Giáo phận Vĩnh Long

Nhà thờ Giáo xứ Cái Nhum

 

Nhà thờ Giáo xứ Cái Nhum
Giáo hạt Cái Mơn

 

Địa chỉ : ấp Long Huê, xă Long Thới, Chợ Lách, Bến Tre. ( Bản đồ )

Chánh xứ : Linh mục Jn. Phạm Hữu Diện
Phó xứ     : Linh mục Phêrô Nguyễn Thanh Tùng 8/8/2016)
Phó xứ     : Linh mục Giuse Nguyễn Hữu Trí (8/8/2016)

Tel

0753.873.131

E-mail

http://cainhum.weebly.com/index.html  - FB

Năm thành lập

 

Bổn Mạng

Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội

Số giáo dân

5125

Giờ lễ

Chúa nhật     : 

Ngày thường :

Các nhà thờ lân cận :  

Tư liệu :  Lược sử Giáo xứ - H́nh ảnh Giáo xứ 
                LỊCH SỬ HỌ ĐẠO CÁI NHUM - Nguồn : Web GP Vĩnh Long
                Video Nhà Thờ Cái Nhum  -  Phúc Thiện
                Video Chuông Nhà Thờ Cái Nhum

-  Tin tức sinh hoạt

* H́nh ảnh Lễ Thánh Hiến & Tạ Ơn của Hội Ḍng Mến Thánh Giá tại Nhà Thờ Họ Đạo Cái Nhum (3.06.2011)

* Lễ giỗ thứ 100 của LM thừa sai Tournier- cha sở họ đạo Cái Nhum (8/7/2006)

 

Lược sử Giáo xứ Cái Nhum

* Nguồn : Trang Web Giáo xứ Cái Mơn

 

Theo báo Nam kỳ Địa phận năm 1919 - 1920 : Năm 1731 Cha Giuse Garcia người Tây Ban Nha ḍng Phanxicô - người đầu tiên phụ trách mở đạo Địa phận Đàng trong đă thành lập họ Cái Nhum.


Có nguồn sử liệu khác cho là các Cha Thừa Sai thuộc ḍng Đôminicô người Bồ Đào Nha thuộc tỉnh ḍng Malaca cuối thế kỷ XVI đă đến truyền giáo tại vùng Cái Nhum        ( sách sử không c̣n.)


Cha sở đầu tiên là Cha Emmanuel Valdchermose (1742-1747). Cha Phanxicô kế thừa, đến năm 1750 bị câu lưu, đưa về Sài-g̣n, sau cùng bị trục xuất theo lệnh cấm đạo thời Tây Sơn.


Các Cha ḍng Phanxicô dể gây cảm t́nh với quan chức làng Long Hồ (Vĩnh Long) nên dể lui tới, được ghi nhận có các Cha : Juliano, Cha Fernando Olmedella, Cha Didace de Jumilia - cảm t́nh lôi kéo nhiều người trở lại đạo.

 

* Từ năm 1782 - 1830
Tây Sơn khởi nghĩa - Đức Cha Bá đa Lộc lánh nạn ra Phú Quốc. Cha Fernando bị bắt tại Cái Nhum - cùng với một Thầy giảng - được đưa về Sài-g̣n. Tử đạo tại Chợ Quán sau một thánh bị gông cùm.
Năm 1783 - Triều Gia Long, có quan lại công giáo tên Lai - biệt danh Vĩnh Trung - trên đường tiếp tế lương thực cho triều đ́nh Huế, thuyền lâm nạn và ông kêu cầu Đức Mẹ cứu giúp. Cầu được ước thấy, về đến Cái Nhum ông xây một Nhà nguyện, chuộc một Đức Mẹ kiểu Tây Ban Nha - đặt vào đó - dâng kính Đức Mẹ và kêu gọi hết con cháu đến cầu nguyện. Đức Mẹ linh lắm - đă nhậm lời và cứu ông khỏi chết. Tượng Đức Mẹ nầy cao 1m17 hiện c̣n tại Nhà thờ Cái Nhum, cùng với một tượng khác nữa, y chang mẫu mă đặt tại Nhà thờ Sa-đéc. Tượng bằng vật liệu quí giá tựa như ngà nên dân gian gọi là "Đức Mẹ ngà."
Hiện tại tượng Đức Mẹ ngà lịch sử nầy được giáo dân sùng kính đặc biệt ở Sa-đéc - có cả người lương. Nhiều người kể lại họ tin tưởng và được nhiều ơn lạ Đức Mẹ ban cho.

 

* Từ năm 1730 - 1847:
Vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao hơn - các nơi thờ tự ở Nam bộ đều bị triệt hạ. Cha Odorico bị bắt (1832) tại Cái Nhum - đưa ra Huế. Năm 1833 Đức Cha Cuenot đưa Cha Lefèbre về Cái Nhum phụ trách Tiểu chủng viện và ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum. 

 

* Từ năm 1847 - 1859:
Giáo Hội bị bách hại dử dằn hơn, Nhà thờ bị triệt hạ - Chủng viện và tu viện bị phá hủy. Đánh chủ chăn - đoàn chiên tan rả. Giáo dân lén lút tụ họp khi nhà ông Trùm Thinh, khi nhà ông Trùm Điểm - để cầu nguyện. Năm 1853 Cha Thánh Philipphê Phan văn Minh bị bắt tại Mặc Bắc và tử đạo tại Đ́nh Khao, Vĩnh Long. Xác Cha được đưa về nhà hương hào Kim - Cái Nhum và theo lệnh Cha Borello phải chôn cất tại Cái Mơn.

 

* Từ năm 1851 - 1910:
Cha Colombert - chánh sở Cái Nhum (1864-1866) dời Nhà thờ và Nhà phước từ xóm rạch Chanh về chỗ hiện nay. Cha Tournier (1868) kế thừa - kiến thiết Họ đạo, Nhà phước và mọi cơ sở khác, Năm 1870 Cha Duquesnay đặc trách Tiểu chủng viện Cái Nhum - Cha Ritton thừa kế lo tông đồ giáo dân. Ḍng Thầy giảng ( nay là Ḍng Kitô Vua ) được h́nh thành.

 

* Từ năm 1847 - 1859:
Sau khi Cha Tournier qua đời (1906). Các Linh mục bản xứ thay thế> Cha Phaolô Thắng vừa là Cha sở, vừa là Cha Bề Trê n Nhà phước. Cái nhum là trung tâm truyền giáo của Địa phận Đàng trong. Có nhiều Linh mục lui tới. Qua thời cấm kín, Cái Nhum đă đóng góp nhiều mặt đáng kể về xă hội cũng như tôn giáo.

 

* Từ năm 1917 về sau:
Năm 1917 họ Cái Nhum có trên 250 gia đ́nh Công giáo - trong đó 100 gia đ́nh sống nhờ chuyên canh trên 17 mẫu ruộng và 44 mẫu vườn của nhà chung. Sau Năm 1975 ruộng vườn nầy được hữu sản hoá cho bà con.
Ngôi Thánh đường nguy nga đồ sộ c̣n ngày hôm nay lo do công của Cha Giuse Bạch xây cất năm 1951, núi Đức Mẹ, núi Calvaire là do công Cha Giuse Bút. Các Cha sở thừa kế đều có tân trang.

 

Trải qua 270 năm lịch sử (1731-2001) họ nhớ ơn 33 đời Cha sở, Qúi vị anh hùng tiền bối mạnh dạng xưng đạo thánh Chúa nêu gương đời đời cho hậu thế.

 

 

 

1.   Cha Joseph Garcia

1731

 

2.   Cha Emm. de Valdehermoso

1742

 

3.   Cha Fx. Hermosa

1749

 

4.   Cha P.Julien

1750

 

5.   Cha Perdinco Denus

1752

 

6.   Cha Ferdinand Olmedilla

1765

 

7.   Cha Didace de Jumilla

1772

 

8.   Cha Odoric de Collodi

1774

 

9.   Cha Ferdinand Demisa

1786

 

10. Cha Mgr. Lefébre ' Ngăi'

1836

 

11. Cha Colombert  'Mỹ'

1864

 

12. Cha Tournier ' Thu '

1867

 

13. Cha Henri Hay ' Tài '

1906

 

14. Cha Ernest Hay

1908

 

15. Cha Dominico Cơ

1916

 

16. Cha Phaolô Trần công Thắng

1919

 

17. Cha Joa. Đặng phước Thiên

1939

 

18. Cha JB Lê quang Trieäu

1940

 

19. Cha JB. Nguyễn linh Nhan

1944

 

20. Đức Cha Phêrô Ngô đ́nh Thục

1945

 

21. Cha Giuse Nguyễn văn Bạch

1949

 

22. Cha Phanxicô Nguyễn văn Binh

1953

 

23. Cha Eus. Nguyễn văn Thới

1954

 

24. Cha Phêrô Phan ngọc Đức

1958

 

25. Cha Jac. Trần Văn Quyển

1960

 

26. Cha Phaolô Nguyễn văn Mừng

1961

 

27. Cha Phêrô Trần hữu Dư

1965

 

28. Cha Simon Lâm thành Hoà

1975

 

29. Cha Jac. Nguyễn huỳnh Tươi 

(Xử lư trong thời gian cha sở già yếu)

 

30. Cha Antôn Nguyễn Văn Lệ

2000

 

Đầu tháng Môi Khôi (10/2000) Đức Giám Mục Giáo phận Vĩnh Long đă kư nhận

                       Cha Atôn Lệ về làm Cha sởCái Nhum.

 

Cha sở Simon Hoà xin nghỉ hưu

 

...................

LỊCH SỬ HỌ ĐẠO CÁI NHUM

Nguồn : Web GiaophanVinhLong

LỊCH SỬ HỌ ĐẠO CÁI NHUM

I . NGUỒN GỐC HỌ ĐẠO :

1 / Sự h́nh thành :

Bán thế kỷ 16, đất này thuộc Cambodge, các cha ḍng Đôminicô từ Malasca (Bồ Đào Nha) đến đây, cuối thế kỷ 16, năm 1588, các cha ḍng Đôminicô (Tây Ban Nha) đến đôi lần.

Năm 1614, từ Nhật Bản, các cha ḍng Tên đến Việt Nam. Nhưng không ai nhớ rơ họ đạo Cái Nhum thành lập năm nào.

Năm 1661-1665, thời kỳ bắt đạo gắt gao, ta mới có thể khẳng định rằng : Cái Nhum là Trung Tâm giảng đạo ở miền Nam (Đàng Trong), do các cha ḍng Phanxicô Manila đảm trách. Nếu căn cứ móc thời gian năm 1661 , th́ họ đạo Cái Nhum được h́nh thành cách đây trên 343 năm.

Năm 1623, nước Viết Nam có thời kỳ di dân xuống phái Nam, song hành với thời kỳ truyền bá Phúc Âm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thời kỳ di dân nầy th́ các cha thừa sai cũng dấn thân với họ khẩn hoang, lao động sản xuất để nuôi sống và truyền giáo. Có vị linh mục người Tây Ban Nha tài đức sống suốt 30 năm với lưu dân là cha Giuse Garcia ḍng Phanxicô (1687-1761). Cha đến Việt Nam ngày 8.4.1719 rao giảng Phúc Âm ở Quăng Ngăi, sau đó được cử đến Sài G̣n năm 1723. Suốt 24 (1723 – 1747) năm cha Garcia hoạt động truyền giáo từ Sài G̣n đến Hà Tiên qua Thủy Chân Lạp, qui tụ giáo dân thành 7 khu : Trong đó Khu 5 là Sông Tiền, sông Hàm Luông, có những họ đạo lớn xưa như : Cái Nhum (1731) ; Cái Mơn (1732) ; Cái Bông (1780).

2 / Vị trí địa lư :

Cái Nhum thuộc bán đảo, đó là ḥn đảo Mỏ Cày. Ḥn Đảo này gồm có 21 làng, chia thành 3 địa hạt là Cái Mơn, Cái Bè và Vĩnh Long. Tại đây có 3 con sông lớn đó là Hàm Luông, Mỹ Tho và Vĩnh Long. Ngoài Cái Nhum ra c̣n có hai họ đạo Cái Muối và Cái Bần (Thủ Thể), có mối liên lạc giữa các cha với nhau. Cái Muối đối diện với Vĩnh Long ; Cái Bần đối diện với Cái Bè, trước kia trực thuộc địa hạt này. Năm 1867-1870 : Khi người Pháp đến được vài năm, có rất nhiều người xin học đạo và được chịu Bí Tích ở Cái Bè, Cái Nhum, Cái Thia và Cái Lợi. Sau đó Cái Nhum chỉ c̣n lan rộng trong 3 hạt của ḥn đảo.

- Xưa : Thuộc An Lương thôn ( đến năm 1890 đổi thành Hưng Long). Tân Minh tổng (1808). Tân Minh huyện (1823). Long Hồ dinh (1732), tức Vĩnh Thanh trấn (1808).

- Nay : Thuộc xă Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

Tọa lạc cách địa đầu giới tuyến Cù Lao Minh 15 km về hứơng Đông. Tiếp cận điểm cực Tây tỉnh Bến Tre, nằm trên kinh độ 105 ; vĩ độ 57 đông. Trên tuyến quốc lộ 57 nối liền Cái Mơn – Chợ Lách.

3 / Địa Danh :

Một họ đạo lớn ở gần con rạch có nhiều cây nhum, nên gọi là họ đạo Cái Nhum.

Họ đạo có biệt danh là Cái Nhum Rau Má khác với Cái Nhum Măng Thít, thuộc tỉnh Vĩnh Long. Ngày xưa người dân ở đây thường dùng rau má mọc sẵn để trị bệnh nóng gan…

Về phía giáo quyền :

Thuộc địa phận Đàng Trong (1679 – 1844) . thuộc địa phận Tây Đàng Trong (1844 – 1924).

Họ đạo Cái Nhum được vinh hạnh v́ có cha sở Lefèbvre (Ngăi) làm giám mục tiên khởi giáo phận Tây Đàng Trong. Trụ sở tại Cái Nhum, nhà thờ Cái Nhum lúc bấy giờ là nhà thờ Chánh Ṭa.

Thuộc địa phận Sài G̣n (1924 – 1938)

Thuộc giáo phận Vĩnh Long từ 1938 đến nay.

Họ đạo Cái Nhum chọn tước hiệu Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội làm danh hiệu riêng cho ḿnh để nhờ sự cầu bầu che chở của Đức Mẹ Vô Nhiễm. Mừng Lễ ngày 8 tháng 12.

4 / Các Vị Rao Báo Tin Mừng Đến Cái Nhum:

1.Jos. Garcia người Tây Ban Nha.(1731-1742) ; 2. Emmanuel De Valdehermoso (1742-1747);3. Francois Hermosa (1749-1750); 4. P. Juliem (1750-1752) ; 5. Perdinco Denus (1752-1760) ;

6. Ferdinael Olmedilla(1765-1772); 7.Didace De Jumilla (1772-1774) 8. Odoric De Collodi, (Odorico, người Ư ) (1774-1786 ) ;

9. Ferdinanel Demisa (1786-1789)]

II. QUÁ TR̀NH PHÁT TRIỂN :

1 / Những Chứng Nhân Cho Niềm Tin :

Năm 1760, dưới thời Vơ Vương có hai cha ḍng Phanxicô đến Cái Nhum, và trở về Manila ! Họ đạo Cái Nhum lúc nầy khoảng 3000 giáo dân.

Năm 1782, trong khi Đức cha d’Adran (Bá-Đa-Lộc) đến ẩn náu cùng với vài chủng sinh tại đảo Phú Quốc, th́ cha Ferdinand Odemila ḍng Phanxicô ở đây và ngài bị bắt giải về Sài G̣n và ngài chết tại Chợ Quán.

Năm 1783, cha Francois de Michel và cha Diolace, ḍng Phanxicô có mặt tại Cái Nhum. Các ngài nhờ các thương gia Bồ Đào Nha giúp đở ḿnh. Vị bề trên ḍng Phanxicô chết tại Cái Nhum năm 1800 cha tên là Camille de Thorea.

Năm 1802, Vua Gia Long lên ngôi Hoàng Đế. Ở Cái Nhum có một số đông người Khơ-me, họ bị người địa phương khinh dễ và hành hạ như tôi đ̣i. Có vài người may mắn được người công giáo săn sóc che chở và giúp đỡ nên cuộc sống họ được ổn định.

Nicolas Trần Công Lại : (biệt danh là Dinh Trung)

Nguyên quán ở Thuỵ Nguyên, tỉnh Thanh Hóa vào Nam và cư ngụ tại Cái Nhum.

Khi Nguyễn Ánh chiêu mộ binh sĩ, ông theo pḥ chúa Nguyễn và dẹp giặc Tây Sơn. Ông được vinh thăng chức “ Dinh Trung” rồi đến chức “ Đô Thống Chế”

Khi Nguyễn Ánh lên Ngôi hiệu là Gia Long, vua Gia Long ủy thác cho ông Lại chỉ huy hải thuyền hoàng gia để đảm bảo lương thực cho nhà vua và quân đội. Khi ra khơi chẳng may gặp cơn băo táp đă đưa thuyền qua Ấn Độ. Trong lúc nguy khốn ông xin Đức Mẹ phù hộ và khấn hứa sẽ xây một ngôi nhà để dâng kính Đức Mẹ. Cầu được, ước thấy, ông Lại dâng một cây nến sáp bằng chiều cao và chiều tṛn cột buồm hải thuyền để tạ ơn Đức Mẹ.

Khi về Cái Nhum ông thực hiện lời hứa, ông xây một nguyện đường dâng kính Đức Mẹ Maria. Ngôi nhà cột gỗ, mái nhà thấp, lợp ngói âm dương, bên trong đặt tượng ảnh Đức Mẹ. Ngôi nhà này ở phía sau trường học. (Gần lăng mộ của ông sau nầy với tước hiệu vua ban là “Dinh Trung” ). ( Bức tượng này hiện nay được tôn kính trong nhà thờ họ đạo Cái Nhum ; Tượng Đức Mẹ này cao 1,17m, láng bóng như ngà voi, theo kiểu mẫu Tây Ban Nha, c̣n gọi là Đức Mẹ Ngà. Một tượng Đức Mẹ khác cũng giống như vậy do chính ông hay con cháu ông đă đặt tại nhà thờ Sađéc).

Năm Giáp Thân 1824, ông Nicolas Trần Công Lại được Chúa thương gọi về, để lại cho hậu thế gương thanh liêm, đạo đức, tân tụy phục vụ và ḷng tin vào Thiên Chúa và Mẹ Maria. Thi hài của ông được chôn cất tại Cái Nhum, trong phạm vi đất của Ḍng Kitô Vua, ấp Long Vinh, Long Thới, Chợ Lách, Bến Tre.

Phêrô Nguyễn Văn Dinh : (biện họ tử đạo) (xem thêm)

Tử đạo ngày 9.11.1844 tại Cái Nhum, hưởng thọ 30 tuổi. Đức Giáo Hoàng Piô IX tấn phong lên bậc Đáng Kính ngày 27.9.1857.Hài cốt c̣n lưu kính tại ḍng Camelo Sài G̣n.

Ông biện Dinh có người con gái tu tại ḍng Camelo là Saint Pierre de Sainte Thérése.

Hiền thê của ông biện Dinh là bà Matta Điểu, ngôi mộ của bà c̣n tại đất thánh họ đạo Cái Nhum (gần chợ Long Thới).

Ông biện Dinh là người chồng gương mẫu, người cha đạo đức, người con ngoan đạo biết hy sinh phục vụ cho Thiên Chúa, Giáo Hội và xă hội

Louis Phan Văn Ng̣ : (Trùm họ tử đạo 1772-1845) (xem thêm)

Tử đạo ngày 24.2.1845 tại Phú Cam (Huế), hưởng thọ 73 tuổi. Đức Giáo Hoàng Piô IX tấn phong lên bậc Đáng Kính ngày 27.9.1857. Hài cốt c̣n lưu kính tại dưới bàn thờ họ đạo Cái Nhum.

Ông giữ nhiều chức vị đạo đời như : Trùm họ đạo, thầy giảng, đại úy ông cả…nhưng chức vụ nào ông cũng chu toàn và sống rất mực thanh liêm và đạo đức.

Cố Phan ḍng Phan xicô :

Trong năm 1820, cố Phan ḍng Phanxicô mua một phần đất để cất một nhà thờ và từ đó họ đạo được thành h́nh.

Năm 1823, sau khi Đức cha Véren qua đời. Đang lúc này Cái Nhum có ḍng ba Phanxico với những tu phục riêng của ḿnh.

Năm 1825, có 2 cha chết tại Cái Nhum. Kể từ đây chỉ c̣n cha Odorico thuộc ḍng Phanxicô ở họ Cái Nhum mà thôi, ngài từ Ư đến vào năm 1818 là người cuối cùng thuộc ḍng Phanxicô làm việc ở đây.

Năm 1830, Vua Minh Mạng ra lệnh triệt hạ các nơi thờ phượng của đạo Công giáo. Do lệnh này, nhà nguyện kính Đức Mẹ Đồng Trinh và ḍng nữ đều bị phá hủy cùng với những nơi thờ phượng ở khắp Đàng Trong.

Năm 1832, cha Odorico bị bắt cùng với cha Điền, bổn đạo chuộc 13 thỏi vàng. Quan thả cha Điền c̣n cha Odorico th́ bị giải ra Huế. Ở Huế ngài gặp được cha Jacquard và cha Gagelin, sau đó ít lâu cha Gagelin bị thắc cổ chết v́ đức tin. Trước khi tử đạo, cha Odoricô và cha Jacquarrd có đến thăm ngài.

Năm 1833, Vua ra chiếu chỉ phải giết hết các giáo sĩ, nhưng nhờ Hoàng Hậu can thiệp, nên các cha chỉ bị đài ra “Ải Lao”, gần biên giới nước Lào. Cha Odorico luôn luôn tỏ ra cương quyết và trung thành v́ Chúa. Cha Odorico nói : “Tử đạo là một hồng ân quí báu nhất mà tôi phải nhận lấy”. Đến ngày 13-11-1833, cha Odorico bị xiềng tay chân trong tù, ngài chịu nhiều đau khổ và thiếu thốn, chỉ c̣n duy nhất chiếc áo ḍng Rôma mang theo vào năm 1817 để làm mền đắp cho đỡ lạnh. Cha Odorico phải chịu đựng qua nhiều cực h́nh, lại bị cơn sốt hành hạ, ngài kiệt sức và qua đời vào ngày 23-5-1834.

Năm 1823, cha Marchand Du có lưu lại Cái Nhum nhiều ngày nhưng sau đó cha Du sang Cái Mơn.

Năm 1836, Đức cha Guénot cử cha Lefèbre đến coi họ Cái Nhum đồng thời lo cai quản chủng viện và ḍng tu nữ. Ḍng này hiện có 30 tu sĩ (ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum). Phần chủng viện hiện có vài chủng sinh đang học tại trường Pi-nang, tại đây cũng phát hành sách về việc giảng đạo. Cha Hiển, linh mục bổn quốc, do Đức cha Guénot truyền chức và một thời gian coi sóc Cái Nhum và sau đó qua đời tại Băi Xan. Họ Cái Nhum khi th́ cha ḍng Phanxico lúc th́ linh mục bổn quốc coi sóc. Nhưng phải nói rằng : Cái Nhum là một trung tâm của các địa hạt quan trọng, cũng là nơi cư ngụ của các vị thừa sai Âu Châu lui tới.

Năm 1840, Đức cha Guénot truyền chức giám mục cho cha Lefèbre làm Giám mục phó, ngài vẫn tiếp tục lưu lại Cái Nhum.

Năm 1844, Đức cha Lefèbre cai quản địa phận Sàigon và địa phận Đàng Trong được chia làm hai (Đông Đàng Trong và Tây Đàng Trong).

Đức Cha và ông Định bị bắt, khi Đức Cha được giải đi Vĩnh Long, th́ ông Định vẫn ở Cái Nhum. Bởi chịu những trận đ̣n tra khảo mà sức khỏe yếu nên ông kiệt sức. Ông nhận lănh Bí Tích Xức Dầu được vài ngày th́ qua đời. Đức Giáo Hoàng Piô IX đă tuyên dương ông Phêrô Định lên bậc chân phước ngày 27-9-1857. Ông Định có một người con gái duy nhất tu tại Ḍng Carmel Sài g̣n.

Cha Thượng (Lượng ), từ Cái Mơn sang coi sóc Cái Nhum, ngài được hai ông biện Danh và Sum tận t́nh giúp đỡ mọi sự. Cùng bị bắt với ông Phêrô Định có các vị hương hội trong làng, những người này bị giải ra Huế. Cùng bị bắt dịp này, một số đông giáo dân sau những trận đ̣n tra tấn họ đă chối đạo bằng cách đạp lên ảnh Đức Mẹ.

Đức Cha Lefèbre :

Quan trấn đe dọa một em bé 12 tuổi tên là Bốn, con của ông cai tổng tên Lợi ; v́ quá sợ nên đă tiết lộ nơi trú ẩn của Đức Cha, và ngài bị bắt ngày 31-10-1844. Sau đó, Đức Cha phải chịu nhiều trận tra khảo rồi bị giải ra Huế. Cùng phải ra Huế với ngài có thầy Phước dạy giáo lư và ông Cả Ng̣, vị niên trưởng của làng và của họ Cái Nhum. Ông là một giáo dân đạo đức, ông năng săn sóc bệnh nhân và lo chôn cất những người đă qua đời … Ông bị tố cáo là che dấu các linh mục Âu Châu, cùng với thầy Phước và bị bắt ở Trà Vinh. Khi hay tin Quan trấn lùng bắt Đức Cha Lefèbre, ông Cả Ng̣ và vài người công giáo khác can đảm che dấu Đức Cha, mỗi lần binh lính đi lùng kiếm th́ các bạn ông tên là Bường cho hay trước. Sau rồi sự việc cũng bị bại lộ và ông cũng bị bắt. Khi áp giải Đức Cha Lefèbre đi ra kinh đô (Huế) có ông Bường cùng với vài giáo hữu khác. Trong đó có ông Lợi, Cai tổng trong địa hạt công giáo, nhưng sau đó ông chối đạo, đây là điều làm ông Cả Ng̣ đau khổ nhất ; ông luôn khuyên bảo, an ủi mọi người chung quanh giữ vững đức tin vào Chúa. Sau 12 ngày đặt chân đến Huế, ông Cả Ng̣ qua đời vào ngày 24-01-1845, trước sự hiện diện của Đức Cha Lefèbre. Ông hưởng thọ 73 tuổi. Ông được chôn cất tại nghĩa trang Phú Cam. Về sau hài cốt ông được đem về chôn tại Cái Nhum và an táng trong nhà thờ. Đức Giáo Hoàng Pio IX đă phong chân phước ngày 27-9-1857. Đức Cha Lefèbre, nhờ Đô đốc Cécile can thiệp nên được thả ra. Sau cuộc bắt đạo này, tài sản giáo dân bị tịch thu hết. Họ đạo Nhà Thờ trở nên xơ xác nghèo nàn. Vào lúc này, thầy Phước và thầy Tâm c̣n bị giam tại Huế và bị kêu án tử h́nh. Khi Vua Tự Đức lên ngôi, có lệnh ân xá án tử cho các thầy Phước và thầy Tâm. Nhưng trong tù có nhiều người mới theo đạo, họ buồn v́ quí mến hai thầy nên các thầy t́nh nguyện ở lại với họ.

Năm 1848, đến một thời điểm bắt đầu một cuộc sát hại khác. Cái Nhum thuộc địa hạt của cha Borelle cùng với vài cha bản xứ ẩn náu tại đây ; cha Lượng, cha Minh và cha Thiềng. T́nh cảnh họ đạo thật bi đát : nhà thờ, chủng viện và ḍng tu của các chị MTG cũng bị triệt hạ cùng một lúc. Nhà ông Trùm Thinh và ông Trùm Điền là nơi giáo hữu tụ họp đọc kinh dự lễ. Một thời gian sau bớt đi sự căng thẳng, giáo dân chung sức cất lên một Nhà thờ để làm nơi thờ phượng Thiên Chúa.

Cha Philipphê Phan Văn Minh Tử Đạo : (3.7.1853):

Cha Philipphê Minh bị bắt ở Mặc Bắc, để cứu cha Minh, ông Trùm Lựu t́m cách che dấu, nhưng không thành. V́ thế cha Minh và ông Trùm Lựu đều bị bắt. Cha Minh bị hành quyết tại Vĩnh Long. Ông Trùm Lựu quê quán ở Cái Nhum, năm lên mười tuổi theo cha đến Mặc Bắc. Trái lại, Bếp Nhẫn quê quán ở Cái Nhum mang nhiều công nợ-đi tố cáo cha Minh (đúng ra là tố cáo cha Phêrô Lựu, nhưng v́ cha Lựu được bề trên chỉ định về Ba Giồng, cha Minh đến thay). Sau này ông ăn năn trở lại và sống lương thiện cho đến khi qua đời năm 1875. Ở Cái Nhum, giáo dân nhận được tin cha Philipphê Minh Tử Đạo rất sớm. Nhiều giáo dân tụ họp tại nhà ông thợ Cơ, đến lúc 3 giờ rưỡi chiều chính lúc cha Minh bị hành quyết ; một đám mây khác thường xuất hiện trên trời, ai nấy cho là điềm lạ báo hiệu cha Minh đă bị xử tử. Sau đó người ta đổ xô ra nhận thi hài của ngài, đem về nhà ông Hào Kim. Tại đây người ta khâu lại đầu vào với thi thể và tẩn liệm ; trước sự hiện diện của quư cha Phaolô Lượng, cha Lân và cha Thiềng. Sau đó đưa xác vào nhà thờ cử hành Thánh Lễ và giáo dân tụ họp cầu nguyện. Cha Philipphê Minh làm cha sở Cái Nhum 2 năm, bổn đạo rất quí mến và thương tiếc cha. Do đó khi ngài tử đạo giáo dân và các anh chị em ḍng nữ tu đặt tất cả ḷng tin vào lời cầu bào của cha Philipphê Minh trước mặt Chúa. Sau đó cha Borelle quyết định đem thi hài về mai táng tại Cái Mơn.

Đến năm 1855, cha Borelle lại lo chôn cất ông Anrê Thượng, một người già bị tuyên án lưu đày v́ đạo, từ Huế đi bộ về đến Châu Đốc. Nhưng khi đến Mỹ Tho do quá đuối sức mà qua đời tại đây, mặc dù có thầy thuốc săn sóc chu đáo ; về sau con cháu ông đem thi hài về an táng tại G̣ Thị. Cũng trong thời kỳ này, cha Philipphê Phiên ở Cái Nhum, nhưng đổi về Mỹ Tho và qua đời vào năm 1876 tại Mỹ Tho.

Năm 1859, cha Pernot từ Cầu Nước (Cù Lao Giêng) đến Cái Nhum, v́ ngài vừa thoát khỏi sự lùng bắt. Tuy ở Cái Nhum nhưng ngài không điều hành họ đạo. Cha P.Thành chết năm 1809. Cha P.Tùng chết năm 1863, ngài có người cháu là (Lương Sư Tân). Cha Tùng gốc người Cái Nhum. Đời Đức Cha Miche 1864-1873 .

Cha Colombert : (cha sở từ 1864-1866)

Trong thời gian này, ngài dời nhà thờ và ḍng nữ tu đến khu đất mới hiện nay. Ḍng nữ được cất trong khu đất Nhà Thờ (đất này trước thuộc Rạch Chanh), mới được khai phá cách đây không lâu do đó thú dữ (cọp) thường hay qua lại nơi đây. Có lần một chú cọp đến bắt con chó của cha tại nhà riêng của ngài.

Năm 1867 cha Colombert được cử làm Giám Mục phó cho Đức Cha Miche. Cha Tournier đến thay ngài, nhưng khi được chỉ định làm quản lư địa phận Sài G̣n th́ cha Colson đến đảm trách họ Cái Nhum trong thời gian 3 năm. Sau đó cha Tournier trở lại Cái Nhum và lưu lại cho đến khi qua đời vào ngày 02-7-1906 ; cha Colson về Sài G̣n và qua đời vào ngày 19-7-1913 tại bệnh viện Angier. Họ Cái Nhum và các vùng phụ cận như Cái Bè, Cái Thia, có nhiều chổ xin theo đạo - nhưng ít lâu sau th́ khựng lại. Đó là từ 1868 đến 1870. Cha Tournier chú tâm đến việc phát triển ḍng nữ tu, xây dựng nhà ḍng, nhà thương trong đó có một nhà thờ nhỏ và dần dần xây cất một nhà thờ lớn với sự cộng tác tận t́nh của các giáo dân. Ngài thật là một tấm gương cần mẫn siêng năng làm việc trong khiêm nhường và lặng lẽ. Cha rất quí trọng các vật kỷ niệm năm xưa, chính nhờ vậy nên họ đạo Cái Nhum c̣n giữ được các vật thánh tích có từ xưa lâu hơn các nhà thờ khác. Ngôi nhà ngài ở là do Đức Cha Colombert xây cất trước kia theo kiểu nhà của người Annam, nhà thấp. Cha đă xây cất một tiểu chủng viện. Sau này cha Duqueques và cha Kitter làm giám đốc. Quan hệ giữa lương và giáo thật tốt đẹp. Chính cha Tuornier đă nói lên trong bản phúc tŕnh hằng năm của ngài : “Chẳng có sự rắc rối nào”. Những dịp có Kiệu Ḿnh Thánh Chúa, th́ người dân tỏ ra rất thành kính.

Sau cha Tournier là các cha :

1. Henry HAY (Tài) (1906-1908) ; 2. Ernest HAY (Hay) (1908-1916) ;3. Đôminicô NGUYỄN TRI CƠ (1916-1919) ;4. Phaolô TRẦN CÔNG THẮNG (1919-1939) ;5. Gioan-Kim ĐẶNG PHƯỚC THIÊN (1939-1940);6. GioanBta. LÊ QUANG TRIÊU (1940-1943 ) ; 7. GioanBta. NGUYỄN LINH NHẠN (1944-1948) ; 8. ĐGM Phêrô NGÔ Đ̀NH THỤC (11.5.1945- 20.3.1946) (10 tháng 9 ngày) lần 2 Nhà thờ Cái Nhum thành Nhà Thờ Chánh Ṭa ; 9. Giuse NGUYỄN VĂN BẠCH (1948-1953 ) : Tái thiết Thánh đường hiện nay, lập tháp kỉ niệm Toàn Xá 1951, núi Đức Mẹ , đồi Calvê; 10. Phanxicô Xaviê NGUYỄN VĂN BINH (1953-1954) ; 11. Eusêbiô NGUYỄN VĂN THƠ. Về Cái Nhum 2 lần : Lần 1 (1953-1955), Lần 2 (1956-1958) ; 12. Phêrô PHAN NGỌC ĐỨC, lập đài kính Nữ Vương Ḥa B́nh 14.12.1958 (1958-1960) ; 13. Giacôbê TRẦN VĂN QUYỂN (1960-1961) ; 14. Phaolô NGUYỄN VĂN MỪNG (1961-1964) ;15. Phêrô TRẦN HỮU DƯ (1964-1975) : Lập tháp kỉ niệm Năm Đức Tin, 4 giáo điểm và 7 đài Kính Đức Mẹ ở các xóm giáo;

16. Simon LÂM THÀNH H̉A (10.5.1975 - 7. 12. 2000) :Tu sửa Thánh Đường, xây dựng 2 nhà giáo lư ;

17. Antôn NGUYỄN VĂN LỆ (7. 12. 2000 - ): Tái tu sửa Thánh Đường, Tạo khu vui chơi thiếu nhi, nơi tịnh dưỡng cho người già yếu, phuc vụ nước sạch và xây dựng đời sống đức tin cho giáo dân.

2 / Mùa Gặt Bội Thu :

Di Tích lịch sử của họ đạo :

1 / Lăng mộ Nicola Trần Công Lại : (xem h́nh)

Di Tích lịch sử Triều Vua Minh Mạng “Lăng quan Dinh Trung Trần Công Lại”

Vị trí trước Thánh Đường Ḍng Kitô Vua, bên cạnh quốc lộ 57 ( tỉnh lộ 888) về hướng Bắc. Phần mộ ở giữ về hướng Tây – Bia sơn son do vua Minh Mạng ra chỉ dụ và chịu phí tổn xây dựng lăng tẩm kính quan với một kích thước qui mô.

2 / Lăng song Thân của quan Dinh Trung :

Vị trí phía sau nhà hưu dưỡng Ḍng Kitô Vua, về hứơng Bắc, gần cái cống, quen gọi là “Cầu lăng” là cầu đúc nhỏ gần lăng mă.

Lăng tẩm có hai phần mộ : H́nh con qui là của thân phụ quan. Phần mộ h́nh ngư hóa long là của thân mẫu quan.

3 / Đức Mẹ Ngà : (xem h́nh)

Tượng Đức Mẹ hiện nay được tôn kính trong nhà thờ họ đạo Cái Nhum ; Tượng Đức Mẹ này cao 1,17m, láng bóng như ngà voi, theo kiểu mẫu Tây Ban Nha, c̣n gọi là Đức Mẹ Ngà. Một tượng Đức Mẹ khác cũng giống như vậy do chính ông hay con cháu ông đă đặt tại nhà thờ Sađéc.

4 / Tượng Chúa Giêsu trong mồ : (xem h́nh)

Tượng Chúa Giêsu được chôn trong mộ, tượng lớn như người thường, bằng gỗ rất tốt, nhưng người ta không biết ai cho tượng ảnh này. V́ thế có sự tranh chấp giữa Họ Chợ Quán và Họ Cái Nhum, cho đến hôm lễ Chúa Giêsu một cuộc bắt thăm và Họ Cái Nhum đă giữ được tượng Chúa Giêsu. Vào lúc bắt đạo, người ta dấu tượng ảnh này trong thuyền, rồi cho thuyền chạy ra khơi. Nhưng lần sau này người ta đặt vào trong ḥm rồi đem chôn xuống đất ; đất này của một lương dân tên là Điền, nhưng cha mẹ ông ấy là người Công giáo đang sống tại Huế. Sau này cha Tournier lấy tượng này lên và đặt trong nhà thờ. (Tượng Chúa Giêsu hiện nay đang đặt ở Hội Ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum)

Cơ sở của họ đạo :

1/ Cô nhi viện :

Từ năm 1891 đến năm 1906, đức cha Lefèbre (Ngăi) lập cô nhi viện và chia trách nhiệm cho các nữ tu ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum (xưa gọi là Nhà Phước) để chăm lo cho các em mồ côi và trao thửa ruộng để sản xuất lương thực nuôi sống các em nên gọi là “Đồng mồ côi”, hiện c̣n lưu vết ruộng đồng sau lưng tượng đài “Nữ Vương Ḥa B́nh”.

2 / Nhà thờ hiện thời :

Nhà thờ hiện nay là nhà thờ thứ 5, được linh mục GIUSE NGUYỄN VĂN BẠCH tái thiết năm 1951 theo mẫu cũ đă xây dựng năm 1886, tức là theo kiểu thức kiến trúc và nghệ thuật kiến trúc “ROMAN” với h́nh HOÀNH LAN (TRANSEPT) với kích thước: -Tháp chuông mặt tiền nhà thờ cao 33m, dài 50m, rộng 6m, (gian giữa 7m và 2 gian bên 9m) mỗi bên h́nh HOÀNH LAN (TRANSEPT):4m,50 –tường cao 5m,50 –nóc cao 9m –sức chứa 1050 người- nhà thờ có 3 chuông lớn do các nhà hảo tâm dâng hiến trên một thế kỷ.

Một nhà xứ làm văn pḥng xứ đạo và làm nhà ở cho các chức sắc trong đạo, được xây dựng năm 1919 do linh mục Phaolô TRẦN CÔNGTHẮNG với tài cố vân kiến trúc của linh mục BOISMERY,Bề trên ḍng KITÔ VUA, hoa văn trên tầng nhà xứ do sư huynh Laurent HIỂN ḍng KITÔ VUA vẽ năm 1938, theo lối kiến trúc PHÁP,nóc nhà h́nh quả trám (quen gọi là nóc nhà bánh ít) –Nhà có 2 tầng –kích thước:14m x 18m – liền kế nhà xứ là nhà bếp.

3 / Khu nhà Giáo lư :

Hai khu nhà đa dụng làm nhà khách và pḥng dạy giaó lư,xây dựng năm 1994, kích thước 8m x 20m(bán kiên cố)

4 / Nhà chơi :

Một nhà tiền chế làm nơi vui chơi cho thiếu nhi, xây dựng năm 2002, kích thước 10m x 20m.

-Có sân sinh hoạt vui chơi 100m2 (100 mét vuông )

-Có nơi để xe.

5 / Nhà tịnh dưỡng :

Một nhà dưỡng lăo được xây dựng năm 2003 (bán kiên cố), kích thước 7m,50 x 8m,50 –mỗi khu nhà đều có pḥng vệ sinh tự hoại.

-Diện tích tổng thể khu nhà thờ: 8050m2 (thửa số 1372)

-cơ sở vật chất vừa kể cũng đáp ứng đầy đử cho việc XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ,VĂN MINH NƠI THỜ TỰ.

-Giao thông được thông suốt nối liền Quốc Lộ 57 vào cổng chính nhà thờ là tuyến lộ nhựa. Các tuyến đường huyết mạch của hai ấp văn hoá Long Vinh và Long Huê đều xây dựng Bêtông, tao điều kiện đi lại thuận lợi cho việc sinh hoạt tín ngưỡng của giáo dân.

3. Nếp Sống Giáo Dân :

Ở đây công nghiệp chưa phát triển, giáo dân sống nhờ mảnh vườn của ḿnh để trồng dừa, cam, chuối, trầu … cũng có người trồng khoai, mía. Tuy vậy, cũng có một số người làm ruộng. Phương tiện đi lại ở đây dùng ghe để đi dạo chơi, buôn bán trao đổi hàng hóa. Họ cũng đi đến Ba Xuyên, Cần Thơ, Trà Lồng và Nam Vang. Cách đây chừng 50 năm có một số người thiểu số “Mọi” có đạo đến cư ngụ trên đất của nhà thờ. Ở đây c̣n có một số người từ Huế vào sống tại đây, họ có một nề nếp sinh hoạt riêng rẻ không giống người địa phương.

Lê-ô Nguyễn Văn Quí _ ghi lại

Phụ lục :

1. LINH MỤC QUÊ QUÁN CÁI NHUM :

1/ LÔRENSÔ LÂN ;

2/ CHA TÙNG ( Chết 1863 ) ;

3/ TÔMA NGUYỄN VI SÂM (Năm sinh 1850 - Chịu chức 1880 chết 1929) ;

4/ SIMON NGUYỄN CÔNG CHÁNH (1861- 1896 - ?)

5/ PHÊRÔ NGUYỄN VĂN VÀNG ;

6/ PHANXICÔ XAVIÊ TRẦN VĂN VÀNG (1878) ;

7/ PHÊRÔ NGUYỄN TRUNG NGÔN (1885 - 1914) ;

8/ PHILIPPHÊ NGUYỄN TRUNG QUANG(?).

9/ PHAOLÔ NGUYỄN TRUNG DIÊN (1912 –1939-)

10/ TAĐÊÔ NGUYỄN VĂN THIỀNG (1914 –1941).

11/ PHÊRÔ TRẦN PHÚC AN (1921 - 1950 - ?).

12/ GIACÔBÊ TÔ ĐỨC BẠCH (1923 - 1953 - ?).

13/ RAPHAE NGUYỄN VĂN DIỆP (1926 - LM: 8.121954- GM:15.8.1975 - ).

14/ GIOAN Bta DƯƠNG VĂN OAI (NS : (1935 - 1962 -

15/ HERMÉNÉGILDE NGUYỄN VĂN HIỆU (1906 – 1965 -)

16/ GIOAN KIM KHẨU TR̀ CÔNG VỊ ( ? - 14.5.1968 - )

17/ CARÔLÔ NGUYỄN VĂN BÁ (1943 - 13.3.1976

18/ GIOAN Bta LÊ Đ̀NH BẠCH (1958 - 30.6.1994 -

19/ PHANXICÔ XAVIÊ LÊ QUANG DŨNG (1963- 18.6.1996-)

20/ PHÊRÔ NGUYỄN VĂN ĐẸP (18.11.1961-18.6.1996 -)

21/ PHAOLÔ LÊ VĂN NHẪN (17.11.1966 - 27.10.1999 - )

22 / GioanB. Nguyễn Thành Bảo.(1976 - 03.7. 2004)

2. LINH MỤC D̉NG KITÔ VUA:

1. MICAE NGUYỄN VĂN LỰC (NS: 1905- Chịu Chức : 1953 - ? )

2. ÉPHREM NGUYỄN VĂN LIỄU (1915 – 1963 - ? )

3. HERMÉNÉGILDE NGUYỄN VĂN HIỆU (1906 - 1965 - ?)

4. HENRI NGUYỄN VĂN PHÁN (1905 - 1965 - ?)

5. BENARD TRƯƠNG VĨNH THIỆN (4.1.1941 - 13.3.1976 - )

6. COLOMBAN NGUYỄN CÔNG NGỰ (1918 – 1992 - 2002 )

 

..................

<Họ đạo Cái Nhum
Tư liệu của Website GP Vĩnh Long >

 

Linh mục đương nhiệm
-
Ant.Nguyễn Văn Lệ
- Jos. Trần Văn Huynh

Diện tích khu vực nhà thờ 8. 050m2 (thửa số 1372)

  • Vị Trí Địa Lư.

Xưa: Cái Nhum thuộc An Lương thôn (đến năm 1890 đổi thành Hưng Long), Tân Minh tổng (1808), Tân Minh huyện (1823), Long Hồ dinh (1732), tức Vĩnh Thanh trấn (1808).

Hiện nay: Cái Nhum thuộc ấp Long Huê, xă Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

  • Địa Danh.

V́ họ đạo ở gần con rạch có nhiều cây nhum, nên gọi là Cái Nhum.

Họ đạo c̣n có biệt danh là Cái Nhum Rau Má (để phân biệt với Cái Nhum Măng Thít, thuộc tỉnh Vĩnh Long), v́ ngày xưa người dân ở đây thường dùng rau má mọc sẵn để trị bệnh nóng gan...

Về phía Giáo quyền:

1679 - 1844: Thuộc địa phận Đàng Trong.
1844 - 1924: Thuộc địa phận Tây Đàng Trong.
Họ đạo Cái Nhum được vinh hạnh v́ có cha sở Lefèbvre (Ngăi) làm Giám mục tiên khởi giáo phận Tây Đàng Trong. Nhà thờ Cái Nhum lúc bấy giờ là nhà thờ Chánh Ṭa.
1924 - 1938: Thuộc địa phận Sài G̣n.
Từ 1938 đến nay: Thuộc giáo phận Vĩnh Long.

Giai Đoạn H́nh Thành

Họ Cái Nhum được thiết lập vào năm 1731. Đây là một trong những Họ đạo thâm niên nhất ở miền nam Việt Nam.

Lúc bấy giờ có ít người Công giáo di trú, đến đây t́m đất đai sinh sống. Họ t́m thấy có nhiều nhà bỏ hoang mà những người trước đă ra đi bỏ lại, họ liền vào ở trọ nơi đó. Như thế là giai đoạn đầu của Họ đạo được thành h́nh.

Khi được biết có một số người Công giáo tập họp sinh sống trong xă này, Linh mục Giuse Garcia ḍng Phanxicô (1687-1761) thường thăm viếng, như chủ chăn ưu ái luôn bám sát vào đoàn chiên. Họ đạo ngày càng phát triển nhanh chóng, và không bao lâu, ngôi Thánh đường được mọc lên với tương lai đầy hứa hẹn.

Tiếp sau Cha Garcia là Cha Emmanuel De Valdehermoso đang truyền đạo ở vùng sông Cửu Long giữa những năm 1742 đến 1747. Có thể Cha đă lần lượt ở tại Cái Nhum, Cái Mơn, Thủ Ngữ.

Cha François Hermosa ở thường trực tại Cái Nhum những tháng cuối năm 1749 cho đến tháng 6.1750, đúng vào thời kỳ bách hại Kitô hữu bùng lên, và Cha Hermosa bị câu lưu tại đây rồi được đưa về Sài G̣n, sau cùng Cha bị trục xuất.

Số tín đồ lúc bấy giờ là vào khoảng 600 người, một con số rất to đối với thời ấy. Có thể nói toàn dân trong làng đều là người Công giáo.

Từ năm 1765-1772 có nhiều linh mục cũng thuộc ḍng Phanxicô đến truyền giáo tại Cái Nhum như các Cha: P. Julien, Ferdinanel Olmedilla, Didace De Jumilla.

Giai Đoạn Xây Dựng và Phát Triển

Năm 1782, thời khởi nghĩa Tây Sơn, lúc Đức Giám Mục Bá Đa Lộc đang lánh nạn ở Phú Quốc cùng với các chủng sinh, th́ linh mục Ferdinanel Olmedilla ở lại và bị bắt tại Cái Nhum, đưa về Sài G̣n, bị án tử h́nh tại Chợ Quán cùng với một thầy giảng đi theo ngài.

Linh mục Camille de Thersa, bề trên của các thừa sai ḍng Phanxicô có lẽ đă từ trần tại Cái Nhum năm 1801, vào lúc Vua Gia Long lên ngôi.

1. MỘT SỰ KIỆN LỊCH SỬ ĐÍCH THỰC.

Dưới triều đại Gia Long, có một người Công giáo tên Nicolas Trần Công Lại, nguyên quán ở tỉnh Thanh Hóa vào Nam và cư ngụ tại Cái Nhum. Ông theo giúp một người tai mắt tên là Ba Đệ.

Khi Nguyễn Ánh chiêu mộ binh sĩ, ông theo pḥ chúa Nguyễn đánh Tây Sơn. Ông được vinh thăng chức "Dinh Trung" rồi đến chức "Đô Thống Chế"

Khi Nguyễn Ánh lên Ngôi hiệu là Gia Long, vua Gia Long ủy thác cho ông Lại chỉ huy hải thuyền hoàng gia đến phương xa t́m lương thực để đảm bảo lương thực cho nhà vua và quân đội. Khi ra khơi chẳng may gặp cơn băo táp, thuyền của ông bị xiêu bạt giữa biển khơi, sợ c̣n bị trôi dạt đến Ấn Độ.

Giữa lúc nguy cơ, hết phương kêu cứu với người phàm, ông ngước mắt lên trời, đặt hết niềm tin vào Đức Trinh Nữ Maria. Ông sốt sắng nguyện cầu và nói lên lời tuyên hứa: "Nếu con thoát tai nạn rùng rợn này, con sẽ xây cất một nguyện đường dâng hiến cho Đức Mẹ và sẽ dâng một cây nến với kích thước bằng cột bườm của chiếc thuyền này".

Đức Mẹ thông cảm nỗi lo âu của đứa con, cho ông thoát khỏi cảnh kinh hoàng và về đến Cái Nhum. Đến nơi, ông thực hiện ngay những điều đă đoan hứa, v́ xác tín rằng nếu không có bàn tay Từ Mẫu can thiệp, ông sẽ vĩnh viễn giă biệt trần đời. Ông Dinh Trung cất một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ, nền móng ngay vị trí nguyện đường cũ của ḍng các sư huynh Kitô Vua tại Cái Nhum và làm cây nến đúng theo lời hứa.

Năm Giáp Thân 1824, ông Nicolas Trần Công Lại được Chúa thương gọi về, để lại cho hậu thế gương thanh liêm, đạo đức, tân tụy phục vụ và ḷng tin vào Thiên Chúa và Mẹ Maria. Thi hài của ông được chôn cất tại Cái Nhum, trong phạm vi đất của Ḍng Kitô Vua, ấp Long Vinh, xă Long Thới, huyyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

2. TƯỢNG ĐỨC MẸ NGÀ.

Bên trong ngôi nhà nguyện được xây cất, quan Dinh Trung đă đặt tượng Đức Mẹ. Tượng vẫn c̣n trong nhà thờ họ Cái Nhum bây giờ. Tượng cao 1m17, trắng và bóng tựa như ngà, nên được gọi là tượng "Đức Mẹ Ngà", chạm trổ rất đẹp theo kiểu Tây Ban Nha. Một tượng Đức Mẹ khác cùng kích thước được đặt tại Sa Đéc do quan Dinh Trung hay do con cháu của ông th́ không rơ. Hai tượng Đức Mẹ lịch sử này được dân chúng sùng kính đặc biệt, họ tin tưởng được nhiều ơn lạ Đức Mẹ ban cho.

3. TƯỢNG CHÚA GIÊSU HẠ XÁC.

Cũng vào thời ấy, họ đạo c̣n có một tượng Chúa hạ xác hiếm có và hiện giờ c̣n được sùng kính tại Cái Nhum.

Tượng lớn như người thường, bằng gỗ rất tốt, nhưng người ta không biết ai cho tượng ảnh này. V́ thế có sự tranh chấp giữa Họ đạo Chợ Quán và Họ đạo Cái Nhum, cho nên phải bắt thăm và Họ đạo Cái Nhum đă được giữ tượng Chúa Giêsu.

Trong những lúc bắt đạo, người ta dấu tượng này trong thuyền, rồi cho thuyền chạy ra khơi. Về sau, người ta đặt vào trong ḥm rồi đem chôn xuống đất. Đến thời Cha Tournier, tượng được lấy lên và đặt trong nhà thờ. Tượng Chúa Giêsu hiện nay đang đặt ở Hội Ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum.

4. MỘT CƠN SÓNG GIÓ KINH KHỦNG.

Dưới triều Minh Mạng, chiếu theo lệnh nhà vua, Nhà thờ dâng hiến cho Đức Mẹ của quan Dinh Trung và Nữ tu viện, nói chung là các nơi thờ tự ở nam bộ Việt Nam đều bị triệt hạ.

Năm 1832, linh mục Odorico bị bắt tại Cái Nhum.

Năm 1833, ngài phải đổ máu đào v́ đạo thánh, theo chiếu chỉ của vua. Nhưng nhờ mẫu hậu, bạo chúa hoăn án tử, ra án lưu đày đến Ai Lao. Nơi lưu đày, vị thừa sai Odorico vẫn hăng sai hoạt động theo sứ mệnh của ḿnh. Ngài trút hơi thở cuối cùng ngày 23 tháng 5 năm 1834.

5. ĐÓN TIẾP CÁC VỊ THỪA SAI PARIS.

Năm 1833, Linh Mục Marchand đă trú ẩn nhiều ngày tại Cái Nhum. Khi nhận thấy không được an toàn, Ngài phải sang Cái Mơn.

Năm 1836, Linh Mục Lefèbre (sau lên chức Giám Mục) được Đức Cha Cuénot (Giám mục phụ tá) chỉ định về ở Cái Nhum phụ trách Tiểu Chủng Viện và Nữ Tu Viện.

Qua những lúc đạo thánh bị bắt bớ, họ Cái Nhum thường xuyên có Linh Mục: hoặc người ngoại quốc, hoặc người bản xứ phục vụ; và như kể trên, họ Cái Nhum lúc bấy giờ là trung tâm của một giáo hạt quan trọng, và cũng là trụ sở gần như thường xuyên của một số giáo sĩ thừa sai người Châu Âu.

Năm 1840, cha Lefèbre được tấn phong Giám Mục do tay Đức Cha Cuénot và làm phụ tá cho ngài. H́nh như Đức Cha Lefèbre vẫn tiếp tục ở tại Cái Nhum.

6. GIÔNG TỐ LẠI NỔI LÊN !

Nên biết, vị trí cũ của Nhà Thờ, Nhà Phước và Chủng Viện lúc bấy giờ ở gần Rạch Chanh. Khi Đức Cha c̣n ở tại Cái Nhum, th́ một trong những thầy giảng của Đức Cha, tên là Phước rất đạo đức, nhiệt thành việc tông đồ, nhưng tính hay bất cẩn, vô t́nh thầy làm phật ḷng người bên lương do lời nói quá gắt gỏng của thầy. Do đó mà thầy bị tố giác, bị bắt đưa đến quan và bị tra tấn. Thầy Phước kiên tâm chấp nhận tất cả, nhưng có điều đáng tiếc là có một người trong những kẻ giúp thầy đă tố giác có sự hiện diện của Đức Cha trong tỉnh. Cuộc truy bắt tiến hành ngay, các quan đến Cái Nhum ngày 29 tháng 10 năm 1844.

Ông Phêrô Dinh cũng có tên là Yến, tuổi độ 30. Ông Dinh làm Biện Họ và Câu Đồng Nhi. Ông có 3 con, và vợ của ông là một người đàn bà rất đạo đức. Ông tự nhận là chủ nhà chứa chấp Đức Cha và bà giúp việc tên Tham Lương (có lẽ là để đánh lạc hướng các quan). Lúc đó, Đức Cha lại trú ẩn trong nhà một người lương ở Cái Gà.

Ông Dinh bị bắt và bị thẩm vấn. Mỗi lần tra khảo, dù dùng đủ cách dă man, lư h́nh cũng không nhận được một sự tiết lộ nào. Để trả lời những câu hỏi, ông Dinh chỉ dùng những lời nguyện tắt kêu cầu ơn trên.

Sau cùng, Đức Giám Mục Lefèbre bị bắt và bị điệu về Vĩnh Long. Ông Phêrô Dinh phải ở lại Cái Nhum, v́ lẽ ông bị suy nhượt sau những trận đ̣n tra tấn. Ông nằm bất động, mặt mày bầm tím và sưng phù, xương bầy ra... Khi ấy, có cha Lượng từ Cái Mơn đến ban Của Ăn Đàng cho ông. Ít hôm sau, ông Dinh tắt hơi thở trong Chúa. Hài cốt của ông được kính giữ tại Ḍng Kín Sài G̣n, và đă được Cha Antôn Lệ và phái đoàn quới chức họ Cái Nhum rước từ Ḍng Kín Sài G̣n về kính trong nhà thờ Cái Nhum ngày 26.09.2006.

Ngày 27 tháng 9 năm 1857, Đức Thánh Cha Piô IX đă tôn phong ông lên bật đáng kính.

Chắc chắn, nhờ sự hy sinh và lời cầu bàu của vị Đáng Kính mà con gái của ông đă dâng ḿnh cho Chúa trong ḍng kín, tên Ḍng của chị là Saint Pierre de Saint Thérèse. Chị đă qua đời cách thánh thiện tại Ḍng Kín ngày 26 tháng 5 năm 1925, hưởng thọ 83 tuổi sau 34 năm sống đời tu Ḍng.

7. MỘT TÂM HỒN ĐẠO ĐỨC - GƯƠNG HY SINH.

Ông Luy Ng̣ sinh trưởng tại Cái Nhum. Thân sinh của ông tên là Luôn. Khi c̣n là thanh niên, ông được tuyển mộ vào đạo binh Vua Gia Long, nhờ sự anh dũng đặc biệt, ông được thăng cấp dần dần đến đại úy. Trở về làng, ông là chủ một gia đ́nh 12 con và ông là người Công Giáo rất tốt, ông ưa uống rượu, nhưng thời gian sau ông đă bỏ được.

Là Hương cả trong làng và là kẻ lớn trong họ đạo nên ông Luy Ng̣ thường hay săn sóc bệnh nhân, chôn xác kẻ chết, nêu gương cho các Quới Chức khác. Có lần ông bị cáo đă chứa dấu những vị thừa sai ngoại quốc, cũng may ông thoát nguy được, nhờ ảnh hưởng của bạn bè người lương đang làm việc ở tỉnh lỵ. Một lần khác ông bị tố cáo, trùng hợp với việc bắt thầy Phước, quan liền cho lính đến Cái Nhum truy nă bắt cho được Đức Cha Lefèbre.

Can đảm trước hậu hoạn vô thường, chính ông Luy Ng̣ đă bảo dấu kín Đức Cha và các D́ Phước. Khi hay tin bọn lính đến bao vây, ông kịp thời đối phó với hiểm họa, nhờ sự mách bảo của bạn thân là ông Cai Tổng Đường. Nhưng sau cùng ông Luy Ng̣ cũng bị bắt cùng với Đức Cha. Nhiều giáo dân cũng bị bắt trong đợt này, trong số đó có ông Cai Tổng Lợi. Ông Lợi rất nhát gan nên đă chối đạo liền sau đó. Ông Ng̣ hết sức đau ḷng và làm hết cách để hoán cải anh bạn xấu này, nhưng vô hiệu.

Đến Huế được 12 hôm th́ ông Luy Ng̣ kiệt sức nên thở hơi cuối cùng trong chốn lao tù v́ Đạo Thánh Chúa, ngày 24 tháng 2 năm 1845, trước sự hiện diện của Đức Giám Mục. Ông Luy Ng̣ hưởng thọ 72 tuổi. Thi hài ông được an táng tại nghĩa trang Phủ Cam, họ đạo gần Huế. Đến sau, hài cốt của ông được đem về kính tại Cái Nhum.

Ngày 27 tháng 9 năm 1857, Đức Giáo Hoàng Piô IX vinh phong ông Luy Ng̣ lên bật đáng kính.

8. MÁU ĐÀO TUÔN ĐỔ.

Năm 1848, một lần nữa Giáo Hội bị bách hại. Họ Cái Nhum vẫn c̣n là địa sở chánh. Linh mục Borelle trốn sang trú ẩn tại đây. Cùng với cha Borelle, có vài linh mục bản quốc năng lui tới thăm Họ đạo. Trong số đó có cha Philipphê Minh cũng ở Cái Nhum một thời gian.

Nhà thờ bị triệt hạ. Chủng viện và nữ tu viện cũng bị phá hủy. Giáo dân thường tập họp tại nhà ông trùm Điểm để làm bổn phận đạo đức của ḿnh. Cũng may t́nh trạng u buồn này không kéo dài, và giáo dân thừa cơ hội ân xá để tái thiết Thánh đường.

Năm 1853, Cha Minh bị bắt tại Mặc Bắc. Ông trùm Lựu, quê tại Cái Nhum, khi lên mười tuổi đă theo cha làm ăn sinh sống tại Ḅ Ót, và sau đó ông về cư ngụ tại Mặc Bắc. Ông trùm Lựu tận tâm t́m cách cứu thoát Cha Minh. Trái lại, bếp Nhẫn trước kia cũng sinh trưởng tại Cái Nhum, nhưng đă bỏ xứ v́ những lư do đáng trách như trốn nợ, cờ bạc... Chính bếp Nhẫn đă tố giác Cha Philipphê Minh. Đến sau, bếp Nhẫn trở về sống tại Cái Nhum, rất hối hận về việc phản bội này, và làm lại cuộc đời, sống gương mẫu cho đến chết, khoảng năm 1875.

Được tin Cha Philipphê bị bắt th́ giáo dân thường xuyên theo dơi sự việc, nhất là họ nhất tâm trong việc cầu nguyện.

Khi giáo dân họ Cái Nhum tập họp cầu nguyện tại nhà ông thợ Cơ, th́ vào khoảng 3g30 chiều, họ nh́n thấy trên trời có một đám mây với h́nh thức lạ lùng. Tất cả mọi người có mặt đều kêu lên: "Đây là điềm báo Cha Minh đă bị tử h́nh!". Và sự việc đă xảy ra đúng như vậy. Cha đă bị hành quyết đúng vào giờ ấy.

Không một chút nghi ngờ và tŕ hoăn, giáo dân đă lo sắp xếp đi t́m xác Cha Minh. Họ chuẩn bị xong th́ hay tin có ghe chở thi hài Cha về đến. Ba Linh mục bổn quốc có mặt ngay lúc đó là Cha Phaolô Lượng, Cha Laurensô Lân, Cha Gioan Thiền. Ba Cha tiếp nhận thi hài và đặt trong nhà ông Hương Hào Kim. Nơi đây giáo dân khâu đầu cho liền với xác của vị tử đạo, đoạn mặc lễ phục và đem đặt trong nhà thờ để dâng lễ. Những người hiện diện nghĩ rằng không cần cầu nguyện cho linh hồn cha Philipphê, v́ họ minh định rằng hồn Cha đă lên thẳng Thiên Đàng.

9. TẠI SAO HỌ CÁI MƠN ĐƯỢC DIỄM PHÚC ?

Trước kia, Cha Philipphê Minh đă ở tại Cái Nhum suốt hai năm trọn. Cách Cha sinh hoạt, ai ai cũng cảm t́nh mến phục. Họ đạo Cái Nhum ước mong giữ thi hài của Cha Philipphê Minh lại, nhưng Linh Mục Borelle quyết định đem báu vật này về Cái Mơn, v́ lẽ trên xóm Giồng, có một người bên lương tên là Cử Giáng nghịch đạo, có thể anh ta xúi giục tố cáo bổn đạo đă chuộc lại đầu vị tử đạo trái với lệnh truyền của vua.

10. NHỮNG CHUYỂN BIẾN.

Cha cố Colombert (Mỹ) làm chánh sở Cái Nhum, từ năm 1864 đến năm 1866, chính cha Colombert đă có công dời Nhà thờ và nhà phước về chỗ đang ở bây giờ.

Năm 1867, Cha Tournier (Cha Thu) thay thế Cha Colombert vừa được tuyển chọn lên chức Giám Mục phụ tá cho Đức Cha Michel. Cha Tournier ở măi tại Cái Nhum cho đến khi qua đời ngày 02 tháng 07 năm 1906.

Cố Tournier chú tâm phát triển nhà Phước. Cha cũng khởi công xây cất Nhà thờ họ. Công tŕnh kiến thiết do chính Cha Tournier với sự công tác của ít người bổn đạo thiện chí, do Ngài luyện tập thành thợ. Nhà thờ được xây cất trên nền cũ. Sự kiến thiết vừa ít tốn kém, vừa chắc chắn và được hoàn thành sau 10 năm xây dựng.

Năm 1897, chính Đức Cha Despierre thân hành đến làm phép trọng thể, Nhà thờ được dâng hiến kính Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Nhà thờ với kiểu xây cất đồ sộ, theo lối xây dựng của thời trung cổ. Tháp chuông th́ tương tự như tháp của các toà lâu đài ngày xưa. Bên trong nhờ có ṿm cao mà Nhà thờ xem ra cao hơn thực sự. Cửa sổ và cửa ṿng cung th́ theo kiểu Roma, có nhiều bàn thờ nhỏ dâng kính các thánh được đặt hai bên trong Nhà thờ.

Cha Tournier luôn luôn nêu gương lao động cần mẫn, khiêm tốn, kín đáo và âm thầm. Ngài quư trọng những kỷ vật, và nhờ Cha mà Họ đạo Cái Nhum c̣n bảo tồn được nhiều di vật cổ kính hơn các Họ đạo khác. Ngôi nhà Cha ở cũng là nhà mà Đức Cha Colombert đă ở trước. Nhà này được cất theo kiểu bản xứ, rất thấp nên Cha cơi thêm một tầng lầu.

11. D̉NG THẦY GIẢNG.

Trong lúc Cha Tournier cai quản họ đạo, th́ vào khoảng năm 1870, Đức Giám Mục dự định xây một tiểu chủng viện tại Cái Nhum, v́ địa phận có vài sở đất ở đấy. Linh Mục Duquesnay và kế tiếp là Linh Mục Ritter đảm trách.

Cha Ritter thấy cần tiếp tục tổ chức tông đồ giáo dân của Cha Pornot sáng khởi. Chính Cha Ritter đă biến đổi tổ chức nhỏ bé này trở nên ḍng Thầy Giảng và hiện giờ là ḍng Kitô Vua.

Tiểu chủng viện Cái Nhum biến thành ḍng Thầy Giảng, một cơ hội thuận tiện cho mầm non ơn Thiên Triệu tại đây. Mặc dù ơn gọi làm Thầy Giảng để tham gia trực tiếp vào việc truyền bá Phúc Âm là đáng được khích lệ và rất đáng quư về mặt đức tin. Đáng tiếc, giới thanh niên không mấy hâm mộ.

Sau khi Cha Tournier qua đời (02.07.1906). Hội các Thầy Giảng mà Cha Ernest Hay ? làm bề trên đă được chuyển từ An Đức (Mỹ Tho) về Cái Nhum, và Cha Henri Hay ? là bào đệ của Cha Ernest Hay ?, đảm trách họ đạo cho đến năm 1914. Khi cha Henri Hay ? được chỉ định về Trà Vinh th́ cha Đôminicô Cơ, Linh Mục bản xứ, thay thế để phụ trách họ đạo Cái Nhum.

Ngày 28.10.1919, v́ Cha Cơ đau yếu phải về nhà hưu dưỡng tại Chí Ḥa (Sài G̣n) nên Đức Cha Quipton đă chỉ định Cha Phaolô Thắng đến phục vụ Họ đạo Cái Nhum, và đồng thời cũng làm bề trên nhà phước.

Từ đó trở đi, Họ đạo Cái Nhum lúc nào cũng có chủ chăn ở cùng và hướng dẫn (xem danh sách các vị chủ chăn).

Giai Đoạn Hiện Nay

Sau năm 1975, cha Simon Lâm Thành Ḥa đă được thuyên chuyển đến Cái Nhum. Ngài đă sống với giáo dân trong sự khó khăn về kinh tế lẫn việc thờ tự. Ngài đă lèo lái con thuyền họ đạo vượt qua mọi khó khăn.

Đất nước dần dần đổi mới, đời sống tôn giáo của người dân được dễ dàng. Tuy nhiên, giáo dân lại đứng trước một thử thách đức tin khác. Đó là sự cám dỗ của vật chất với xu hướng sống hưởng thụ, gây trở ngại không ít đến đời sống đức tin.

Rồi Cha Simon Ḥa phải đau ốm suốt 7 năm, nên năm 2000 Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu đă gởi đến cho họ đạo một cha sở khác là cha Antôn Nguyễn Văn Lệ, để củng cố đời sống đức tin cho mọi người. Nhờ đó, giáo dân Cái Nhum có thể giữ vững đức tin trước những cám dỗ của vật chất và sức lôi cuốn của lối sống hưởng thụ.

Ưu tư hiện nay của cha Antôn là làm thế nào để đời sống đạo đức của họ đạo đi vào nề nếp, nhất là đời sống hôn nhân và việc tổ chức dạy giáo lư, sinh hoạt cho thiếu nhi và giới trẻ. Bên cạnh đó, đời sống vật chất của giáo dân c̣n nhiều khó khăn, ngài cũng đă lo cho nhiều gia đ́nh nghèo có cái ăn, cái mặc và trẻ em được đến trường...

ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI.

Đoàn thể hóa Thiếu nhi.
- Lên danh sách tất cả thiếu nhi trong họ đạo từ 6t - 16t,
- Chia đội có Huynh trưởng phụ trách - có chỗ riêng trong nhà thờ,
- Chúa Nhật tất cả thiếu nhi đều có mặt (thiếu có người đến gọi),
- Sinh hoạt vui chơi: Chúa Nhật cuối tháng,

Học Giáo lư: các Chúa Nhật khác,
- Tới 8t: Rước lễ,
12t: Thêm Sức,
15t: Bao đồng,
16t: Dự bị Hôn nhân - giải phóng.

Những người trễ nải - rối.
- Lên danh sách,
- Phân công các hội đoàn thăm viếng, động viên,
- Giải quyết cho hết "bỏ Phục Sinh" và hết rối.

Lập nhóm họi hỏi Lời Chúa.

Cố gắng lập các nhóm đọc - học và chia sẻ Lời Chúa. Trước là trong các hội đoàn, v́ xác tín là không có cách nào thay đổi được con người và tạo ra những người nhiệt thành, ngoài cách tiếp xúc với Lời Chúa.

Xây thêm pḥng học Giáo lư.

PHỤ LỤC

I. CỔ VẬT.

  1. Tượng Chúa hạ xác.
  2. Tượng Đức Mẹ Ngà.
  3. Tượng Thánh Phanxicô Assisi.
  4. Những Thánh Tích của hai hánh Philipphê Minh và Giuse Lựu.
  5. Di hài 2 vị Đáng Kính Luy Ng̣ và Phêrô Dinh.

1. Di tích lịch sử của họ đạo.
a. Lăng mộ ông Nicolas Trần Công Lại.

Di Tích lịch sử Triều Vua Minh Mạng "Lăng quan Dinh Trung Trần Công Lại"

Vị trí: Trước nhà thờ Ḍng Kitô Vua, bên cạnh quốc lộ 57. Có bia sơn son do vua Minh Mạng ra chỉ dụ và chịu phí tổn xây dựng lăng tẩm kính quan với một kích thước qui mô.

b. Lăng song Thân của quan Dinh Trung.

Vị trí: Phía sau nhà hưu dưỡng Ḍng Kitô Vua, gần cái cống, quen gọi là "Cầu lăng" là cầu đúc nhỏ gần lăng mộ.

Lăng tẩm gồm hai phần mộ: H́nh con qui là của thân phụ quan và h́nh ngư hóa long là của thân mẫu quan.

2. Cơ sở của họ đạo.

a. Cô nhi viện (cũ).

Từ năm 1891 đến năm 1906, đức cha Lefèbre (Ngăi) lập cô nhi viện và phân trách nhiệm cho các nữ tu ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum (xưa gọi là Nhà Phước) để chăm lo cho các em mồ côi và trao thửa ruộng để sản xuất lương thực nuôi sống các em nên gọi là "Đồng mồ côi", hiện người ta vẫn quen gọi tên nầy. Đó là khu vực sau lưng tượng đài "Nữ Vương Ḥa B́nh" (quen gọi là Đức Mẹ Lớn).

b. Nhà thờ hiện thời.

Nhà thờ hiện nay là nhà thờ thứ 5, được cha sở Giuse Nguyễn Văn Bạch tái thiết năm 1951, theo mẫu cũ mà Cha Tournier đă xây dựng năm 1886, tức là theo kiểu thức kiến trúc và nghệ thuật kiến trúc "Roman" với h́nh Hoành Lan (Transept).

  1. Tháp chuông mặt tiền nhà thờ cao 33m.
  2. Dài 50m, Rộng 16m (gian giữa 7m và 2 gian bên 9m)
  3. Mỗi bên h́nh Hoành Lan (Transept) rộng 4m50
  4. Tường cao 5m50
  5. Nóc cao 9m
  6. Sức chứa 1050 người
  7. 3 chuông lớn được dâng hiến trên một thế kỷ.

Nhà xứ được xây dựng năm 1919 do cha sở Phaolô Trần Công Thắng với tài cố vấn kiến trúc của linh mục Boismery, Bề trên ḍng Kitô Vua, hoa văn trên trần nhà xứ là do sư huynh Laurent Hiển ḍng Kitô Vua vẽ năm 1938, theo lối kiến trúc Pháp, nóc nhà h́nh quả trám (quen gọi là nóc nhà bánh ít) - Nhà có 2 tầng - kích thước: 14m x 18m - liền kế nhà xứ là nhà bếp.

c. Khu nhà Giáo lư.

Hai khu nhà đa dụng làm nhà khách và pḥng dạy giáo lư, xây dựng năm 1994, kích thước 8m x 20m (bán kiên cố), do Cha Simon Lâm Thành Ḥa.

d. Nhà chơi.

Một nhà tiền chế vừa là nơi vui chơi sinh hoạt, vừa làm nơi để xe, xây dựng năm 2002, kích thước 10m x 20m, do Cha Antôn Nguyễn Văn Lệ.

e. Nhà hưu dưỡng.

Một nhà dưỡng lăo được xây dựng năm 2003 (bán kiên cố), kích thước 7,5m x 8,5m, do Cha Antôn Nguyễn Văn Lệ.

II. CÁC HỘI ĐOÀN.
1. Hội Lêgiô: 20 người.
2. Hội Các Bà Mẹ: 40 người.
3. Hội Têrêsa: 50 người.
4. Ca Đoàn:
Thứ 2: Giáo Viên
Thứ 3: Thiếu Nhi
Thứ 4: Quới Chức
Thứ 5: Ca Đoàn Lớn (hát các lễ trọng của Họ đạo)
Thứ 6: Giáo Lư Viên
Thứ 7: Các Bà Mẹ

5. Các Giới:
Giáo Lư Viên: 39 người.
Huynh Trưởng: 25 người.
Thiếu Nhi học Giáo lư: 457 em.

6. Họ đạo có:
- Hội Ḍng MTG: nhiều hoạt động từ thiện;
có nhà trẻ, pḥng phát thuốc...
- Ḍng Kitô Vua.

7. Cơ sở vật chất và các hoạt động khác:
Hệ thống nước sạch cho trên 700 hộ sử dụng; nước uống cho không;
Hàng tháng phát gạo cho trên 20 hộ;
Hàng năm lo sách, tập, học phí cho các em.
5 pḥng học Giáo lư với: 9 lớp giáo lư thường xuyên từ 6 đến 16 tuổi. Khóa Dự bị Hôn nhân mỗi đầu năm.

8. Tám đài Đức Mẹ ở các xóm giáo.

9. Đất thuộc nhà thờ: Hiện c̣n 8 thửa đă có sổ đỏ, gồm diện tích tổng cộng: 40.665,1 m2 (có 4.000 m2 vườn lôm chôm ở ấp Quân An, và 4.847 m2 vườn măng mới trồng).

 

...............................

HỌ ĐẠO CÁI NHUM VÀ D̉NG PHAN SINH

M.A. Trần Phổ, O.F.M

1. Địa danh

Họ đạo có tên là Cái Nhum, v́ ở đây có nhiều cây nhum, một loại cây giống như cây cau có nhiều gai nhọn. Họ đạo c̣n có tên là Cái Nhum Rau Má, để phân biệt với Cái Nhum Măng Thít thuộc tỉnh Vĩnh Long. Gọi là Rau Má v́ ngày xưa người dân ở đây thường dùng rau má mọc sẵn để trị bịnh nóng gan.

Đạo: Từ 1938 thuộc giáo phận Vĩnh Long.

Đời: Thuộc xă Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre, trên quốc lộ 57 nối liền Cái Mơn, Chợ Lách.

2. Thành lập họ đạo (Viết theo Lịch Sử Truyền Giáo Phan Sinh)

Năm 1722 cha José Garcia, một trong số các thừa sai Phan Sinh Tây Ban Nha đến từ Ma-ni-la, Phi Luật Tân, đang truyền giáo ở miền Trung, được cử xuống miền Nam. Cha là vị thừa sai đầu tiên đến Sài G̣n. Cha cùng với một nhóm lưu dân Công Giáo lập ra Họ Chợ Quán. Phần đất truyền giáo được chia cho cha từ Lái Thiêu đến Hà Tiên, ta có thể chia phần đất này thành bảy khu vực. Ở khu vực thứ năm có họ Cái Nhum.

Năm 1731 ở đây đă có giáo dân đến ở. Một kư sự của các thừa sai Phan Sinh Tây Ban Nha viết năm 1751, ước lượng ở Cái Nhum đă có 600 giáo dân. Ta cũng muốn biết số giáo dân khá đông này từ đâu đến. Họ đă được cha José Garcia qui tụ lại đây. Hẳn là họ từ miền Trung ra đi v́ đói nghèo, v́ bị bắt đạo, họ được cha José Garcia hướng dẫn tới vùng đất mới này lập nghiệp. Họ cũng có thể là các lương dân, cảm cái đức hiền lành nhân ái của vị thừa sai, nên xin theo đạo. Hẳn là các nhóm lưu dân khác cũng được cha José Garcia hướng dẫn, theo dơi và qui tụ lại thành họ đạo như họ đạo Cái Nhum.

3. Các cha sở Phan Sinh

Năm 1742 có cha Emmanuel Valdehermosa đến giúp cha José Garcia được sáu năm. Cha này coi họ Cái Nhum, nhưng v́ sức khoẻ mong manh, nên đă qua đời năm 1747.

Năm 1750 chúa Vơ Vương Nguyễn Phúc Khoát hạ chỉ cấm đạo ở Đàng Trong. Ở Cái Nhum cha sở là cha Francisco Hermosa bị bắt. Tất cả các thừa sai bị trục xuất sang Ma-cao. 200 nhà thờ, trong số có nhà thờ Cái Nhum bị triệt hạ.

Sau năm 1750, các thừa sai Phan Sinh đă len lơi trở lại miền truyền giáo qua ngă Hà Tiên. Cha Julian del Pilar đă đến được Cái Nhum. Năm 1754 cha José Garcia trở lại, nhưng chỉ hoạt động ở Hà Tiên, cha không vào sâu trong nội địa.

Năm 1765, hai cha Diego Jumilla và Francisco Hermosa trở lại âm thầm hoạt động ở miền Cái Nhum với con số 3000 giáo dân.

Thời phân tranh Trịnh Nguyễn – Tây Sơn, cha Diego Jumilla mất và an táng tại nhà thờ Chợ Quán. Cha Fernando Olmedilla bị quân Tây Sơn bắt ở Cái Nhum – họ đạo ngài đang làm cha sở – bị giải về Sài G̣n, định giải ra Qui Nhơn. Sau một tháng bị mang gông, cha bị giết chết trên bờ sông Sài G̣n đêm 22/7/1782, cùng với một thầy giảng của cha. Thi hài của cha được giáo dân đem về mai táng tại nhà thờ Chợ Quán.

Nói chung, từ sau năm 1750, trừ cha José Garcia chỉ hoạt động ở vùng Hà Tiên và qua đời, an táng trong nhà thờ rộng và đẹp cha xây ở đây; c̣n các thừa sai Tây Ban Nha khác, vào Đàng Trong, đều đă có hoạt động ở Cái Nhum, v́ Cái Nhum là giáo điểm quan trọng ở miền Tây Nam Bộ. Có thể kể một hai vị như Francisco de Saint Michel, Camilo Llorca, đă qua đời và an táng tại Cái Nhum.

Năm 1813, Ḍng Phan Sinh Tây Ban Nha ở Ma-ni-la đă rút hết các thừa sai về, không thể tiếp tục truyền giáo ở Đàng Trong được nữa. Cũng năm này, vị thừa sai Phan Sinh Tây Ban Nha cuối cùng là Juan Montaner rời khỏi Đàng Trong.

Các họ đạo của thừa sai Tây Ban Nha được Thánh Bộ Truyền Bá Đức Tin dành lại cho các thừa sai Phan Sinh thuộc Thánh Bộ. Trong số các vị này, xin kể các vị có liên hệ đặc biệt với họ Cái Nhum.

Sách Monographie de la Chrétienté de Cai-Nhum (Lịch Sử Họ Đạo Cái Nhum), tác giả Henri Hay, MEP, viết: “Năm 1825, hai linh mục Phan-xi-cô mất tại Cái Nhum”. Tiếc rằng tên hai vị linh mục không được ghi lại. Dù sao ta cũng được biết một vị là cha Clément Marie a Caprauna, bề trên các thừa sai Phan Sinh ở Cái Nhum. Mộ hai vị này cũng chẳng biết nơi đâu.

Một vị được nói đến nhiều là cha Francesco del Finochietto, người Ư, tên Việt là Cố Phan. Cha đă coi các họ Băi Xan, Cái Nhum, Ba Giồng, Thủ Ngữ; và đă truyền giáo ở Đàng Trong 24 năm. Ngài mất năm 1822. Theo lời các giáo dân lăo thành ở Thủ Ngữ kể, ngài mất do hít phải thuốc độc do chính ngài bào chế để giết cọp. Cọp ở miệt ấy rất nhiều. Cha đă giết được 20 con. Mộ cha ngày nay c̣n ở Thủ Ngữ.

Năm 1825, trong số con cái thánh Phan-xi-cô được gọi đến gieo hạt giống Tin Mừng ở Việt Nam, vị cuối cùng là cha Odorico da Collodi, người Ư, tên Việt là Cố Phương. Cha là nạn nhân của cuộc bắt đạo đời vua Minh Mạng, sau 11 năm hoạt động tông đồ giữa 6000 giáo dân ở miền Cái Nhum. Cha bị bắt hai lần: Lần thứ nhứt được tha, lần thứ hai bị bắt ở Cái Nhum; trước bị lên án tử h́nh, sau cải án đày lên Lao Bảo. Đây là một trại giam tù bị án lưu đày, toạ lạc nơi rừng thiêng nước độc, thuộc tỉnh Quảng Trị, giáp nước Lào. Cha bị giam ở đây hơn bốn tháng rưỡi, trải qua biết bao khổ cực đói khát. Sau đó, cha bị sốt rét trầm trọng, ngày 23/5/1834 cha đă thở hơi cuối cùng trong ṿng tay người bạn tù thân thương là cha Jaccard. Cha Jaccard sau bị giải về Quảng Trị, bị xử chém và đă được phong thánh.

Cha De la Motte, vị thừa sai Pháp, đồng thời với cha, cũng chết rũ tù như cha, đă được phong chân phước. Đọc các sách viết về cha Odorico da Collodi, ta thấy ngài có đủ các nhân đức, đủ điều kiện để được phong thánh, nhưng chưa ai đứng ra xin cho ngài.

Thời gian truyền giáo Phan Sinh này, các thừa sai đă tổ chức bốn Huynh Đệ Đoàn Ḍng Ba ở Đàng Trong; trong số đó, có một đoàn ở Cái Nhum.

Ông Trịnh Văn Trơn, trong tập sách nhỏ “Lịch Sử Họ Cái Nhum”, viết rằng ở Cái Nhum có ba kỷ vật rất quí, đă gần hai thế kỷ, được lưu lại: Đó là tượng Đức Mẹ bằng ngà, tượng Hạ Xác Chúa Giê-su và tượng thánh Phan-xi-cô Năm Dấu.

Tượng thánh Phan-xi-cô có thể nói được rất cổ xưa, bằng gỗ, không rơ được khắc tại chỗ hay được các thừa sai đưa từ Tây Phương sang. Những ǵ thánh nhân cầm trên hai tay đă bị thời gian làm rơi đâu mất. Theo lời ông già bà cả kể lại, xưa kia tay trái ngài cầm cây thánh giá ngang tầm ngực, tay mặt buông xuôi cầm cái roi đánh tội. Tượng đă làm nhiều phép lạ.

Sau 103 năm truyền giáo, với con số 12 thừa sai đă từng hoạt động ở Cái Nhum, lưu niệm Phan Sinh chỉ c̣n một tượng thánh Phan-xi-cô bằng gỗ; nhưng h́nh ảnh người thừa sai Phan Sinh vẫn phảng phất măi trong tưởng nhớ của người giáo dân Cái Nhum.

Nguồn : http://www.caimon.org/


H́nh ảnh nhà thờ Giáo xứ Cái Nhum

 

 

Credit of Paulusvux

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nhà nguyện Ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum

 

Nhà nguyện Ḍng Mến Thánh Giá Cái Nhum

 

 

 

 

Nhà nguyện Ḍng Kitô Cái Nhum

 

 

 

 

 

 

 

H́nh ảnh bổ sung xin gởi về
giaoxugiaohovietnam@Yahoo.com 

[Trở về đầu trang ]