ân t́nh Mẹ thương bao la. Bởi đó, bên tượng Mẹ Maria, có thêm hàng chữ:

“Đức như nhật nguyệt chiếu hoàn vũ.
Ân tự sơn hà nhuận thế nhân
”.
Dịch nghĩa:
Đức độ sáng tỏ như mặt trời, mặt trăng chiếu toả khắp cùng thế giới. Ân t́nh cao sâu tựa núi sông thắm đượm ḷng thế nhân.

Trong văn hoá Đạo Mẫu người ta luôn quan niệm: “Mẫu hiền di đức”. Chính người Mẹ làm nên những đức hạnh trao di sản cho con cháu. Mẹ Maria là người Mẹ tuyệt diệu của thế nhân, đă để lại cho đoàn con ân và đức của Mẹ làm di sản quư giá tô thắm trần gian. Phải chăng Hàn Mặc Tử đă không diễn tả hết chiều sâu này khi dùng bút xuất thần ca ngợi Mẹ chí Thánh, ngay cả trong những lúc đau thương của cuộc sống: vẫn là “chưa bưa, chưa đă, chưa nguôi được chí trăng sao”, “Lút trí khôn và ám ảnh hương ḷng”. Văn hoá gia đ́nh là do những người cha và người mẹ tạo nên và vun đắp. Với người phụ nữ, Đức Maria là mẫu gương của đời sống âm thầm phục vụ và cầu nguyện. Người phụ nữ Việt Nam, xưa kia và nay cũng thế, làm điều ǵ cũng nhằm để phúc cho con cháu. Điều này dường như là tự nhiên bởi v́ nó đă ăn sâu vào trong tâm hồn Việt đến nỗi khi nói đến nghệ thuật làm mẹ là người ta nói đến việc tích đức ấy cho con cháu.

Một bên là mẹ, một bên là cha, đại diện cho các bà Mẹ là Đức Maria, đại diện cho những người cha là Thánh Giuse. Thường người ta nói vai tṛ của người cha trong gia đ́nh nhạt nhoà hơn người mẹ. Thật ra không phải thế, khi khảo cứu tính cách của trẻ em được định h́nh ngừơi ta nhận thấy, một t́nh huống xảy ra, tuỳ theo có mẹ hay cha ở bên cạnh, đứa trẻ sẽ tuỳ theo mà phản ứng. Nếu mẹ đứng ở đó trẻ sẽ khóc, nhưng nếu có cha ở đó đứa trẻ lại tỏ ra can đảm không thèm khóc. Cũng vậy, cách giáo dục con trẻ của người cha th́ khác với mẹ, khi con trẻ tập đi th́ mẹ dẫn từngbước, người cha th́ vừa giữ vừa buông, khi con trẻ loay hoay chưa biết chơi, người mẹ chỉ tận t́nh, người cha nh́n xem con trẻ làm thế nào đă rồi hướng dẫn từ xa…Nói chung thiếu người cha cương nghị trong gia đ́nh, con trẻ lớn lên, ít tự tin, ít dám đương đầu với khó khăn, trẻ sẽ gặp nhiều trở ngại hơn. Những nghiên cứu ấy cho thấy rằng vai tṛ giáo dục của người cha trong gia đ́nh rất quan trọng. Người cha nhiều gương xấu sẽ rất nguy hiểm cho con trẻ, chúng nhận được nơi người cha tính cọc cằn, sự thô lỗ, tính rượu chè… Cần có một mẫu gương để nhắc nhở vai tṛ người cha, mẫu gương ấy không ai khác chính là Thánh Giuse.

Hai hàng cột phía trong ca ngợi công tŕnh yêu thương của Thiên Chúa, trích trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan: “Xin kính dâng Thiên Chúa chúng ta lời chúc tụng và vinh quang, sự khôn ngoan và lời tạ ơn, danh dự, uy quyền và sức mạnh, đến muôn thuở muôn đời!”

Hai câu đối: “Toàn năng trí dũng tôn uy qui ngă chủ, thiên thu bất hư. Tán tụng quang vinh xưng tạ ư Thiên phụ, vạn cổ thường tân”.
Dịch nghĩa: Lạy Chúa của con, Chúa là Đấng Toàn Năng, Toàn Trí, Toàn Dũng, Cao cả, Uy Nghi, ngàn năm bất diệt. Con ngợi khen, nguyện Danh Cha cả sang, tuyên xưng, cảm tạ Chúa Cha trên trời, muôn đời măi măi như (mới) hôm nay.

Biến cuộc sống thành lời Tạ Ơn Thiên Chúa là hành vi cao nhất của việc Tế Tự, và cũng là hành vi làm sáng Danh Cha hơn tất cả trong hành tŕnh dưới thế.

Câu Hoành Phi:
Triệu Tạo càn Khôn”.
Dịch nghĩa: Thiên Chúa Là T́nh Yêu sáng tạo nên mọi loài.

Theo vị trí sắp đặt, chúng ta thấy diễn tiến từ sáng tạo đến cứu độ, theo chiều từ trên xuống, đó là lịch sử theo thời gian; c̣n đối với người xem, nh́n theo chiều hướng cảm nghiệm đến nhận thức, từ cứu độ đến sáng tạo. Cảm nhận gần, trực diện, đi từ nhận thức Thiên Chúa Là Đấng Cứu Độ, để đi đến một nhận thức xa hơn, Thiên Chúa Cứu Độ cũng là Thiên Chúa T́nh yêu sáng tạo. Như vậy, cũng gợi ư lên con đường tu đức của Đông Phương trong sách Trung Dung, Tử Tư viết:

Quân tử chi đạo, thí như hành viễn,
tất tự nhĩ, thí như đăng cao, tất tự ty

(Tử Tư, Trung Dung)

Đời sống nội tâm của con người,
giống như đi xa, phải từ chỗ gần,
giống như lên cao, đi từ chỗ thấp.


Có thể nói, đó là bản tóm kết bố cục của Ngôi Thánh Mẫu Điện. Đi từ nội dung tŕnh bày Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi như Gia đ́nh, đến việc thực hành làm cho Giáo Xứ là một cộng đồng gia đ́nh được tham dự vào Gia Đ́nh Thiên Chúa.

 

Tân Ḥa

* Nguồn : Trang Web Tổng Giáo Phận Sài G̣n

 


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Tân Ḥa

 

 

 

 

 

 

Bổ sung thông tin về Giáo xứ     xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com