Giáo Phận Thanh Hóa

 

Ṭa Giám Mục Giáo Phận Thanh Hóa


Địa chỉ : 50 Nguyễn Trường Tộ, Thị Xă Thanh Hóa, Tỉnh Thanh Hóa ( Bản đồ)

Tel         : 037.3853.138

 

E-mail    : gpthanhhoa@gmail.com

 

Web site : http://gpthanhhoa.org/

 
   
Năm thành lập :1932 Diện tích    : 11,168 km2
Số Giáo dân    : 144,827 Số Linh mục : 113
Số Giáo hạt     : 7 Số Giáo xứ : 70
   

Tư liệu :  Lược sử - H́nh ảnh
                Danh sách Giáo xứ Giáo phận Thanh Hóa
                Danh sách Linh mục Giáo phận Thanh Hóa
                Album h́nh ảnh GP Thanh Hóa

-  Tin tức sinh hoạt

* Giáo phận Thanh Hóa mừng lễ Thánh quan thầy Giuse (18/3/2016)

 

Đôi nét lịch sử giáo phận Thanh Hóa

< Nguồn : Website GP Thanh Hóa >

GIÁO PHẬN THANH HÓA TRONG D̉NG LỊCH SỬ GIÁO HỘI VIỆT NAM

1. Giai đoạn năm 1659 - 1932

Ngày 9-9-1659, sau hơn một thế kỷ “hạt giống Tin Mừng” được các nhà truyền giáo Ḍng Đa Minh, Ḍng Tên gieo văi trên quê hương đất Việt (1533-1659), sự lớn mạnh của Giáo hội Việt Nam được đánh dấu bằng việc Đức Thánh Cha Alexandre VII công bố sắc lệnh “Super Cathedram Principis” thành lập hai giáo phận Tông ṭa: Giáo phận Đàng Ngoài (Phía Bắc Sông Gianh) với con số tín hữu khoảng 80.000 người, trao cho Đức tân Giám Mục Francois Pallu coi sóc và giáo phận Đàng Trong (Phía Nam Sông Gianh) với số giáo dân khoảng 20.000 người trao cho Đức tân Giám Mục Pierre Lambert de La Motte cai quản.

Sau 20 năm thành lập (1679), Địa phận Đàng ngoài được chia thành hai giáo phận: Tây Đàng Ngoài trao cho Đức Cha Jacques de Bourges coi sóc và Đông Đàng Ngoài trao cho Đức Cha Francois Deydier coi sóc. Thanh Hóa trực thuộc Địa phận Tây Đàng Ngoài.

Năm 1846 Ṭa Thánh chia Địa phận Tây Đàng Ngoài thành hai Địa Phận: Nam Đàng Ngoài, tức địa phận Vinh và Tây Đàng Ngoài. Thanh Hóa nằm trong vùng đất của Địa Phận Tây Đàng Ngoài.

Ngày 2-4-1901. Đức Thánh Cha Leo XIII ban sắc lệnh thiết lập Địa Phận Thanh cũng được gọi là Địa Phận Bắc Kỳ Duyên Hải (Tonkin Maritime), gồm tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Ninh B́nh – Phát Diệm và huyện Lạc Thủy của tỉnh Phước Lâm (Ḥa B́nh ngày nay). Vị Giám Mục tiên khởi là Đức Cha Alexandre Marcou Thành, với 24 Thừa Sai, 48 Linh Mục Việt Nam, 18 Đại Chủng Sinh, 112 Thầy Giảng, 145 Tiểu Chủng Sinh, 3 nhà Ḍng Mến Thánh Giá và 80.000 Giáo dân trong 27 giáo xứ : 15 tại Ninh B́nh, 7 tại Thanh Hóa và 5 tại Châu Lào.

Ngày 8-02-1902: Đức Cha Marcou Thành chính thức nhận giáo phận Thanh, đặt Toà Giám Mục tại Phát Diệm.

2. Giai đoạn từ năm 1932 đến nay

Ngày 26-4-1932: Nghị định của Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin về việc tách riêng Phát Diệm và Giáo phận Thanh Hóa được sự chấp thuận của Đức Thánh Cha Pio XI.

Ngày 7-5-1932 Sắc chỉ thành lập Giáo phận Thanh Hóa được ban hành. Theo Sắc chỉ thiết lập, Giáo phận Thanh Hóa gồm 2 tỉnh: Thanh Hóa ở đất Việt và Sầm Nưa ở đất Lào với diện tích khoảng 21.000km2, dân số khoảng 1.500.000 người, trong đó có 44.000 người công giáo bao gồm cả 7.000 người thuộc các dân tộc thiểu số. Lúc ấy nếu không tính 5 xứ thuộc Châu Lào, giáo phận chỉ có 18 giáo xứ, với 16 Thừa Sai, 48 Linh mục Việt Nam, 82 Thầy Kẻ Giảng, một kư túc xá của Ḍng Đức Bà Truyền Giáo, một Tu viện Ḍng Kín Camêlô.

Ngày 21-6-1932, Ṭa Thánh bổ nhiệm Đức Cha Louis de Cooman Hành, Giám mục phó Phát Diệm về làm Giám Mục Thanh hóa. Ngay từ những ngày đầu về nhận Giáo phận, Đức Cha Louis de Cooman Hành đă bắt tay vào việc xây dựng giáo phận mới trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế (khủng hoảng kinh tế thế giới) và Chính trị (Chiến tranh thế giới thứ II). Trong kiên tŕ và thinh lặng, Người đă đào tạo được một hàng ngũ giáo sĩ đông đảo, đức độ, có khả năng và nhiệt huyết. Ngài xây dựng Ṭa Giám Mục, Nhà Chung, Trường Thử, Tiểu Chủng Viện, trường các Thầy Kẻ Giảng. Ḍng Mến Thánh giá được Người chăm sóc cách đặc biệt. Hầu hết các giáo xứ đều có đời sống tương đối ổn định và đạo hạnh. Những thành quả ấy đă trở thành nền tảng giúp mọi người kiên định niềm tin trước mọi thách đố của thời cuộc.

Sau hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, t́nh h́nh chính trị Việt Nam thay đổi, ngày 24 – 3 – 1954, Đức Cha Louis de Cooman Hành phải từ giă giáo phận về Pháp, ngài qua đời năm 1970 tại Lavais, Avignon, Pháp. Nhiều linh mục và tu sĩ đă đi vào Miền Nam với chừng 18.500 giáo dân. Số c̣n ở lại Thanh hóa: 27 Linh mục, 15 đại Chủng sinh, 70 tiểu Chủng sinh, 50 nữ tu ḍng Mến Thánh Giá và khoảng 47.000 giáo dân. Cha Phêrô Phạm Tần được đặt làm Tổng quản Địa phận.

Ngày 17-3-1959, Ṭa Thánh đặt cha Phêrô Phạm Tần làm Giám mục, hiệu Ṭa Giustiniapoli, Đại Diện Tông Ṭa coi sóc Giáo phận Thanh Hóa.

Ngày 24-11-1960, Ṭa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam và chia Giáo hội Việt Nam thành 3 giáo tỉnh: Hà Nội, Huế và Sài G̣n. Đây là một trong những thời điểm quan trọng nhất để khẳng định sự lớn mạnh và trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam:

Cũng trong ngày 24-11-1960, Đức Cha Phêrô Phạm Tần được chính thức đặt làm Giám Mục Chính Ṭa Địa phận. Nhưng do hoàn cảnh lịch sử, măi đến ngày 22-6-1975, tức là sau hơn 15 năm, Ngài mới được tấn phong Giám Mục. Ư chí dũng cảm sẵn sàng xả thân của Ngài đă làm cho Giáo phận kiên vững trong giai đoạn khó khăn nhất của lịch sử. Ngày 1-2-1990 Người được Chúa gọi về và được an táng trong cung thánh Nhà thờ Chính toà Thanh Hóa. Thời Đức Cha Tần có cha Chính Diệm (1957-1979) và cha Chính Antôn Trần Lộc (1980-1990).

Ṭa Thánh đặt Đức Hồng Y Giuse MariaTrịnh Văn Căn - Tổng giám mục giáo phận Hà nội, làm Giám quản Thanh hóa. Nhưng chưa được mấy tháng, người đă đột ngột qua đời ngày 18-5-1990.

Cha Antôn Trần Lộc được đặt thay thế. Trong 4 năm trời và mặc dù bệnh tật, Người đă hết ḿnh phục vụ Giáo phận, cho đến khi Đức Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm được Ṭa Thánh bổ nhiệm từ Đà Lạt về Thanh Hóa. Cha Antôn Trần Lộc đă qua đời ngày 16-8-1995 và an táng tại đất thánh Chúa Kitô Vua trong khuôn viên Ṭa Giám Mục.

Đức Cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm : Được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo phận Thanh Hóa ngày 23 tháng 03 năm 1994. Nhận Giáo Phận Thanh Hóa ngày 24 tháng 06 năm 1994. Được Chúa gọi về lúc 0 giờ 15 phút, ngày 09 tháng 06 năm 2003. Hưởng thọ 74 tuổi ; 18 năm linh mục, 28 năm Giám mục (19 năm làm Giám mục Đà Lạt, 9 năm Giám mục Thanh Hoá). Trong thời gian giữ cương vị chủ chăn tại Thanh Hóa, Ngài đă có tinh thần hy sinh, yêu mến Giáo phận một cách đặc biệt : Ngài lo xây dựng cơ sở vật chất từ Ṭa giám mục, nhà Ḍng Mến Thánh Giá cho đến nhà thờ các giáo xứ và các giáo họ; lo xây dựng đời sống tinh thần, đời sống đạo đức và đời sống vật chất cho giáo dân trong Giáo phận. Mặc dù vào những năm cuối đời, tuổi già sức yếu, bệnh tật hoành hành, nhưng ngài vẫn lo chu toàn bổn phận của một vị mục tử nhân hiền. Thi hài của ngài được an táng tại Nhà Thờ Chính Ṭa Thanh Hóa, ngày 13 tháng 06 năm 2003.

Đức Ông Gioan Baotixita Lưu Văn Khuất : Sau khi Đức cha Batôlômêô Nguyễn Sơn Lâm qua đời, Ṭa thánh đă bổ nhiệm Đức ông Gioan Baotixita Lưu Văn Khuất làm Giám quản Giáo phận Thanh Hóa. Mặc dù tuổi cao sức yếu, nhưng Đức ông đă làm việc hết ḿnh cho Giáo phận. Đến ngày 27-10-2003, Đức ông đă được Chúa gọi về, hưởng thọ 82 tuổi và an táng tại đất thánh Chúa Kitô Vua trong khuôn viên Ṭa Giám Mục.

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt : Sau sự ra đi của Đức ông Giám quản Giáo phận J.B Lưu Văn Khuất. Ngày 28-10-2003, Toà Thánh đă đặt Đức cha Giuse Ngô Quang Kiệt, Giám mục Giáo phận Lạng Sơn, Giám quản Giáo phận Hà Nội, làm Giám quản Giáo phận Thanh Hóa. Mặc dù bận rất nhiều công việc, đường xá xa xôi, nhưng Đức Cha đă hy sinh tất cả để về tham dự tĩnh tâm hàng tháng với linh mục đoàn Giáo phận. Ngài làm Giám quản cho đến khi Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh về nhận Giáo phận ngày 04-08-2004.

Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh : Vị Giám mục thứ tư của Giáo phận Thanh Hóa là một người con của Ba Làng, của Cửa Bạng lịch sử. Được Ṭa Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Chính Ṭa Thanh Hóa ngày 12-06-2004, Ngài đă chọn khẩu hiệu “Xin Cho Họ Nên Một” để dẫn dắt giáo phận quê nhà bước vào ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ ba với nhiều thách đố.

 

...................................

 

Lược Sử Giáo Phận Thanh Hóa

 

Nguồn : Vietnamese Missionaries in Asia 

 

A. Lược Sử Giáo Phận Thanh Hóa

Giáo Phận Thanh Hóa tuy mới thành lập (7-5-1932), so với một số giáo phận trong giáo tỉnh Hà Nội, nhưng đă đóng góp những sự kiện quan trọng vào trang sử đầu của Giáo Hội Việt Nam và đây cũng là những nét chính yếu h́nh thành nên giáo phận Thanh Hóa.

Theo quyển "Đỗ tộc gia phả" t́m thấy ở họ Bồng Trung, xứ Kẻ Bền: ông Đỗ Hưng Viễn, người con thứ hai của cụ Đỗ Biểu, một vị quan lớn của triều đ́nh thời Lê Anh Tông (1556-1573), đă tiếp xúc với tàu buôn, người Hoa Lang, và theo đạo Hoa Lang. Cũng theo quyển gia phả này, ông Đỗ Viên Măn (là con trưởng của cụ Đỗ Cảnh) đă theo đạo Hoa Lang khi có dịp tiếp xúc với người ngoại quốc cập bến Cửa Bạng (Ba Làng). Như vậy, có thể nói hai ông Đỗ Hưng Viễn và Đỗ Viên Măn là những tín hữu đầu tiên theo đạo Công giáo không chỉ ở Thanh Hóa mà c̣n trong cả nước Việt Nam.

Khoảng năm 1590, giáo sĩ Pedro Ordonez de Cevallos (Tây Ban Nha) trên đường sang Nhật, tàu gặp băo, dạt vào cửa Lạch Trường (Thanh Hóa), ông đến An Trường, kinh đô của nhà Lê và đă rửa tội cho chị của vua Lê Thế Tông và khoảng 100 người khác.

Ngày 19-3-1627, giáo sĩ P. Marques và Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) đặt chân đến Cửa Bạng (xă Hải Thanh, Thanh Hóa) vào ngày lễ kính Thánh Giuse, đă chính thức mở đầu cho cuộc truyền bá Tin Mừng ở Việt Nam.

Tháng 4-1627, tại Thanh Hóa đă có hai nhà thờ An VựcVân No. Đây là những ngôi nhà thờ đầu tiên tại giáo đoàn miền Bắc.

Từ năm 1659, thành lập giáo phận Đàng Ngoài, đến giáo phận Tây Đàng Ngoài (1679), giáo phận Tây (1846), giáo phận Đoài (1895), giáo phận Thanh (1901), sau là giáo phận Phát Diệm (1924), vùng đất Thanh Hóa đă có nhiều cơ sở và giáo xứ đông người do các cha ḍng Tên và Hội Thừa Sai Paris phục vụ.

Suốt thời kỳ h́nh thành và phát triển giáo phận Đàng Ngoài, và đặc biệt tại Thanh Hóa, các thừa sai, linh mục, tu sĩ và giáo dân sống trên mảnh đất này đă dùng chính sự sống cùng xương máu để làm chứng cho Tin Mừng Đức Kitô, nổi bật như Thánh nữ Anê Lê Thị Thành, cha Thánh Giacôbê Đỗ Mai Năm (1781-1838), cha Thánh Phaolô Nguyễn Ngân (1790-1840), cha Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh (1793-1857), cha Thánh Gioan Đạt (1765-1798).

Ngày 7-5-1932, Ṭa Thánh kư sắc thành lập giáo phận Thanh Hóa và cử Đức cha Louis de Cooman Hành, giám mục phó Phát Diệm, làm giám mục tiên khởi giáo phận mới. Ngày 12-9-1932, Đức cha đến nhận giáo phận. Năm 1932, giáo phận Thanh Hóa có 26 linh mục thừa sai, 48 linh mục Việt Nam, 82 thầy giảng, 18 giáo xứ với chừng 45,000 giáo dân người Việt và 5,000 người dân tộc, trên tổng số dân khoảng 1,500,000 người. Giáo phận đă có nhà thờ chính ṭa, nhà chung (ṭa giám mục), một trường tiểu chủng viện xây năm 1918, tại Hữu Lễ, đào tạo linh mục cho Châu Lào; một trường tập ở Ba Làng để trở thành tiểu chủng viện và 4 ḍng tu: ḍng Kín, ḍng Mến Thánh Giá, ḍng Đức Bà Truyền Giáo và ḍng Phanxicô. Ngoài ra, giáo phận mới cũng đă có một trại phong, một nhà thương và một nhà dục anh. Sau này có thêm trường trung học Nhà Chung trước khi có cơ sở mới lấy tên Trương Vĩnh Kư.

Ngày 17-3-1959, cha Tổng quản Phêrô Phạm Tần nhận sắc phong giám mục, hiệu ṭa Giustiniapoli, giám quản tông ṭa Thanh Hóa. Ngày 24-11-1960, ngài nhận được sắc phong chính ṭa Thanh Hóa, nhưng măi đến ngày 26-6-1975 mới được tấn phong giám mục. Ngài qua đời ngày 1-2-1990. Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn được Ṭa Thánh chỉ định làm giám quản tông ṭa cho đến khi ngài qua đời ngày 18-5-1990. Từ năm 1990-1994, giáo phận trống ṭa cho đến khi Đức cha Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm được thuyên chuyển từ Đà Lạt về Thanh Hóa và nhận giáo phận ngày 24-6-1994 cho đến 9-6-2003 ngài từ trần. Đức ông G.B. Lưu Văn Khuất được cử làm giám quản tông ṭa giáo phận. Ngày 27-10-2003, Đức ông G.B. Khuất qua đời.

Ngày 12-6-2004, Đức ThánhCha Gioan Phaolô II bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Chí Linh làm giám mục giáo phận Thanh Hóa.

B. Địa Lư và Dân Số

Ranh giới: Giáo phận Thanh Hóa nằm gọn trong tỉnh Thanh Hóa. Đông Bắc giáp Ninh B́nh (Gp. Phát Diệm). Tây Bắc giáp Sơn La và Ḥa B́nh (GP. Hà Nội). Phía Tây giáp Lào. Phía Nam giáp Nghệ An (GP. Vinh). Đông giáp Biển Đông.

Tỉnh lỵ hiện nay là thành phố Thanh Hóa, nằm nghiêng về phía Đông, cách Biển Đông khoảng 20km, và trên quốc lộ 1A, có xe lửa thông qua. Ṭa giám mục và Nhà thờ Chính ṭa tọa lạc ngay trong thành phố, sát quốc lộ và xa cách các giáo xứ về hướng Bắc, Tây, Nam gần bằng nhau, trên dưới 50km. C̣n về phía Đông giáp biển khoảng 30km. Như vậy, đi theo quốc lộ 1A, Ṭa giám mục Thanh Hóa cách Ṭa giám mục Hà Nội khoảng 150km và các Ṭa giám mục Vinh khoảng 130km, c̣n đến Ṭa giám mục Phát Diệm chỉ có 50km. Ngoài một thành phố, tỉnh Thanh Hóa c̣n có hai thị xă Bỉm Sơn và Sầm Sơn, với 24 huyện.

Dân số (tính đến ngày 31-12-2002): Dân số chung 3,467,609 người; nam: 1,694,498 người; nữ: 1,773,111 người; sống ở thành thị: 318,380 người; sống ở nông thôn: 3,149,229 người. Dân số Công giáo: 125,697 người.

Hầu hết dân chúng sống bằng nghề nông, c̣n những dân ven biển sống bằng nghề đánh cá và làm nước mắm.

Sông núi: Thanh Hóa có hai con sông lớn: Sông Mă dài 512km, bắt nguồn từ Lai Châu chảy qua tỉnh Thanh Hóa đổ ra cửa Lạch Sung, Lạch Trường và cửa Hới. Sông Chu dài 300km, chảy từ Lào vào tỉnh. Ngoài ra c̣n có khoảng 20 sông rạch lớn.

Sắc tộc: Ngoài người Kinh, có trên 20 sắc dân, đông nhất là người Dao, Tày, Thái và Mường. Dân tộc Mường ở khắp vùng thượng du. Dân tộc Thái và Tày Trắng ở bờ sông mă, dân tộc Dao ở núi cao.

C. Một số đặc sắc của Giáo Phận

- Di tích lịch sử:

Cửa Bạng: nơi cha Marques và Đắc Lộ đặt chân lần đầu tiên vào ngày 19-3-1627, mở đầu công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài. Nay là giáo xứ Ba Làng, thuộc xă Hải Thanh, huyện Tĩnh Gia, cách thị xă Thanh Hóa 45km về phía Nam.

- Nhân vật lịch sử:

Công Chúa Mai Hoa (Maira Flora) được giáo sĩ Pedro Ordonez de Cevallos, người Tây Ban Nha, rửa tội vào năm 1590. Cô là chị của vua Lê Thế Tông, đă giữ vai tṛ nhiếp chính khi vua lên ngôi lúc 7 tuổi. Cô tên thật là Chiêm, rất đức độ và có ḷng bác ái. Cha Ordonez đặt tên thánh cho công chúa là Maria Flora. Cô đă thiết lập tại Vạn Lai Sách (nay là xă Phúc Lập, bên bờ sông Chu) một nữ tu viện Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội mà công chúa làm bề trên cho đến chết. Nhờ ảnh hưởng tốt lành của cô, khoảng 100 người trong hoàng tộc và phi tần cung nữ đă theo đạo. Ở khu đất cố đô An Trường này vẫn c̣n có Giếng Gia Tô, Xóm Gia Tô và một chỗ gọi là Nền Thờ, có lẽ để nhớ ơn công chúa (x. Lịch sử và du hành thế giới, 1628, của cha Ordonez de Cevallos; Lê Triều Thượng cổ truyền giáo, tr. 11; và Lịch sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, tr. 113-115. Đại Việt Thiện Bản).

 

(dựa theo Niêm Giám 2005 của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam)

 

Nguồn : http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/vnchurch/lsthanhhoa.htm

 

 


 

[Trở về đầu trang ]