|

Lược
sử Giáo xứ Lộc Thủy
Nguồn :
http://quehuonglocthuy.jimdo.com/
Vị trí địa lư cách cầu Nga Quốc Lộ 1A, khoảng 1, 5 km về phía
Đông nằm bên bờ con sông Vọc Sim thuộc địa bàn xă Thạch Long-Huyện
Thạch Hà-Hà Tĩnh là Giáo Xứ Lộc Thủy.
Ngôi Thánh Đường vừa mới tái thiết nổi bật giữa một vùng quê yên
tĩnh . Bao bọc xung quanh ngôi Thánh Đường là xóm làng trù phú của
hơn 520 hộ giáo dân, với những dăy nhà cao thấp nằm thấp thoáng bên
con sông Vọc Sim hiền ḥa thân thương.
Dẫu cuộc sống vẫn chưa hết khó khăn, nhưng mọi người trong giáo
xứ vẫn một ḷng gắn bó với mảnh đất mà cha ông đă dày công xây dựng.
Qua bao nhiêu biến đổi thăng trầm của thời gian và lịch sử, lớp
già ngă xuống lớp trẻ đứng lên, đến nay giáo xứ đă có 5032 giáo dân
với 1230 hộ gia đ́nh ( năm 2009 ).
Người dân hiền lành, chất phác, quanh năm vất vả với công việc
chài lưới và ruộng đồng. Với bao công việc bề bộn nhưng nhờ ơn chúa
thương cộng đoàn giáo xứ vẫn một ḷng đoàn kết bên nhau, ngày một
biến đổi về đời sống đức tin và xă hội.
Tâm điểm của giáo xứ là ngôi thánh đường, một minh chứng sống
động .Về đời sống đức tin của người dân nơi đây hơn hai thế kỷ được
đón nhận ơn cứu độ.
Ngôi thánh đường mới là một thành quả sau 5 năm miệt mài xây
dựng.Được kết tinh từ bao công sức mồ hôi của bà con giáo xứ cùng
với ân nghĩa sâu nặng của những tập thể và cá nhân gần xa, đă bằng
tinh thần cũng như vật chất, đă góp công, góp sức xây dựng nhà Chúa.
Ngôi thánh đường của giáo xứ Lộc Thủy mang đậm nét kiến trúc của
Châu Âu, nhưng vẫn giữ được những nét riêng của văn hóa Á Đông..
Giữa là ngọn đôm cao 36m nâng tượng chúa Giê-Su làm Vua với hai
cánh tay dăng ra nâng đỡ đời sống đức tin của giáo dân qua các thời
kỳ. Với tháp chuông cao 51, 7m nâng h́nh Thánh Giá nổi bật giữa nền
trời xanh biếc.Bức tượng Đức Mẹ Mân Côi quan thầy của giáo xứ được
đặt trên cửa chính của ngôi thánh đường , với ư nghĩa sẻ luôn được
sự đồng hành và che chở của Mẹ, để giáo xứ luôn được an lành về phần
hồn lẫn phần xác.
Chiều dài của thánh đường là 52m, chiều rộng 20m và cánh gà thánh
giá là 27, 5m. Nh́n trên không trung xuống th́ ngôi thánh đường của
giáo xứ giống như h́nh thập tự la tinh.
Nh́n ngắm ngôi thánh đường uy nghiêm và lộng lẫy hôm nay ít ai
ngờ rằng nơi vùng đất này cách đây khoảng 200 năm về trước là một
cái “cồn”trống nằm bên bờ sông Vọc Sim chưa hề có dấu chân người.Đến
năm 1814 th́ có một vài gia đ́nh ở giáo xứ Trại Lê làm nghề đăng ṇ
tới đây làm ăn. Sau một thời gian, thấy đây là một vùng đất thuận
tiện cho việc sinh sống nên đă quyết định ở lại đây lập nghiệp. Đó
là những con người đầu tiên của giáo xứ Lộc Thủy.
Cuộc sống ngày một ổn định nên một số gia đ́nh ở các nơi khác kéo
nhau tới đay làm ăn, dần dần ở đây đă thành lập được một cụm dân cư
vạn chài.
Đến năm 1874 ở đây đă có 35 con thuyền cùng 35 túp liều dựng tạm
bên sông, với 265 con người sinh sống.
Song song với việc chăm lo đời sống vật chất th́ đời sống tinh
thần ngày một được quan tâm hơn. Hằng tuần họ thường chèo thuyền
sang giáo xứ An Nhiên để đi lễ, dẫu khó khăn cách trở về địa lư
nhưng vẫn luôn cùng nhau chăm lo đời sống tâm linh cho ḿnh.
(((Năm 1885 th́ được cha quản xứ An Nhiên cho phép được dựng ngôi
nhà nguyện và thành lập giáo họ lấy tên là giáo họ Lộc Thủy. Năm
1890 ngôi thánh đường đầu tiên của giáo xứ đă được dựng lên trên
mảnh đất của ngôi nhà nguyện trước đó.)))
Đến năm 1914 th́ được phép của bề trên cho phép giáo họ Lộc Thủy
và giáo họ Chù Lâm (nay là giáo họ Tân Lâm) tách từ giáo xứ An Nhiên
về thành lập giáo xứ. Hai giáo họ đă thành lập một giáo xứ mới lấy
tên là giáo xứ Lộc Thủy và trụ sở chính là họ Lộc Thủy, thế là giáo
xứ Lộc Thủy từ nay đă có tên trên bản đồ của giáo phận. Lúc này giáo
xứ có 1750 người, cũng trong thời gian này bề trên đă cử Cha già
Nhơn về quản xứ, được hai năm (từ 1914-1916).Trong thời gian từ 1916
đến năm 1940 các Cha Già đă thay nhau về quản xứ: Cha Hồi 1916-1922
: Cha Thiện 1922-1928: Cha Hiêng 1928-1934: Cha Hưu 1934-1937: Cha
Hiển 1937-1940. Trong khoảng thời gian đó, đời sống đức tin của giáo
xứ ngày một được nâng lên .Đến năm 1940 khi Cha Lâm về quản xứ thay
cha Hiển th́ cũng là lúc ngôi thánh đường của giáo xứ đă xuống cấp.
Ngài đă có ư định sẻ làm lại nhà thờ mới, v́ thế ngài đă mua sắm rất
nhiều vật tư. Nhưng đến năm 1945 nạn đói xảy ra cướp đi hơn 2 triệu
sinh mạng của người dân Việt Nam. Trong đó có 700 người giáo dân Lộc
Thủy. Nhưng đến năm 1948 ngài đă lâm bệnh nặng và đă ra đi, mang
theo bao nhiêu tâm nguyện c̣n chưa thực hiện được. Trong đó tâm
nguyện lớn nhất của ngài là xây dựng lại ngôi thánh đường cho giáo
dân giáo xứ Lộc Thủy. Cũng trong năm đó bề trên giáo phận đă sai Cha
Phước về quản xứ, và ngài đă thực hiện tâm nguyện của giáo dân và vị
tiền bối đă để lại. Thế là ngài cùng giáo dân bắt tay vào xây dựng
nhà Chúa. Sau 2 năm miệt mài xây dựng th́ ngôi thánh đường cũng đă
được hoàn thành trong niềm vui khôn xiết của hơn 2500 giáo dân. Thế
là từ nay giáo dân đă có ngôi thánh đường to hơn, đẹp hơn để lời
kinh tiếng hát ngợi khen và cảm tạ Chúa lại được cất vang lên .
Năm 1952 Cha Phước đi nhận nhiệm sở khác, Cha Điều về quản xứ đến
năm 1953 ngài lại chuyển về xứ khác, và Cha Già Thung về quản xứ
thay Cha Điều.
Đến 10/1956 th́ Cha già Thung mất, tiếp đó bề trên giáo phận đă
giao cho Cha già Tần phụ trách giáo xứ. Đến tháng 2 năm 1971 Cha Ái
về quản xứ Ngài đă nhập 5 họ của giáo xứ lại thành một họ nhận Thánh
PhêRô làm quan thầy bổn mạng của giáo họ.
Giáo họ Tiến Thủy ngày nay, trong thời gian đó có hơn 30 hộ gia
đ́nh giáo dân, thuộc hai xứ Trai Lê và Lộc Thủy, trong đó một số gia
đ́nh thuộc họ Tân Hội xứ Trại Lê, nhận Thánh An Tôn làm bổn mạng. Và
một số gia đ́nh thuộc họ Đan Cảnh xứ Lộc Thủy và nhận Mẹ Maria Vô
Nhiệm làm quan thầy.
Cũng trong thời gian này, ngài cùng với Cha Các quản xứ Trại Lê
thống nhất cho giáo họ Hói Đăm thuôc xứ Trai Lê nhập về xứ Lộc Thủy
để cho bà con giáo dân ở đây tiện cho việc sinh hoạt tôn giáo . Và
khi nhập về xứ Lộc Thủy giáo họ Hói Đăm đổi tên thành giáo họ Tiến
Thủy nhận thánh An Tôn làm quan thầy của giáo họ. Từ đây giáo xứ Lộc
Thủy lại có thêm hai giáo họ mới cùng đồng hành với giáo xứ để cùng
nhau xâu dựng giáo xứ ngày một lớn mạnh hơn. Đến thánh 09 năm 1979
Cha già Ái Chuyển về quản hạt Cửa Ḷ Cha Giuse Tần phụ trách giáo xứ
đến năm 1984. Cha Giuse Đức về quản xứ Xuân T́nh và thay Cha già Tần
phụ trách giáo xứ Lộc Thủy. Đến năm 1990 Cha Đức về quản Xứ Trung
Nghĩa, bề trên đă sai Cha Tần về quản xứ Lộc Thủy.
Năm 1998 bề trên lại sai ngài về quản xứ Cam Lâm, cũng trong năm
đó Cha Giuse Trần Thanh Hương về quản xứ, đến năm 2002 Cha Hương
chuyển về quản xứ Thượng B́nh . Cha Giuse Trần Minh Đức được giáo
phận sai về quản xứ Lộc Thủy. Đến năm 2004 nhờ bàn tay sắp đặt của
Chúa, dưới sự chỉ đạo của Cha quản xứ và sự đoàn kết của giáo dân
cùng với sự hổ trợ nhiệt t́nh của quư vị ân nhân , nên ngày 14 tháng
04 năm 2004 giáo xứ đă được Đức Cha PhaoLô Maria Cao Đ́nh Thuyên về
làm lễ đặt gạch khởi công xây dựng ngôi thánh đường. Thế là ngôi
thánh đường thứ 4 của giáo xứ đă được xây dựng. Năm 2008 ngôi thánh
đường xây dựng c̣n hoàn thiện th́ bề trên thấy sức khỏe của Cha Già
Đức càng ngày càng yếu đi. V́ thế tháng 08 năm 2008 bề trên đă cho
Cha Đức về nghĩ dưỡng tại giáo xứ Văn Hạnh và đă sai Cha Phêrô Hoàng
Quốc Phong về quản xứ. Và ngài đă tiếp tục công việc của cha già để
lại, đến nay ngôi thánh đường đă được hoàn thiện. Và ngày 03 tháng
10 năm 2009 ngôi thánh đường đă được khánh thành. Và được phép Đức
Cha Phaolô-Maria Cao Đ́nh Thuyên ngôi thánh đường của giáo xứ Lộc
Thủy đă được cung hiến trở thành “Đền Thánh Mân Côi”.
Song song với việc xây dựng nhà chúa th́ đời sống đức tin của
giáo dân được chăm lo chu đáo hơn, những người con ưu tú của giáo xứ
đă được Thiên Chúa chọn làm thừa tác viên cho ngài. cũng có thế hệ
đàn em của các ngài đă tới gơ cửa các ḍng như Phanxicô: Thánh Tâm:
Mẹ Về trời: Thiên An: Châu Sơn: Mến Thánh Giá Nha Trang: La San:
PhaoLô: Bác Ái Vinh: hay Đại Chủng Viện…
Bên cạnh đó đời sống vật chất và tinh thần của giáo xứ ngày mọt
được cải thiện và từng bước đi lên. Đời sống kinh tế của giáo dân
ngày một đổi thay. Trước đây chủ yếu sống bằng các nghề nông nghiệp
truyền thống , nhưng giờ đă được thay đổi nhiều, và có thêm nhiều
nghề mới như nghề xây dựng, đóng tàu biển, buôn bán tiểu thương…đặc
biệt có khoảng hơn 500 người trong giáo xứ đang sinh sống và làm
việc tại nước ngoài hàng năm con số đóng góp không nhỏ trong việc
phát triển kinh té của giáo xứ.
Đời sống văn hóa tinh thần ngày càng được chăm lo hơn, trong
những năm gần đây, mỗi năm số sinh viên đậu vào các trường đại học
và cao đẳng trong cả nước khoảng 10 đến 15 em. Hiện nay trong giáo
xứ có một Tiến Sỹ, hai Thạc Sỹ và khoảng gần 70 em đang theo học các
trường đại học và cao đẳng trong cả nước. Con số này được tăng lên
hàng năm.
Nh́n lại chặng đường hơn 200 năm, Khi hạt giống đức tin được gieo
vào mảnh đất này. Từ một vài gia đ́nh đến nay đă trở thành một cộng
đoàn giáo xứ lớn mạnh, hy vọng rằng trong tương lai giáo xứ sẻ có
nhiều thay đổi hơn nữa về đời sống vạt chất lẫn tinh thần, để mọi
người trong giáo xứ trở thành chứng nhân của chúa ở đời này và hưởng
hạnh phúc đời sau. ..
GIÁO HỌ TÂN LÂM
Giáo họ Tân Lâm năm phía đông của thị Trấn Cày, thuộc khối 18 xă
Thạch Thượng huyện Thạch Hà.

Nh́n lại quá khứ th́ giáo họ Tân Lâm là một giáo họ h́nh thành
sớm nhất trong giáo xứ. Đầu năm 1875 được các cha ở xứ Kẻ Nhím (nay
là xứ Chân Thành), sang mở lớp dạy giáo lư. Đến tháng 04 năm 1876
các Cha đă dựng lên một cái lều bằng tranh trên cồn cát để dạy học.
Đầu tháng 06 năm 1876 Thầy Phanxicô Nguyễn Văn Hồng đă khai giảng
lớp học, lúc đầu lớp chỉ có bốn người học, một năm saucon số lên đến
12 người, lớp học được duy tŕ đến 3 năm. Từ năm 1876 đến 1878.
Được sự dạy dỗ cũng như sự động viên của Thầy Hồng, đức tin của
mọi người đă được h́nh thành.
Đầu năm 1880, 38 người của 7 hội gia đ́nh đă được gia nhập đạo,
đây là đây là một mốc lịch sử rất quan trọng của giáo họ. Đây là
những con người tiên khởi của giáo họ. 7 gia đ́nh đó là: Gia đ́nh
ông Hưởng, gia đ́nh ông Sàn, gia đ́nh ông Ngoạn, gia đ́nh ông Nghĩa,
gia đ́nh ông Sỹ, gia đ́nh ông Định và gia đ́nh ông Lệ Hỷ.
Đến năm 1881 th́ bề trên cho phép thành lập giáo họ lấy tên giáo
họ Tân Lâm thuộc giáo xứ An Nhiên.
Hàng ngày mọi người trong giáo họ đọc kinh ở nhà ông trùm Hưởng,
Số giáo dân tăng dần theo năm tháng bên cạnh đó đời sống tinh thần
và vật chất của giáo họ cũng tăng tiến từng ngày, Đặc biệt đức tin
ngày càng vững vàng đó thực sự là một niềm vui của toàn thể giáo họ,
tính đến năm 1904 số gia đ́nh lên tới 25 và số giáo dân lên đến 125
người. Lúc này đ̣i hỏi giáo họ cần phải có một ngôi nhà nguyện để
tất cả mọi người có nơi cầu nguyện. Với ư thức đó , toàn giáo dân
trong họ đă đồng ḷng nhất trí xây dựng ngôi nhà nguyện , đến năm
1907 ngôi nhà nguyện của giáo họ đă được hoàn thành, ngôi thánh
đường được dựng bằng gỗ, vách trét đất và lợp tranh toóc. Kể từ khi
có ngôi nhà nguyện giáo họ đă sinh hoạt tôn giáo có nề nếp hơn, đọc
kinh sớm tối tại nhà nguyện, và đă có thánh lễ làm phúc hàng năm .
Đời sống đạo của giáo họ càng ngày càng thăng tiến qua năm tháng
.Đến năm 1914 số giáo dân lên đến 245 người của 40 gia đ́nh. Và cũng
trong khoảng thời gian này bè trên cho phép Giáo họ Lộc Thủy và Giáo
họ Tân Lâm thành lập giáo xứ để tiện cho việc sinh hoạt tôn giáo .
Tuy là một họ h́nh thành sớm hơn giáo họ Lộc Thủy nhưng v́ số giáo
dân c̣n quá ít nên chưa đủ điều kiện nên bề trên đă cân nhắc và cuối
cùng quyết định giáo họ Lộc Thủy thành lập xứ và giáo họ Tâm Lâm
thuộc về giáo xứ Lộc Thủy. Từ đây giáo họ đă bớt phần vất vả hơn
trong việc sinh hoạt tôn giáo, kể từ bây giờ hàng năm giáo họ luôn
có tuần làm phúc. Đời sống đạo càng sốt sáng hơn.
Năm 1924 số giáo dân lên đến 300 người, ngôi nhà nguyện càng ngày
càng xuống cấp và cũng không đủ chỗ cho giáo dân sinh hoạt, v́ thế
giáo họ đă nhất trí xây dựng lại ngôi nhà nguyện . Năm 1927 ngôi nhà
nguyện 6 gian được xây bằng gạch, cột gỗ..
GIÁO HỌ TIẾN THỦY
Giáo họ Tiến Thủy nằm bên con sông Nghèn hiền ḥa, thuộc địa bàn
xóm Sông Tiến xă Thạch Sơn huyện Thạch Hà.

Nh́n về quá khứ th́ tại mảnh đất này đầu tiên là một g̣ cát hoang
vu và trống rỗng, không một bóng người. Đặt chân lên mảnh đất này
đầu tiên là ba cố: cố Rộng, cố Nghêu và cố Tín. V́ muốn kiếm cái ăn
nên các cố sống bằng nghề sông nước , nay đây mai đó.
Đến năm 1945 các cố ở lại mảnh đất này để định cư và làm đáy, ṇ,
chài lưới để sinh sống. Dần dần cuộc sống của các cố đă có phần ổn
định và đàn con cháu cũng đă trở nên đông đúc hơn.
Việc sinh hoạt tâm linh kinh nguyện chủ yếu là đọc nhóm trong ba
gia đ́nh các cố. Dần v́ con cháu đông đúc nên các cố đă quyết định
làm nhà nguyện để dể bề kinh nguyện .
Thế là ngôi nhà nguyện làm bằng tranh tre đă được mọc lên trên
khuôn viên thánh đường bây giờ. Chưa được bao lâu th́ do tranh tre
mục nát, hơn nữa đàn con cháu ngày một đông hơn. Tính đến 1954 đă có
hơn 30 gia đ́nh thuộc 3 ḍng tộc, số giáo dân lên tới 150 người.
cũng trong khoảng thời gian này với tinh thần v́ nhà Chúa các cố và
con cháu cùng chung sức chung ḷng, mặc dầu tiền bạc ít ỏi, sức
người hiếu thốn. Nhưng các cố đă dựng lên được ngôi nhà nguyện bằng
gỗ lợp tranh.
Tuy người đơn của hiếm nhưng ḷng nhiệt thành đă biến những ước
mơ thành hiện thực. Niềm vui đó chưa kéo dài được bao lâu th́ vào
năm 1954 chiến tranh đă làm mảnh đất này bị tần phá nặng nề, ngôi
nhà nguyện của giáo họ cũng không ngoại lệ, chiến tranh đă làm ngôi
nhà Chúa sập hoàn toàn.
Đau ḷng khi thấy những làn khói bốc lên từ ngôi nhà nguyện mà
các cố đă không quản ngại khó khăn ngày đêm cất công xây dựng. Thế
hệ con cháu kế tiếp của các cố đă được chúa quan pḥng, Ngài đă tăng
thêm tinh thân nghị lực cho họ, tạo cho họ một niềm tin tràn trề và
tín thác vào Chúa . Trải qua bao nhiêu thăng trầm đầy thử thách, đến
năm 1959 tức là sau 5 năm mới khởi công xây dựng ngôi thánh đường.
Ngôi thánh đường thứ ba lại được mọc lên trên mảnh đất củ, trong sự
đoàn kết của hơn 30 hộ gia đ́nh giáo dân thuộc hai xứ Trại Lê và Lộc
Thủy, trong đó ḍng tộc cố Nghêu thuộc họ Tân Hội xứ Trại Lê, nhận
Thánh Anton làm bổn mạng .Ḍng tộc Cố Rộng và cố Tín thuộc họ Đan
Cảnh Xứ Lộc Thủy nhận Thánh Gioan làm quan thầy.
Đến năm 1972 Cha Giuse Vương Đ́nh Ái về quản xứ Lộc Thủy, và ngài
đă tập hợp lại lấy tên chung là giáo họ Tiến Thủy thuộc giáo xứ Lộc
thủy và nhận Mẹ Maria Vô Nhiệm làm quan thầy.
Nhờ ơn chúa thương và sự che chở của Mẹ giáo họ một ngày một
thăng tiến hơn trong đời sống đạo cũng như trong đời sống kinh tế,
xă hội. Sau 15 năm giáo dân càng tăng lên, ngôi nhà nguyện không đủ
để 60 gia đ́nh với hơn 300 giáo dân kinh nguyện và dâng lễ.
Thế là năm 1978 khởi sự làm ngôi thánh đường thứ 4. Trong tinh
thần đoàn kết chung sức chuang ḷng góp công, của chẳng bao lâu ngôi
thánh đường đă hoàn thành. Ngôi thánh đường được làm bằng gỗ, xây
tường gạch là lợp ngói đỏ . Có được ngôi thánh đường rộng lớn hơn
cộng đoàn giáo họ mới được an tâm sáng tối kinh nguyện .
Đời sống giáo dân chủ yếu là sống bằng nghề chài lưới trên sông
đ̣ điệm. .
GIÁO HỌ THANH THỦY
Giáo họ Thanh Thủy nằm phái nam của sông nghèn, thuộc địa bàn xóm
sông Tiến xă Thạch sơn huyện Thạch Hà .

Trong những năm 1945 các hộ gia đ́nh lúc đó thường sống bằng nghề
đánh bắt cá trên sông nghèn, và họ dạt về chỗ ở hiện nay.
Những ngày đầu có khoảng 8 đến 9 hộ gia đ́nh sinh sống, dần dần
con số này tăng lên theo năm tháng . Đến năm 1949 tổng số hộ giáo
dân là 14 hộ số giáo dân lên đến 45 người, với ḷng mến Chúa và sự
thống nhất cao, số giáo dân bé nhỏ này đă được phép thành lập giáo
họ và chon thánh quan thầy Anton làm bổn mạng .
Trong quá tŕnh lịch sử của giáo họ có biết bao thăng trầm và
biến đổi, đặc biệt là những năm chiến tranh, những năm hoạt động tôn
giáo bị hạn chế, cũng có thể nói là giáo họ gặp muôn vàn thử thách.
Nhưng không v́ thế mà đức tin bị sa sút, hay mai một mà ngược lại.
từ những thử thách ấy mà đức tin của giáo họ ngày càng được mạnh
thêm. Điều đó được thể hiện bằng những việc làm cụ thể là đầu năm
1950 giáo họ đă xây dựng ngôi thánh đường đầu tiên. Nhờ đó bà con
trong giáo họ có chỗ để sinh hoạt tôn giáo. Tiếng kinh đă được cất
lên từ ngôi thánh đường mới, đă làm cho đời sống tinh thần cũng như
mặt tâm linh của bà con trong giáo họ mọt ngày một nâng lên.
Nhưng đến năm 1968 một biến cố đă xẩy ra với giáo họ đó là ngôi
thánh đường bị bom đánh sập . Kể từ lúc này bà con không không có
chỗ để tụ họp nhân danh Chúa, không c̣n chỗ để sinh hoạt tôn giáo,
không có chỗ để sinh hoạt đời sống văn hóa tinh thần.
Nhưng không lâu sau đó nhờ ơn của thiên Chúa, Thánh quan thầy
Antôn và nhờ chiêù sâu đức tin cũng như sự quyết tâm của bà con giáo
dân trong giáo họ đến năm 1972 ngôi thánh đường mới đă được mọc lên
trong niềm vui khôn tả của toàn thể giáo dân trong giáo họ.
Cũng trong năm đó được sự thống nhất của cha Cao quản Xứ Trại Lê
và Cha Ái quản xứ Lộc Thủy cho phép giáo họ “Hói Đăm” nhập về giáo
xứ lộc Thủy để tiện cho việc sinh hoạt tôn giáo và đổi tên thành
giáo họ Thanh Thủy. Kể từ đây lịch sử của giáo họ đă bước sang một
trang mới. Những ngày nhập vê giáo xứ Lộc Thủy việc sinh hoạt tôn
giáo đă trở nên dễ dàng hơn , từ đó bà con trong toàn giáo họ an tâm
sản xuất, ổn định đời sống kinh tế, nh́n chung đời sống vật chất và
tinh thần ngày một được nang cao.
Số giáo dân ngày càng tăng ngôi thánh đương càng ngày càng xuống
cấp. Để khắc phục khó khăn đó. Năm 1976 ngôi thánh đường đă được tái
thiết lại khang trang hơn.
Sau 20 năm kể từ ngày tái thiết lại ngôi thánh đường đó, số giáo
dân đă lên tới 496 người ( 1996 ).ngôi thánh đường năm xưa lại không
đủ chỗ để sinh hoạt nên với sự quyết tâm của bà con trong giáo họ,
nhờ sự giúp đỡ của quư Cha, quư ân nhân, thân nhân trong và ngoài
nước, và bà con giáo dân trong toàn giáo xứ. Ngôi thánh đường mới
lại được mọc lên .
Song song với việc chăm lo đời sống đức tin là đời sống vật chất
và tinh thần. Giáo dân ở đây vẫn sống chủ yếu bằng các nghề truyền
thống như: Đăng, ṇ, chài lưới trên sông …v́ vậy đời sống kinh tế
cũng tạm đủ qua ngày. Bên cạnh đó vấn đề văn hóa giáo dục cũng ngày
một được quan tâm hơn.
Một niềm vui khôn tả, một đặc ân mà Chúa ban cho giáo họ đó là
vào năm 1994 một người con ưu tú của giáo họ đă trở thành vị tông đồ
của Chúa đó là Cha AnTôn Nguyễn Văn Hoàng .
Hy vọng trong tương lai sẻ có nhiều con em trong giáo họ tiếp
bước người đàn anh để giáo họ có thêm nhiều vị tôi trung của Chúa.
Bên cạnh đó giáo họ cũng luôn luôn quan tâm đến đời sống vật chất và
tinh thần để mọi người trong giáo hốc một cuộc sống vật chất ổn định
và một đời sống tinh thần ngày một được nâng cao. Đặc biệt là đời
sống đức tin của giáo họ ngày một vững mạnh để làm rạng danh thiên
chúa ở đời này và mong ước được hưởng hạnh phúc ở đời sau.
GIÁO HỌ LONG THỦY
Giáo họ Long thủy được thành lập vào ngày 26 tháng 06 năm 2007 là
một giáo họ mới được thành lập. Tổng có 35 hộ gia đ́nh với 214 giáo
dân. Được phân bổ trên một địa bàn khá rộng và phức tạp.
Là một giáo họ mới thành lập nên chưa có nhà nguyện nên việc sinh
hoạt tôn giáo của giáo dân ở đây đang gặp nhiều khó khăn. Hiện nay
giáo họ sinh hoạt tôn giáo c̣n phải mượn nhà của các hộ gia đ́nh
trong giáo họ.
Mong ước của giáo dân ở đây là có một ngôi nhà nguyện để sinh
hoạt, với đời sống kinh tế hiện nay của giáo họ c̣n khó khăn, với 35
hộ gia đ́nh th́ không đủ khả năng để dựng lên một ngôi nhà nguyện.
Hy vọng quư vị ân nhân, thân nhân, quan tâm giúp đỡ về vật chất cũng
như tinh thần, đặc biệt là những lời cầu nguyện của quư vị sẽ giúp
cho giáo họ thêm ơn Chúa cũng như sự che chở của Mẹ , để giáo họ
càng ngày càng thăng tiến trong đức tin cũng như về đời sống vật
chất và tinh thần, qua đó giáo họ sẻ sớm có được ngôi thánh đường để
sinh hoạt tôn giáo.
CÁC LINH MỤC QUẢN XỨ
1: Cha Lâm: 1906 – 1907.
2: Cha Nguyên: đầu năm 1913 – cuối năm 1913
3: Cha Nhơn: 1913 – 1916.
4: Cha Hồi: 1916 – 1922.
5: Cha Thiện: 1922 – 1928.
6: Cha Hiêng: 1928 – 1934.
7: Cha Hưu: 1934 – 1937.
8: Cha Hiển: 1937 – 1940.
9: Cha Lâm: 1940 – 1948.
10: Cha Phước: 1948 – 1952.
11: Cha Điều: 1952 – 1953.
12: Cha Thung: 1953 -1965.
13: Cha Ái: 1972 – 1979.
14: Cha Tần: 1990 – 1998.
15 Cha Hương: 1998 – 2002.
16 Cha Đức: 2002 – 2008.
17: Cha Phong: 09/2008 đến 09/2010.
18: Cha Gioan Baotixita: Lê Trọng Châu - Tháng 09/2010 đến nay...
* Nguồn :
http://quehuonglocthuy.jimdo.com/
|